Đừng xem nước sạch là “của trời cho”!

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp, tài nguyên nước đối mặt với nhiều thách thức lớn. Vậy chúng ta cần làm gì để bảo vệ an ninh nguồn nước? Ông Nguyễn Minh Khuyến, Phó Cục trưởng Cục Quản lý Tài nguyên nước, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đã có những chia sẻ đầy trăn trở với Nhân Dân cuối tuần.
Ông Nguyễn Minh Khuyến, Phó Cục trưởng Cục Quản lý Tài nguyên nước, Bộ Nông nghiệp và Môi trường
Ông Nguyễn Minh Khuyến, Phó Cục trưởng Cục Quản lý Tài nguyên nước, Bộ Nông nghiệp và Môi trường

- Thưa ông, tài nguyên nước đang chịu nhiều tác động tiêu cực do biến đổi khí hậu, tình trạng khai thác lãng phí, ô nhiễm do sản xuất và sinh hoạt, cũng như ảnh hưởng từ các dự án thủy điện, chuyển dòng. Ông có thể đánh giá khái quát về hiện trạng tài nguyên nước của nước ta hiện nay?

- Trước hết, nguồn nước của Việt Nam chủ yếu phụ thuộc vào nguồn nước từ bên ngoài, với lượng phân bố không đều theo không gian và thời gian. Tổng lượng nước trung bình hằng năm trên phạm vi toàn quốc vào khoảng 935,9 tỷ m3/năm. Trong đó: nước mặt khoảng 844,4 tỷ m3/năm, nước dưới đất khoảng 91,5 tỷ m3/năm. Đặc biệt, lượng nước từ bên ngoài chảy vào Việt Nam chiếm khoảng 504,4 tỷ m3 tương đương 60% tổng nguồn nước.

Bên cạnh đó mùa cạn kéo dài từ 7-9 tháng với lượng nước chỉ chiếm khoảng 28% tổng dòng chảy hằng năm, gây ra nhiều khó khăn trong việc bảo đảm nguồn nước ổn định cho sinh hoạt, sản xuất và phát triển kinh tế.

Trong vòng 50 năm qua, nhu cầu nước đã tăng gấp ba lần do sự gia tăng dân số, phát triển nông nghiệp, công nghiệp, đô thị hóa. Dự báo đến năm 2030, nhu cầu sử dụng nước cho các ngành khoảng 122,47 tỷ m3/năm, đến năm 2050 khoảng 131,7 tỷ m3/năm.

Cùng đó, mâu thuẫn trong khai thác, sử dụng nước gia tăng. Theo đánh giá của các tổ chức quốc tế, mức bảo đảm an ninh nguồn nước ở Việt Nam hiện nay chỉ đạt 2/5 (trong khi đó ở Indonesia đạt mức 3/5, Hàn Quốc và Australia đạt 4/5, là mức cao nhất thế giới năm 2020). An ninh nguồn nước chưa được quan tâm đúng mức. Nguồn tài nguyên giá trị này không được định giá về mặt kinh tế, vì vẫn được xem là “của trời cho”!

Đầu tư và tài chính ngành nước, thời gian qua, tuy được quan tâm nhưng vẫn đang thiếu so nhu cầu; bố trí nguồn lực còn chưa tương xứng và mất cân đối giữa các ngành. Đặc biệt, đầu tư kinh phí cho các hoạt động điều tra cơ bản, kiểm kê, đánh giá tài nguyên nước, các hoạt động bảo vệ tài nguyên nước, phục hồi nguồn nước, phòng, chống suy thoái, cạn kiệt tài nguyên nước, đầu tư xây dựng công trình hồ chứa, tích trữ nước... chưa theo kịp đòi hỏi của thực tế.

- Đánh giá của ông về vai trò của an ninh nguồn nước?

- An ninh nguồn nước là vấn đề có liên hệ mật thiết đến nhiều khía cạnh xã hội, từ nhân quyền (quyền được bảo đảm các nhu cầu tối thiểu để duy trì cuộc sống và sự thịnh vượng của con người), sản xuất lương thực-thực phẩm, bảo vệ môi trường sinh thái cho đến ổn định chính trị-xã hội. Do vậy, bảo đảm an ninh nguồn nước đã trở thành vấn đề toàn cầu, là một loại hình an ninh phi truyền thống, có tác động đến ổn định, phát triển bền vững của nhân loại và mỗi quốc gia.

An ninh nguồn nước có vị trí ưu tiên cao nhất trong năm ưu tiên để phát triển bền vững, được thảo luận tại nhiều diễn đàn trên thế giới như Hội nghị về nước của Liên Hợp quốc (1997), Hội nghị thượng đỉnh về môi trường tại Nam Phi (2002)... Cựu Tổng Thư ký Liên hợp quốc Ban Ki Moon đã khẳng định (năm 2013): “Nước là cốt lõi hạnh phúc của nhân loại và hành tinh. Chúng ta cần nước cho sức khỏe, cho an ninh lương thực và cho phát triển kinh tế. Nước nắm giữ chìa khóa phát triển bền vững”.

Ở Việt Nam, Đồng bằng sông Cửu Long là “vựa lúa” truyền thống, nhưng cũng đang phải đối mặt với tình trạng xâm nhập mặn và thiếu nước ngọt do biến đổi khí hậu, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh lương thực quốc gia. Trước những thách thức về tài nguyên nước, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 36-KL/TW ngày 23/6/2022 về bảo đảm an ninh nguồn nước và an toàn đập, hồ chứa nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Những thay đổi về tư duy, cách tiếp cận và phương thức quản trị mới tại Luật Tài nguyên nước 2023 cũng nhằm hướng tới mục tiêu bảo đảm an ninh nguồn nước.

An ninh nguồn nước là trách nhiệm chung của mỗi người. Ảnh do họa sỹ Phan Duy Thanh tạo từ AI.
An ninh nguồn nước là trách nhiệm chung của mỗi người.
Ảnh do họa sỹ Phan Duy Thanh tạo từ AI.

- Tình trạng môi trường nước bị ô nhiễm đang là vấn đề “nóng” ở rất nhiều địa phương trong cả nước. Những tác nhân chính đang gây ô nhiễm nguồn nước là gì, thưa ông?

- Hầu hết nước thải sinh hoạt, nước thải đô thị chưa được thu gom, xử lý trước khi xả ra các nguồn nước (chỉ một số các tỉnh/thành phố đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung, tuy nhiên cũng chỉ thu gom, xử lý được một phần nhỏ. Ngoài ra, việc vận hành các hệ thống này còn rất kém hiệu quả). Các cơ sở sản xuất, các làng nghề, khu, cụm công nghiệp chưa đầu tư và vận hành hệ thống xử lý nước thải một cách đúng mức và tự giác.

Dòng chảy các dòng sông bị suy giảm do tình trạng khai thác, sử dụng nước gia tăng và hạn hán xảy ra thường xuyên hơn. Tình trạng đổ rác thải, chất thải rắn xuống các dòng sông cũng đang là nguyên nhân chính gây cản trở dòng chảy, ứ đọng và ô nhiễm nguồn nước. Chúng ta cũng đang thiếu cơ chế phối hợp giải quyết các vấn đề ô nhiễm nguồn nước mang tính liên vùng, liên tỉnh.

- Vậy thì, chúng ta cần có những giải pháp trước mắt, cũng như dài hạn như thế nào, thưa ông?

- Trong thời gian tới, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ triển khai một số các giải pháp trọng tâm: Chủ trì, phối hợp Bộ Công thương, Bộ Xây dựng và các bộ liên quan xây dựng giải pháp phòng, chống tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn, thiếu, suy giảm, ô nhiễm nguồn nước; xây dựng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tài nguyên nước quốc gia; hệ thống công cụ hỗ trợ ra quyết định điều hòa, phân bổ tài nguyên nước trên các lưu vực sông; xây dựng, vận hành hệ thống chỉ tiêu theo dõi, đánh giá an ninh nguồn nước quốc gia.

Để ứng phó vấn đề hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn, từ năm 2025, hằng năm, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ công bố Kịch bản nguồn nước trên các lưu vực sông liên tỉnh. Trên cơ sở này, các Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh lập kế hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên nước, nhằm nâng cao tính chủ động của từng địa phương, với ưu tiên cao nhất là bảo đảm nước sinh hoạt cho nhân dân.

Thời gian tới, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ kế hoạch, chương trình, đề án phục hồi nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm; ưu tiên phục hồi các “dòng sông chết” nhằm khôi phục nguồn nước, tạo dòng chảy, cải tạo cảnh quan môi trường sinh thái. Song song, sẽ là những phương án chủ động, tích cực hợp tác trao đổi thông tin, dữ liệu hiện trạng và dự báo về nguồn nước, khí tượng thủy văn, địa chất thủy văn và sinh thái, chất lượng nước có liên quan đến nguồn nước liên quốc gia. Cùng đó triển khai đầu tư các công trình lớn điều tiết mặn, ngọt, dâng nước, trữ nước trên hệ thống sông lớn, bổ sung nước ngọt cho vùng ven biển phục vụ dân sinh, nuôi trồng thủy sản, sản xuất nông nghiệp, kinh tế biển…

-Và ở tầm vi mô, ông có lời khuyên gì dành cho các hộ gia đình nhỏ?

- Bảo vệ, phòng, chống ô nhiễm nguồn nước là trách nhiệm của toàn xã hội, của từng người dân, từng hộ gia đình.

Luật Tài nguyên nước 2023 quy định: Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm bảo vệ nguồn nước, không được đổ chất thải, rác thải, đổ hoặc làm rò rỉ các chất độc hại, xả khí thải độc hại vào nguồn nước; không được phép xả nước thải vào nguồn nước dưới đất; không được phép xả nước thải chưa được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật vào nguồn nước mặt; thực hiện hoặc tham gia thực hiện ứng phó, khắc phục sự cố ô nhiễm nguồn nước; người phát hiện hành vi gây ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt có trách nhiệm kịp thời báo cho Ủy ban nhân dân nơi gần nhất.

Hiện nay, theo quy định của pháp luật, tại các công trình khai thác nước cấp cho nhu cầu sinh hoạt phải có vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt và được cắm biển báo. Người dân, hộ gia đình không được phép xả nước thải, đưa các chất thải vào vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt này. Hộ gia đình sinh sống, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong phạm vi hành lang bảo vệ nguồn nước phải bảo đảm các yêu cầu quy định tại các khoản 7, 8, Điều 23 Luật Tài nguyên nước 2023, và thực hiện các biện pháp bảo vệ tài nguyên nước theo quy định của pháp luật.

- Xin trân trọng cảm ơn ông!

Luật Tài nguyên nước 2023, khoản 23 Điều 2:

An ninh nguồn nước là việc bảo đảm số lượng, chất lượng nước phục vụ dân sinh trong mọi tình huống, đáp ứng nhu cầu sử dụng nước cho các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, môi trường và giảm thiểu rủi ro, tác hại từ các thảm họa do con người và thiên nhiên gây ra liên quan đến nước”.

Có thể bạn quan tâm

Dự án Vành đai 2,5 đoạn qua phường Yên Hòa, nhiều hạng mục đang thi công phát sinh bụi dày đặc.

Giải quyết căn cơ bài toán vì môi trường Hà Nội

Thành phố Hà Nội đang đồng loạt triển khai nhiều dự án hạ tầng lớn, từ các tuyến đường vành đai, cầu vượt sông Hồng đến những khu đô thị mới. Đi cùng tốc độ giải phóng mặt bằng và tháo dỡ công trình là lượng chất thải xây dựng tăng đột biến. Theo ước tính, từ đầu năm 2026 đến nay, khối lượng chất thải phát sinh đã đạt khoảng 1,5 triệu tấn.

Ông Nguyễn Ngọc Tuấn cho biết: “Những doanh nghiệp tiên phong như Toàn Cầu không thể khai thác hết công suất do thiếu hụt nguồn nguyên liệu đầu vào”. Ảnh: Thành Đạt

Gỡ khó để doanh nghiệp dám đầu tư

Nguồn chất thải xây dựng phục vụ tái chế chưa ổn định và chưa được quản lý theo chuỗi chính là những rào cản lớn khiến cho doanh nghiệp tái chế chất thải xây dựng gặp nhiều khó khăn.

Một sản phẩm gạch tái chế từ chất thải xây dựng của Hà Lan. Ảnh: Chuyên gia cung cấp

Kích hoạt kinh tế tuần hoàn trong ngành xây dựng

Theo nhiều thống kê quốc tế, chất thải xây dựng hiện chiếm từ 25-40% tổng lượng chất thải rắn phát sinh ở nhiều quốc gia. Ngày nay, tại nhiều nước phát triển, chất thải xây dựng đã được nhìn nhận như một tài nguyên thứ cấp có giá trị, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải khí nhà kính.

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Trước đòi hỏi đáp ứng mục tiêu tăng trưởng cao cùng những áp lực ngày một gia tăng bởi biến đổi khí hậu và những biến động địa chính trị trên toàn cầu, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam không chỉ đẩy mạnh xử lý các dự án chậm tiến độ mà quan trọng hơn, cần đến cuộc “đại phẫu” giàu tính chiến lược và khoa học cho ngành quan trọng này. Tốc độ hoàn thiện thể chế chính là yếu tố quyết định liệu chúng ta có về đích - bổ sung 90.000 MW còn thiếu cho hệ thống trong chưa đầy 5 năm tới hay không?

Công nhân EVNHANOI kiểm tra vận hành Hệ thống thiết bị đóng cắt hợp bộ tại trạm biến áp. Ảnh: Thành Đạt

Phát triển hạ tầng nguồn điện cho tăng trưởng hai con số

Trong tiến trình hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng là vấn đề tiên quyết. “Điện đi trước một bước” và càng phải “đi” nhanh hơn, trong quá trình chuyển dịch năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu.

TS Đỗ Minh Thắng. Ảnh: NVCC

“Quy hoạch dài hạn, dự báo chính xác và chuẩn bị nguồn lực từ sớm”

Những cảnh báo về nguy cơ xuất hiện Siêu El Niño vào thời gian tới đặt ra yêu cầu cấp bách về bảo đảm đủ điện cho sản xuất và đời sống. Song, bảo đảm cung ứng điện không chỉ là chuyện của một mùa. Để góp phần tìm lời giải cho những thách thức mang tính cấu trúc của ngành điện, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trò chuyện với TS Đỗ Minh Thắng, Trưởng bộ phận năng lượng, Công ty Meteodyn (Pháp).

Ngành điện Cao Bằng chủ động các biện pháp phòng ngừa để đồng hành doanh nghiệp trong mùa cao điểm thiếu điện. Ảnh: Hoàng Yến

Đối phó thiếu hụt cung ứng điện mùa khô

Năm 2026 được dự báo có mùa khô hạn khốc liệt, nguy cơ thiếu điện sản xuất là rất lớn. Thay vì bị động ứng phó tình thế, cơ quan quản lý, ngành điện và các doanh nghiệp hiện nay đã chuyển sang tư duy quản trị rủi ro từ sớm bằng hàng loạt giải pháp thực tế.

VINASOL triển khai nâng cấp Hệ thống BESS lưu trữ 260 kWh cho một nhà máy ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Những khoảng cách cần sớm thu hẹp

Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đến nay, hơn 23.000 MW điện gió và điện mặt trời đã được triển khai trong nước, chiếm khoảng 27% tổng công suất toàn hệ thống. Nếu so tổng công suất pin lưu trữ năng lượng (BESS) dự kiến hoàn thành trong năm 2026 trên cả nước ước đạt 900 MW sẽ thấy sự chênh lệch lớn giữa nhu cầu thực tế trước mắt và mục tiêu dài hạn về công suất lắp đặt hệ thống BESS tại Việt Nam.

Trung tâm dữ liệu DayOne tại Bang Johor (Malaysia) hoạt động với công suất 478 MW.

Chấp nhận trả giá trước hay sau?

Câu chuyện về nguồn cung năng lượng tại hai nước láng giềng Đông Nam Á của Việt Nam là Thái Lan và Malaysia có thể gợi lên nhiều điểm đáng lưu tâm.

Đọc sâu và thấu hiểu là một thách thức với giới trẻ ngày nay. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Ươm mầm văn hóa đọc trong thời đại số

Công nghệ số đang làm thay đổi căn bản cách con người tiếp cận tri thức. Chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi cá nhân đều có thể tìm kiếm gần như mọi thông tin cần thiết trong vài giây.

Các không gian đọc cộng đồng cần được quan tâm đầu tư thành những điểm hẹn văn hóa. Ảnh: TRANG PHI

Con đường đầu tư cho tương lai

Hình ảnh người ngồi đọc sách ở các địa điểm công cộng ngày càng trở nên hiếm gặp, song sẽ là phiến diện nếu cho rằng người Việt đang quay lưng với sách. Thực tế cho thấy nhu cầu đọc vẫn tồn tại dưới nhiều dạng thức. Mối bận tâm về văn hóa đọc, do đó, không phải là cộng đồng “có đọc hay không”, mà là chúng ta nên “đọc gì, đọc như thế nào và dành bao nhiêu thời gian cho việc đọc sâu”.

PGS, TS Nguyễn Văn Tùng

Từ phong trào đến tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục

Nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành văn hóa đọc, bởi đây là môi trường giáo dục nền tảng, nơi hình thành thói quen, nhân cách và phương pháp học tập của mỗi con người. PGS, TS Nguyễn Văn Tùng, thành viên Hội đồng thành viên, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về các giải pháp phát triển văn hóa đọc cho học sinh.

TS Nguyễn Mạnh Hùng (người ngồi bên trái) trò chuyện với kỹ sư Lê Thanh Hải. Ảnh: Tuyết Minh

Một cánh cửa mới

Từ trước đến nay, khi nói đến văn hóa đọc, chúng ta thường nghĩ đến việc đọc sách. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, đọc không chỉ là đọc chữ. Đọc còn là đọc con người, đọc cuộc đời, đọc thiên nhiên, đọc xã hội và cuối cùng là đọc chính mình.

Diễn giả Nguyễn Quốc Vương trong một lần chia sẻ về văn hóa đọc với các em học sinh. Ảnh: NVCC

Như mạch nước kiên trì lan tỏa

Năm nay đánh dấu 10 năm tôi theo đuổi con đường khuyến đọc. Trong 10 năm đó, tất cả công việc của tôi đều tập trung vào hoạt động khuyến đọc bao gồm viết, đọc, nói (diễn thuyết). Và thật sự, con đường này vẫn vô cùng gian nan.

Không ít bạn trẻ lướt mạng thay vì đọc sâu. Ảnh: VĂN HỌC

Dừng lại, suy ngẫm và chuyển hóa

Khi sự chú ý liên tục bị phân tán bởi các luồng thông tin ngắn, phản hồi tức thời, việc dành thời gian cho một cuốn sách, ý tưởng hay quá trình suy tư ngày càng trở nên khó khăn.

Mục tiêu không chỉ là sản xuất nhiều gạo hơn mà là sản xuất gạo chất lượng cao hơn, giảm phát thải hơn. Trong ảnh: Cánh đồng lúa chất lượng cao ở xã Gia Hòa, thành phố Cần Thơ. Ảnh: Phương Bằng

Nông nghiệp với ngã rẽ chuyển đổi tư duy

Biến đổi khí hậu cùng với các yêu cầu mới của thị trường toàn cầu về giảm phát thải khí nhà kính, sản xuất xanh và phát triển bền vững đang trở thành những tiêu chuẩn bắt buộc, để nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải chuyển đổi tư duy sản xuất, tập trung vào chất lượng, hiệu quả và khả năng thích ứng.

Châu thổ Cửu Long.

Kiến tạo động lực tăng trưởng bền vững

Trước câu hỏi, đâu là mô hình tăng trưởng phù hợp để vừa phát huy những lợi thế sẵn có vừa giữ gìn bản sắc văn hóa sông nước vùng châu thổ Cửu Long? Nhân Dân cuối tuần đã ghi lại những ý kiến trao đổi của lãnh đạo các địa phương.

Hàng loạt công trình hạ tầng giao thông trọng điểm quốc gia được đầu tư xây dựng, góp phần kiến tạo động lực để vùng Đồng bằng sông Cửu Long cất cánh. Trong ảnh: Thi công cao tốc trục ngang Châu Đốc - Trần Đề. Ảnh: Phương Bằng

Vận hội vươn mình trước làn sóng đầu tư

Sau nhiều thập niên là “vùng trũng” về hạ tầng giao thông và thu hút đầu tư, Đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước vận hội mới. Những tuyến cao tốc, trục dọc, đường ngang, đường vành đai ven biển, ven biên giới, nhiều cầu lớn vượt sông dần nên hình hài... góp phần vào việc thu hẹp khoảng cách kinh tế một cách nhanh chóng và tạo đà tăng trưởng mạnh mẽ.

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Du lịch trải nghiệm (Experiential travel) hay còn có cái tên khác là du lịch hòa nhập (Immersive travel) đã và đang hiện diện ngày càng rõ ràng hơn trong nhiều loại hình sản phẩm khác nhau ở Việt Nam, với một điểm chung: Yếu tố trải nghiệm luôn được ưu tiên ở vị trí số một.

Du khách trải nghiệm làm rối nước tại thôn Bàn Thạch (tên nôm là thôn Rạch), phường Hồng Quang, tỉnh Ninh Bình. Ảnh: LƯƠNG VĂN PHƯƠNG

Thước đo mới cho giá trị điểm đến

Là một xu hướng mới tại Việt Nam, đặc biệt từ sau đại dịch Covid-19, du lịch trải nghiệm khuyến khích du khách tối đa hóa các giá trị nhận lại từ điểm đến bằng cách hòa mình kết nối và trở thành một phần của đời sống, văn hóa địa phương, thay vì chỉ đóng vai trò quan sát, nhìn ngắm hời hợt.

Du khách học cách làm món đồ uống độc đáo cà-phê trứng của Hà Nội. (Nguồn ảnh: Dine With Locals)

Cách để “bán” câu chuyện cuộc sống

Truyền thống lịch sử lâu đời cùng địa lý đa dạng và nền văn hóa giàu bản sắc là nền tảng, điểm tựa để Việt Nam phát triển du lịch bền vững với phong phú yếu tố trải nghiệm. Chung quanh chủ đề này, Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số chuyên gia và người trực tiếp làm công tác quản lý, vận hành dịch vụ/ mô hình du lịch trải nghiệm ở Việt Nam.

Khách du lịch tham gia các hoạt động trải nghiệm trong tour Về làng học thêu tay. Ảnh: DÃ LIÊN

Tạo sức hút và năng lực cạnh tranh mới

Mô hình trải nghiệm làng nghề ở Hà Nội đã có từ lâu, như ở làng gốm Bát Tràng, song phần lớn đều dừng ở mức đơn giản, nặng tính “cưỡi ngựa xem hoa”, hoặc như một gia vị cho hoạt động tham quan. Thời gian gần đây, nhiều làng nghề đã đổi mới cách làm, từ đó tạo nên sức hút và năng lực cạnh tranh mới.

Trước mắt anh Phương Nam, Côn Đảo mở ra biết bao nhịp sống xanh, nguyên sơ, trong trẻo. Ảnh: MINH LÊ

Những “điểm chạm” nguyên sơ, trong trẻo

Côn Đảo lâu nay thường được nhắc đến như một vùng đất chứa đựng ký ức lịch sử bi tráng của dân tộc, với hệ thống nhà tù của thực dân và đế quốc cùng những trang sử đấu tranh của các chiến sĩ cách mạng. Nhưng đối với nhiều du khách, sau những “điểm chạm” vào thiên nhiên ở nơi này, Côn Đảo còn là biết bao nhịp xanh, nguyên sơ, trong trẻo.