Di tích đền thờ, lăng mộ, thủy tổ dòng họ Thiều có vị trí ở khu vực núi Đào, phường Đông Tiến, hiện là địa chỉ hướng cội của con cháu dòng họ Thiều Việt Nam và khách thập phương.
Họ Thiều sớm xuất hiện ở Thanh Hóa. Nội dung bia chùa Hương Nghiêm được khắc dựng vào năm 1125 có đề cập đến người họ Thiều: Năm Tân Mùi (1091), hai Phò ký lang họ Thiều và họ Tô tâu với vua Lý Nhân Tông xin ruộng đất của Bộc xạ Lê Lương.
Vua xét lời tâu, bèn trả lại giáp Bối Lý cho dòng họ Lê Lương. Mùa thu năm ấy, Thái úy Lý Thường Kiệt đến Thanh Hóa giao ruộng đất, lập bia đá và chia ruộng đất cho giáp Bối Lý và giáp Viên Đàm.
Đồng hành cùng dân tộc Việt Nam trong lịch sử dựng nước, giữ nước, dòng họ Thiều đã sinh thành, dưỡng dục nên Thiều Thốn - một người bình dân tài, đức, “khéo vỗ về quân sĩ”, có công lao dưới triều Trần.
Chính sử và văn bia ghi, Thiều Thốn giữ chức Phòng ngự sứ Lạng Giang năm 1365; ông được vua Trần trọng vọng bởi “công ghi xã tắc, đức thấm muôn dân”. Do vậy, Trần Dụ Tông gả con gái Trần Thị Chiêu cho Thiều Thốn, phá lệ hôn nhân đồng tộc được thực hiện rất nghiêm ngặt trong vương triều Trần.
Các nhà nghiên cứu sớm phát hiện, dịch bia “Đông Sơn huyện Thiều Thốn từ bi” ở Kẻ Chiểu. Nội dung văn bia ghi: “Đức đại vương, họ Thiều tên Thốn…, công thần mở nước, đặc biệt tiến phong bậc thượng tướng quân, phò đất nước… Công chúa họ Trần tên húy Chiêu là con gái yêu của vua Trần Dụ Tông… Cửa rồng vượt cấp, cánh nhạn lễ xong, tình nên loan phượng, điềm ứng gấu hùm…”.
Nhà nghiên cứu lịch sử và bảo tồn di tích Phạm Tấn, Hội khoa học lịch sử Thanh Hóa phân tích: “Với vị thế của một quan chức cao cấp dưới triều vua Trần Dụ Tông (1341-1396) và được gia nhập vào hàng ngũ quý tộc nhà Trần, Thiều Thốn cùng phu nhân là công chúa Trần Thị Chiêu đã góp phần không nhỏ mở rộng, phát triển của vùng đất Kẻ Chiểu… Rất có thể các làng Nhuận Thạch, Triệu Xá, Triệu Tiền, Hàm Hạ (thuộc phường Đông Tiến ngày nay) - nơi có nhiều người họ Thiều sinh sống liên tục từ trước tới nay là trang ấp cũ của gia đình Thiều Thốn”.
Trong những năm kháng chiến, khu vực này từng là nơi làm việc của các cơ quan cấp tỉnh tản cư, phát triển mạnh kinh tế tập thể, góp phần làm tốt vai trò hậu phương lớn của tỉnh Thanh Hóa.
Thời kỳ đổi mới, xây dựng quê hương, đất nước, người dân khu vực này tiếp tục hiến đất, nắn tuyến, mở rộng đường giao thông, đóng góp xây dựng nông thôn mới, các khu dân cư “sáng-xanh-sạch đẹp”.
Một số con em địa phương mạnh dạn tích tụ đất đai, đầu tư hạ tầng phục vụ sản xuất, xây dựng khu nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp tuần hoàn, gắn sản xuất với chế biến, tiêu thụ nông sản hàng hóa, nâng cao giá trị trên cùng một diện tích canh tác.
Trăn trở bảo tồn nghề đúc đồng cổ truyền, nghệ nhân Thiều Quang Tùng đã dày công nghiên cứu, khôi phục kỹ thuật đúc trống đồng bằng phương pháp thủ công truyền thống; tiếp tục gây dựng thương hiệu, năng động tiếp cận thị trường, đúc tượng đồng.
Khu di tích lịch sử và thắng cảnh Đông Tiến, gồm đền thờ và lăng mộ Thiều Thốn, núi Đào, núi Bạch Thạch, Di chỉ khảo cổ Đồng Ngầm, Đồng Vưng đã được Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng Di tích quốc gia năm 1993.
Trải qua hàng nghìn năm khai thác, sử dụng, nhiều di tích liên quan thủy tổ dòng họ Thiều xuống cấp. Ông Thiều Quang Tùng cho biết, ngoài nguồn hỗ trợ từ ngân sách, con cháu dòng họ Thiều cùng chung tay, đóng góp khoảng 14 tỷ đồng, trùng tu, tôn tạo khu đền thờ, lăng mộ, tri ân thủy tổ, tôn vinh người có công với nước.
Khu đền thờ thủy tổ dòng họ Thiều được phục dựng theo kiến trúc truyền thống. Qua cổng tam quan, vượt cây cầu bê-tông được phỏng dựng dạng cầu “Thê Húc-ngưng tụ hào quang” vượt hồ sen dẫn lối vào chính điện đền thờ, hai bên là nhà khách, nhà bia.
Phía sau ngôi đền thờ tựa lưng vào núi Đào là ngôi mộ song táng Thiều Thốn cùng công chúa triều Trần. Khu di tích còn có các công trình phụ, bãi đỗ xe được thiết kế hài hòa trong không gian xanh, thân thiện môi trường, hướng về cánh đồng trải rộng phía tây cùng các khu dân cư hiện hữu.
Theo con đường bậc thang hình cánh cung dẫn lên núi Đào, lần lượt đến hai ngôi mộ, thủy tổ của dòng họ Thiều được tôn tạo, có nhà che lăng được thiết kế dạng lầu vọng cảnh. Thượng sơn dâng hương tri ân thủy tổ, con cháu cùng họ tộc, khách thập phương thanh tâm đón gió nội, hương đồng, thu vào tầm mắt bức tranh quê sống động cùng núi Bạch Thạch có màu trắng giống đá vôi nung.
Sát núi Bạch Thạch, các nhà khảo cổ học từng phát hiện hai di chỉ nổi tiếng: Đồng Vưng, Đồng Ngầm với sự phát triển liên tục của các lớp văn hóa từ thời kỳ Tiền Đông Sơn đến Đông Sơn.
Dấu tích về những làng xóm từng hiện hữu từ thời vua Hùng dựng nước đến Kẻ Chiểu sau này là sự kế thừa, tiếp nối gây dựng nên làng xã cổ truyền. Các làng Triệu Xá, Triệu Tiền, Nhuận Thạch, nay là Tổ dân phố Triệu Xá, Tổ dân phố Đông Tiến còn bảo tồn được những thiết chế văn hóa cổ truyền, như cây đa, giếng làng, đề cao ý thức tự giác, trách nhiệm của cộng đồng gắn kết.
Một số hộ gia đình đã hoàn trả diện tích đất Phủ Thiều xưa để phục dựng lại Đền thờ tướng quân Thiều Thốn cùng công chúa triều Trần ở Tổ dân phố Đông Tiến. Phủ mẫu thờ mẹ Thiều Thốn cũng đã được con cháu dòng họ Thiều trùng tu, tôn tạo ở Tổ dân phố Triệu Xá.
Sinh ra, lớn lên ở làng Nhuận Thạch, tìm hướng nâng cao giá trị ngành nông nghiệp; tốt nghiệp đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch đúng lúc đại dịch Covid-19 bùng phát, Nguyễn Hà Đông tập trung cải tạo, chỉnh trang 2ha nông trại, tổ chức các dịch vụ.
Tận dụng phế thải nông nghiệp xây lắp các hạng mục công trình hài hòa trong nông trang xanh, Nguyễn Hà Đông mạnh dạn đầu tư tổ chức sự kiện, khai thác lợi thế mạng xã hội để quảng bá sản phẩm, thu hút khách du lịch.
Nông trang xanh của thanh niên năng động khởi nghiệp, lập nghiệp kết nối, đưa du khách đến quần thể di tích Đền thờ, lăng mộ thủy tổ dòng họ Thiều ở núi Đào, Đền thờ tướng quân Thiều Thốn cùng công chúa triều Trần ở Tổ dân phố Đông Tiến, tới di tích cách mạng Hàm Hạ, nơi thành lập chi bộ Đảng đầu tiên ở tỉnh Thanh Hóa.
Bước đầu thông qua việc tổ chức, cung ứng các dịch vụ, Nguyễn Hà Đông đã kết nối, đưa được khoảng 6.000 lượt học sinh đến trải nghiệm, tìm hiểu di tích, di sản, gắn với giáo dục truyền thống lịch sử, văn hóa, cách mạng địa phương.
* Tài liệu tham khảo: Đại Việt sử ký toàn thư, Lý lịch di tích Đền thờ Thiều Thốn, bản dịch các bia: “Càn Ni sơn Hương Nghiêm tự bi minh”, “Đông Sơn huyện Thiều Thốn từ bi”, tham luận của các nhà nghiên cứu lịch sử: Phạm Tấn, Nguyễn Đức Nhuệ, Phạm Văn Tuấn.