Giảm lãi suất, thúc đẩy kinh tế

Hàng loạt ngân hàng công bố giảm lãi suất cho vay. Chi phí vốn hạ được kỳ vọng giúp doanh nghiệp bớt áp lực. Tuy nhiên, như vậy đã đủ để doanh nghiệp mạnh dạn vay thêm và mở rộng kinh doanh?

Nhiều ngân hàng thương mại đã công bố các chương trình tín dụng ưu đãi. Ảnh: NAM ANH
Nhiều ngân hàng thương mại đã công bố các chương trình tín dụng ưu đãi. Ảnh: NAM ANH

Sau yêu cầu giảm lãi suất của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước (NHNN), nhiều ngân hàng thương mại đã công bố các chương trình tín dụng ưu đãi. Mức giảm phổ biến được đưa ra là 1,5 - 2%/năm, cùng với đó là cam kết tiết giảm chi phí và chia sẻ lợi nhuận để hỗ trợ người vay.

Ngân hàng giảm lãi, doanh nghiệp chờ vốn rẻ

Ông Lê Ngọc Lâm, Chủ tịch HĐQT BIDV cho biết, ngân hàng sẽ triển khai ngay gói tín dụng khoảng 100.000 tỷ đồng dành cho sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên. Lãi suất cho vay giảm 1,5 - 2% xuống còn 6 - 7%/năm tùy kỳ hạn.

Theo ông Lâm, BIDV sẽ tiết giảm chi phí và giảm lãi suất huy động để có cơ sở hạ lãi suất cho vay. Ngân hàng dự kiến giảm khoảng 500 tỷ đồng thu nhập khi triển khai gói tín dụng này.

Trong khi đó, ông Từ Tiến Phát, Tổng Giám đốc ACB cho biết, ngân hàng áp dụng biểu lãi suất cho vay mới từ ngày 20/10, đồng thời tiếp tục chương trình cho vay doanh nghiệp với mức giảm 1,5 - 2%/năm. Riêng chương trình giảm lãi suất 1%/năm, ACB đã giải ngân khoảng 5.000 tỷ đồng. Cùng với BIDV và ACB, Agribank, Vietcombank, VietinBank, MB… cũng đồng loạt giảm lãi suất.

Đợt điều chỉnh diễn ra sau cuộc họp về điều hành chính sách tiền tệ ngày 16/10, khi Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu giảm lãi suất cho vay đối với sản xuất, kinh doanh và lĩnh vực ưu tiên. Đến ngày 18/10, NHNN ban hành Văn bản số 9608/NHNN-CSTT, yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm ít nhất 0,5 %/năm lãi suất tiền gửi niêm yết kỳ hạn từ sáu tháng trở lên, đồng thời giảm lãi suất cho vay.

Một doanh nghiệp duy trì dư nợ 100 tỷ đồng, nếu được giảm lãi suất 2% trên toàn bộ khoản vay trong một năm, sẽ bớt hai tỷ đồng tiền lãi. Lợi ích càng rõ với doanh nghiệp đã có đơn hàng nhưng phải ứng vốn trước để sản xuất, trong khi tiền bán hàng chưa thu về. Áp lực trong thời gian chờ thanh toán cũng nhẹ hơn. Doanh nghiệp có thêm khả năng duy trì sản xuất, nhận hợp đồng mới và giữ việc làm cho người lao động.

Theo bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Thống kê (Bộ Tài chính), qua điều tra, lãi suất cho vay cao là một trong ba khó khăn chính của doanh nghiệp. Tuy nhiên, từ thông báo giảm lãi suất đến khoản tiền người vay thật sự tiết kiệm được vẫn còn những điều kiện cụ thể. Mỗi chương trình có nhóm khách hàng, mục đích vay và thời gian áp dụng riêng. Mức giảm “tới 2%” không có nghĩa mọi khách hàng đều được hưởng mức ưu đãi cao nhất.

Đáng chú ý, tại cuộc họp ngày 19/10, Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn lưu ý, cần xem xét giảm lãi suất cho cả khoản vay hiện hữu và khoản vay mới, tập trung vào sản xuất, kinh doanh và lĩnh vực ưu tiên, phù hợp với khả năng tài chính của từng ngân hàng. Việc hỗ trợ cả khoản vay hiện hữu sẽ giúp doanh nghiệp giảm áp lực trả lãi ngay cả khi chưa cần vay thêm.

Mức hỗ trợ thực tế còn phụ thuộc thời gian áp dụng. Chẳng hạn, với dư nợ không đổi 100 tỷ đồng, giảm lãi suất 2%/năm trong ba tháng giúp doanh nghiệp tiết kiệm khoảng 500 triệu đồng. Ngân hàng cần công bố rõ thời hạn ưu đãi, kỳ điều chỉnh tiếp theo và lãi suất sau ưu đãi để doanh nghiệp chủ động cân đối tài chính.

Vốn rẻ cần đi cùng đầu ra

Thực tế, giảm được tiền lãi là hỗ trợ thiết thực, nhưng quyết định vay để mở rộng sản xuất còn phụ thuộc khả năng bán hàng. Một doanh nghiệp đã có hợp đồng, cần thêm nguyên liệu có thể sớm sử dụng khoản vay mới. Ngược lại, nếu hàng tồn kho chưa tiêu thụ được, việc vay thêm để tăng sản lượng có thể khiến áp lực trả nợ lớn hơn, dù lãi suất thấp hơn trước.

Theo báo cáo kinh tế - xã hội, GDP chín tháng năm 2026 tăng 9,01% so cùng kỳ. Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,8%, trong khi chỉ số tồn kho cuối tháng 9 tăng 11,9% so cùng thời điểm năm trước.

Hoạt động kinh tế tiếp tục tăng trưởng, song cơ hội kinh doanh không giống nhau ở mọi ngành, mọi doanh nghiệp. Nơi có thị trường thuận lợi cần vốn để đáp ứng đơn hàng; nơi còn khó khăn về tiêu thụ lại ưu tiên thu hồi công nợ, giảm tồn kho và giữ dòng tiền. Không phải doanh nghiệp nào được giảm lãi suất cũng lập tức vay thêm hoặc đầu tư nhà máy.

Ngay cả khi chưa mở rộng sản xuất, việc bớt tiền lãi vẫn giúp doanh nghiệp có điều kiện duy trì hoạt động. Khoản tiền giữ lại để trả lương, thanh toán công nợ hoặc trả bớt nợ gốc có thể giúp tình hình tài chính ổn định hơn. Đây cũng là nền tảng để doanh nghiệp tính đến đầu tư khi thị trường thuận lợi, thay vì phải liên tục xoay xở với nghĩa vụ trả nợ.

Theo ông Đào Minh Tú, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, ngân hàng và doanh nghiệp có quan hệ gắn bó, hỗ trợ doanh nghiệp vượt khó cũng là tạo nền tảng cho hoạt động ngân hàng. Khi doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả, khả năng trả nợ được cải thiện, ngân hàng cũng giảm bớt rủi ro.

Dù vậy, giảm lãi vay đi cùng một yêu cầu khác là bảo đảm nguồn vốn cho vay. Ông Nguyễn Thanh Tùng, Chủ tịch HĐQT Vietcombank, nêu khó khăn trong việc giảm lãi suất đầu vào nhưng vẫn bảo đảm lợi ích của người gửi tiền. Đây là vấn đề các ngân hàng phải cân đối để vừa hỗ trợ khách hàng vay, vừa duy trì khả năng huy động vốn.

Chi phí huy động cũng không thể giảm ngay trên toàn bộ nguồn vốn khi ngân hàng điều chỉnh biểu lãi suất mới. Các khoản tiền gửi trước đó vẫn được trả lãi theo thỏa thuận. Để hạ lãi vay trong thời gian này, ngân hàng phải cắt giảm chi phí hoạt động và dành một phần thu nhập hỗ trợ khách hàng.

Tại cuộc họp ngày 19/10, các ngân hàng thống nhất hỗ trợ khách hàng nhưng không hạ chuẩn điều kiện cấp tín dụng. Với doanh nghiệp cần vốn, yêu cầu về hồ sơ, phương án kinh doanh và nguồn trả nợ vẫn phải được đáp ứng.

Điều có thể cải thiện là quy trình xét duyệt, thời gian xử lý và cách hướng dẫn khách hàng hoàn thiện hồ sơ. Lãi suất thấp sẽ khó phát huy tác dụng nếu doanh nghiệp không tiếp cận được khoản vay lúc cần. Ngược lại, doanh nghiệp cũng cần minh bạch tài chính để ngân hàng có cơ sở thẩm định và quyết định cho vay.

Ngoài tín dụng, việc tháo gỡ thủ tục dự án, đẩy nhanh thanh toán và triển khai các công trình đầu tư công có thể tạo thêm đơn hàng cho doanh nghiệp. Khi có việc làm, có nguồn thu và biết tương đối rõ thời điểm nhận tiền, doanh nghiệp sẽ thuận lợi hơn trong tính toán vay vốn, còn ngân hàng có thêm căn cứ đánh giá khả năng trả nợ.

Về lâu dài, ông Đào Minh Tú cho rằng, cần phối hợp các chính sách để đưa mặt bằng lãi suất về mức phù hợp khả năng sinh lời của doanh nghiệp; đồng thời phát triển thị trường vốn nhằm giảm áp lực lên tín dụng ngân hàng.

Có thể bạn quan tâm

Từ đầu tháng 10, các phiên giảm điểm chiếm ưu thế áp đảo.

VN-Index lùi về vùng chọn lọc

Thị trường chứng khoán liên tục chịu nhiều sức ép khiến chỉ số VN-Index liên tục giảm điểm. Dù vậy, mức định giá của thị trường đã lùi về vùng hấp dẫn, mở ra cơ hội chọn lọc dài hạn cho nhà đầu tư.

Kết thúc phiên 14/10, VN-Index giảm 14,55 điểm, xuống 1.704,87 điểm. Ảnh: NAM ANH

Lãi suất níu chân dòng tiền chứng khoán

Thị trường chứng khoán tiếp tục giảm sau khi Việt Nam chính thức được FTSE Russell nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp. Trong khi dòng vốn từ nâng hạng cần thời gian để giải ngân, lãi suất tiền gửi hấp dẫn và chi phí vay cao đang tác động trực tiếp đến quyết định đầu tư.

Những doanh nghiệp vay ngoại tệ sẽ chịu áp lực trả nợ một khi tỷ giá tăng. Ảnh: NAM ANH

Doanh nghiệp ứng phó với tỷ giá

Dù đối diện với những biến động phức tạp của kinh tế thế giới cùng xu hướng siết chặt chính sách tiền tệ tại nhiều quốc gia, tỷ giá USD/VND trong nước vẫn giữ vững đà ổn định nhờ sự điều hành chủ động, linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Niềm tin của nhà đầu tư được củng cố bằng chuyển biến thực tế, thay vì chỉ dựa vào vài phiên thanh khoản tăng mạnh. Ảnh: NAM ANH

Phía sau dòng tiền “giải cứu” giá cổ phiếu

Những pha “giải cứu” giá cổ phiếu sau chuỗi ngày giảm mạnh có thể mở lối ra cho người bán và tạo kỳ vọng cho người mua. Nhưng để cổ phiếu phục hồi bền vững, doanh nghiệp còn phải giải quyết những vấn đề về dòng tiền, lợi nhuận và niềm tin thị trường.

Nhiều ngân hàng thông qua chủ trương thành lập ngân hàng con 100% vốn tại VIFC. Ảnh: NAM ANH

Cuộc đua mới tại Trung tâm Tài chính quốc tế

Kế hoạch thành lập ngân hàng con tại Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam của MSB và nhiều ngân hàng khác đang mở ra khả năng xuất hiện thêm các ngân hàng mới. Xu hướng này đi đến đâu còn phụ thuộc điều kiện cấp phép, năng lực tài chính và khả năng thu hút khách hàng của từng ngân hàng.

Giá trị trái phiếu phát hành của ngành bất động sản tăng đáng kể trong quý II. Ảnh: NAM ANH

Mở rộng dư địa vốn từ trái phiếu doanh nghiệp

Thị trường trái phiếu doanh nghiệp là kênh huy động vốn quan trọng của nền kinh tế. Bước vào chu kỳ phát triển mới, thị trường cần tăng minh bạch, nâng chất lượng xếp hạng tín nhiệm, mở rộng nhà đầu tư và kiểm soát rủi ro để phát triển bền vững.

Lãi suất ưu đãi vay mua nhà tại 17 ngân hàng hiện dao động từ 7-13,2%/năm. Ảnh: NAM HẢI

Ngân hàng cũng “mắc kẹt” với lãi vay

Lãi cho vay tăng chưa đồng nghĩa ngân hàng hưởng chênh lệch lớn hơn. Lợi nhuận cao cũng chưa đủ để kết luận còn nhiều dư địa giảm lãi suất. Khả năng chia sẻ chi phí với người vay phụ thuộc vào giá vốn huy động, cơ cấu nguồn thu và rủi ro tín dụng của từng ngân hàng.

Nhà đầu tư nên đa dạng hóa danh mục, ưu tiên doanh nghiệp có triển vọng tăng trưởng bền vững. Ảnh: NAM ANH

Nâng hạng chứng khoán và bài toán mua theo kỳ vọng

Nâng hạng thị trường chứng khoán mở thêm cơ hội thu hút vốn quốc tế, nhưng không bảo đảm lợi nhuận cho từng khoản đầu tư. Với nhà đầu tư cá nhân, điều cần làm rõ không chỉ là quỹ nước ngoài mua cổ phiếu nào, mà còn là giá mua và cơ sở để tiếp tục nắm giữ.

Robot hàn chíp điện tử được các doanh nghiệp quan tâm. Ảnh: NAM ANH

Bài toán vốn của doanh nghiệp điện tử

Muốn có đơn hàng thì phải đầu tư dây chuyền. Muốn đầu tư dây chuyền lại phải có đơn hàng. Vòng luẩn quẩn ấy đang giữ nhiều doanh nghiệp điện tử Việt đứng ngoài chuỗi cung ứng, trong khi cuộc đua bán dẫn đòi hỏi nguồn vốn ngày càng lớn.

Theo Thông tư 49, Nhà nước chia sẻ rủi ro, đồng thời huy động nguồn lực xã hội cho nghiên cứu khoa học. Ảnh: NAM ANH

Cơ chế tài chính mới mở đường cho công nghệ chiến lược

Thông tư 49/2026/TT-BKHCN mở ra cách tiếp cận mới trong cơ chế tài chính cho khoa học, chuyển từ quản lý đầu vào sang quản lý theo kết quả. Cơ chế này tăng quyền tự chủ, giảm gánh nặng thủ tục và tạo dư địa đầu tư cho các công nghệ chiến lược có độ rủi ro cao.

Ở nhiều vùng sâu, vùng xa, người dân vẫn quen với các giao dịch bằng tiền mặt.

Ngoại lệ của tiền mặt

Cho phép doanh nghiệp trả lương bằng tiền mặt tại vùng khó khăn là một sự điều chỉnh cần thiết khi hạ tầng ngân hàng chưa theo kịp đời sống. Tuy nhiên, ngoại lệ này chỉ thật sự hợp lý nếu vừa bảo vệ được quyền lợi của người lao động, vừa giúp doanh nghiệp chứng minh chi phí hợp pháp, đồng thời không tạo thêm khoảng trống để kê khống, trốn thuế.

Cá ngừ đóng hộp và các sản phẩm đông lạnh tiêu chuẩn chịu nhiều áp lực cạnh tranh. Ảnh: NAM ANH

Xuất khẩu chật vật giữ đơn hàng

Xuất khẩu tiếp tục lập kỷ lục, nhưng doanh nghiệp đang đứng trước sức ép ngày càng lớn từ chính sách thuế mới của Mỹ. Bài toán giữ đơn hàng và duy trì sức cạnh tranh ngày càng khó khăn.

Câu chuyện nâng hạng thị trường tiếp tục là chất xúc tác trung hạn quan trọng. Ảnh: NGUYỆT ANH

Thị trường giằng co, cơ hội vẫn hiện diện

Thị trường chứng khoán đang bước vào giai đoạn giằng co khi thanh khoản suy yếu và chi phí vốn tiếp tục gây sức ép. Dù vậy, định giá hấp dẫn, tăng trưởng lợi nhuận doanh nghiệp và câu chuyện nâng hạng vẫn được xem là những động lực đáng chú ý cho giai đoạn tới.

Thị trường vàng cần tiến thêm một bước từ truy vết giao dịch sang truy xuất sản phẩm.

Thị trường vàng cần sự cân bằng bền vững

Sau nhiều năm, khoảng cách giá vàng trong nước và thế giới đã thu hẹp về mức dưới 5 triệu đồng/lượng. Tuy nhiên, chưa thể chỉ dựa vào mức chênh lệch thu hẹp để kết luận thị trường đã hoàn toàn lành mạnh. Một trạng thái thị trường cân bằng bền vững còn là vận hành sát hơn với giá trị thật và giảm bớt tác động lên các cân đối lớn của nền kinh tế.

HDBank gia nhập nhóm ngân hàng quy mô tài sản hơn 1 triệu tỷ đồng

HDBank gia nhập nhóm ngân hàng quy mô tài sản hơn 1 triệu tỷ đồng

Vượt mốc 1 triệu tỷ đồng tổng tài sản, duy trì hiệu quả sinh lời thuộc nhóm dẫn đầu và liên tiếp được các tổ chức tài chính quốc tế ghi nhận, HDBank đang cho thấy bước chuyển rõ nét về chất lượng tăng trưởng. Mới đây, ngân hàng được Vietnam Report xếp hạng dẫn đầu Top 50 công ty đại chúng uy tín và hiệu quả năm 2026 (VIX50).

Thị trường cổ phiếu giúp doanh nghiệp gia tăng đệm vốn tự có và nâng cao khả năng chống chịu trước các biến động tài chính. Ảnh: NAM ANH

Giảm áp lực tín dụng ngân hàng

Tốc độ tăng trưởng tín dụng vượt xa huy động tiền gửi đang tạo ra áp lực thanh khoản lớn cho hệ thống ngân hàng. Thực tế này buộc nền kinh tế phải chuyển dịch sang cấu trúc tài chính đa tầng, phát triển thị trường trái phiếu, cổ phiếu và các kênh đầu tư xanh nhằm giảm tải cho tín dụng ngắn hạn và khơi thông nguồn vốn dài hạn bền vững.

Việc nâng hạng lên thị trường chứng khoán mới nổi là môi trường thuận lợi cho cả đầu tư dài hạn lẫn giao dịch ngắn hạn. Ảnh: NAM ANH

Chứng khoán đem cơ hội cho tích lũy

Diễn biến thận trọng cùng sự phân hóa sâu sắc của VN-Index thời gian qua đang phản ánh rõ tâm lý phòng thủ của giới đầu tư. Các chuyên gia nhận định thị trường chứng khoán hiện tại đã lùi về vùng định giá hấp dẫn, mở ra cơ hội đầu tư trong dài hạn.

Khả năng tiếp cận nguồn vốn mới của nhóm doanh nghiệp bất động sản sẽ tiếp tục gặp nhiều thách thức. Ảnh: NGUYỆT ANH

Bài kiểm tra của doanh nghiệp bất động sản

Khi nguồn vốn không còn rẻ, doanh nghiệp buộc phải chấp nhận chi phí tài chính cao hơn để đổi lấy khả năng huy động vốn. Điều đó cũng đồng nghĩa chỉ doanh nghiệp có dòng tiền đủ mạnh và dự án hiệu quả mới có thể “sống khỏe”.

Không gian Thế giới kim cương tại các trung tâm thương mại lớn ở Thành phố Hồ Chí Minh.

“Vùng trũng” quản lý tài sản có giá trị

Kim cương có giá trị hàng trăm triệu đến vài tỷ đồng, thậm chí được xem như một kênh tích trữ, nhưng vẫn được giao dịch trong một thị trường thiếu tiêu chuẩn thống nhất, truy xuất nguồn gốc và cơ chế bảo vệ người mua.

Với lực lượng lao động trẻ, Việt Nam có sức hút đáng kể đối với các nhà đầu tư. Ảnh: NAM ANH

Giữ lợi thế thu hút FDI bằng môi trường đầu tư

Làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng vẫn mở ra cơ hội cho Việt Nam. Tuy nhiên, để duy trì sức hút với các nhà đầu tư quốc tế, Việt Nam cần chuyển từ cạnh tranh bằng ưu đãi sang cạnh tranh bằng chất lượng môi trường đầu tư.

Doanh nghiệp bất động sản đang phải cạnh tranh quyết liệt hơn để thu hút vốn. Ảnh: NAM ANH

Dòng vốn triệu USD đổi “khẩu vị”

Thị trường mua bán sáp nhập (M&A) bất động sản đang bước sang một chu kỳ thận trọng hơn. Nhà đầu tư yêu cầu dự án phải chứng minh được pháp lý, tiến độ, hiệu quả khai thác và dòng tiền.

Việc nâng trần lên 40% sẽ giúp các ngân hàng có thêm dư địa cho vay trung, dài hạn. Ảnh: NGUYỆT ANH

Hướng đi của dòng tiền mới được “mở van”

Việc nâng trần vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn được đánh giá sẽ mở thêm không gian tín dụng, với hơn 1 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cũng đặt ra lo ngại về hướng đi của lượng vốn mới này.

Người trẻ mua chứng chỉ quỹ

Công ty chứng khoán (CTCK) SSI vừa công bố việc tích hợp các quỹ mở do Dragon Capital Việt Nam (DCVFM) quản lý lên hệ thống giao dịch SSI iBoard. Điều này đồng nghĩa nhà đầu tư (NĐT) có tài khoản của SSI ngoài việc theo dõi các chứng chỉ quỹ (CCQ) của SSI quản lý còn theo dõi được thêm CCQ của DCVFM.