Giữ nhịp trống giữa làng quê xứ Nghệ

Trong nhịp sống hiện đại, khi nhiều làng nghề truyền thống dần phai nhạt, ở xã Đại Đồng (tỉnh Nghệ An) vẫn có những con người lặng lẽ giữ lửa nghề làm trống da. Từng nhịp búa, thớ gỗ, tấm da tạo nên âm thanh vang vọng, góp phần gìn giữ hồn cốt văn hóa làng quê xứ Nghệ qua bao thế hệ.

Từng nhịp búa, thớ gỗ, tấm da tạo nên âm thanh vang vọng, gìn giữ hồn cốt văn hóa làng quê xứ Nghệ qua bao thế hệ.
Từng nhịp búa, thớ gỗ, tấm da tạo nên âm thanh vang vọng, gìn giữ hồn cốt văn hóa làng quê xứ Nghệ qua bao thế hệ.

Giữa những ngày cuối tháng tư, cái nắng miền trung như hun đốt mặt đường, chúng tôi tìm về xã Đại Đồng. Dọc theo Quốc lộ 46, âm thanh đập vào tai không phải tiếng xe cộ ồn ã mà là nhịp cưa xẻ gỗ, tiếng búa gõ đều tay, dồn dập mà chắc nịch. Những âm thanh tưởng chừng giản dị lại mang trong mình nhịp điệu riêng của một làng nghề đã tồn tại qua nhiều thế hệ.

Ở nơi này, mỗi nhịp búa không chỉ tạo hình cho chiếc trống mà còn như đánh thức ký ức về một thời xa xưa, khi tiếng trống là “ngôn ngữ” của cộng đồng, là tín hiệu gắn kết con người trong làng xã. Không ai nhớ chính xác nghề làm trống ở Đại Đồng bắt đầu từ khi nào. Người cao niên trong làng chỉ truyền lại rằng, tổ nghề theo bước chân mưu sinh từ vùng Hưng Tây (huyện Hưng Nguyên cũ) về đây lập nghiệp, rồi bén rễ, sinh sôi ở vùng đất này. Từ vài hộ làm trống ban đầu, nghề dần lan rộng, trở thành sinh kế của nhiều gia đình. Dẫu trải qua bao biến động của thời gian, khi nhiều nghề truyền thống mai một, tiếng trống ở Đại Đồng vẫn bền bỉ vang lên như một phần không thể tách rời của đời sống nơi đây.

Chúng tôi tìm đến xưởng sản xuất trống của ông Phan Văn Cư, một trong những cơ sở lâu đời và quy mô nhất trong xã. Trong xưởng, những chiếc trống cái, trống bé xếp ngay ngắn, từ trống đình làng, trống nhà thờ họ, trống chùa đến trống hội, trống múa lân, trống trường học... tất cả đều đã hoàn thiện, chờ ngày xuất xưởng đi khắp mọi miền đất nước. Ông Cư cho biết, nghề làm trống duy trì quanh năm, nhưng nhộn nhịp nhất vẫn là thời điểm trước và sau Tết Nguyên đán, khi các lễ hội diễn ra dày đặc. Trung bình mỗi tháng, xưởng của ông sản xuất từ 15 đến 20 chiếc trống, mỗi chiếc là kết tinh của kinh nghiệm, sự tỉ mỉ và cả tâm huyết của người thợ.

Để làm nên một chiếc trống có âm thanh vang, bền và “có hồn”, ngay từ khâu chọn nguyên liệu đã phải khắt khe. Người trong nghề vẫn truyền nhau câu nói: “Da trâu, tang mít, đánh ít kêu nhiều”. Ở Đại Đồng, gỗ mít luôn là lựa chọn hàng đầu để làm tang trống. Theo ông Cư, gỗ mít có đặc tính dẻo, nhẹ, ít cong vênh, chịu được sự thay đổi của thời tiết và đặc biệt có khả năng cộng hưởng âm thanh tốt. Gỗ càng già, thớ càng chắc thì tiếng trống càng vang, sâu. Cùng với phần tang trống là mặt da, một yếu tố được xem như “linh hồn” của trống. Người thợ thường sử dụng da bò để tạo âm thanh thanh thoát, vang xa. Riêng với những loại trống cái (lớn) như trống sấm, trống đại, da trâu được ưu tiên vì có độ bền và chịu lực tốt hơn. Việc chọn và xử lý da cũng đòi hỏi kỹ thuật cao. Da phải được lột nguyên tấm, không rách, không phạm thịt. Sau khi thu mua, da được bào mỏng, xử lý kỹ lưỡng rồi phơi nắng nhiều ngày cho đến khi đạt độ khô và đanh cần thiết. Mỗi công đoạn đều thấm đẫm mồ hôi và sự kiên trì của người thợ.

Khi nguyên liệu đã sẵn sàng, công đoạn tạo hình bắt đầu. Trong đó, quan trọng nhất là bịt miệng trống. Người thợ phải kéo căng tấm da sao cho đều, không để xuất hiện nếp nhăn, rồi cố định bằng đinh tre già. Đây là bước quyết định trực tiếp đến chất lượng âm thanh. Chỉ cần một sai lệch nhỏ cũng có thể khiến tiếng trống bị đục hoặc không vang. Thông thường, một chiếc trống có thể hoàn thiện trong vòng 3 đến 5 ngày nếu đã chuẩn bị đủ nguyên liệu. Nhưng với những chiếc trống cái, thời gian có thể kéo dài cả tháng. Anh Phan Văn Tiến, một người thợ trong làng chia sẻ: “Gia đình tôi gắn bó với nghề qua nhiều thế hệ. Trước đây, mọi công đoạn đều làm thủ công, mỗi chiếc trống mất hàng tuần mới hoàn thành. Những năm gần đây, nhờ sự hỗ trợ của máy móc, năng suất được cải thiện đáng kể, mỗi tuần có thể hoàn thiện từ 1 đến 2 chiếc trống. Dẫu vậy, những công đoạn quan trọng nhất vẫn cần đến bàn tay và kinh nghiệm của người thợ”.

Là thế hệ trẻ tiếp nối nghề, anh Phan Văn Dũng (sinh năm 1996) không giấu được niềm tự hào: “Tôi lớn lên trong tiếng trống, mùi gỗ mít, mùi da thuộc,... tất cả đã ngấm vào máu thịt. Nghề này đòi hỏi sự tỉ mỉ, kiên trì và đam mê mới theo được lâu dài. Tôi muốn tiếp nối truyền thống gia đình và góp phần phát triển nghề của cha ông”. Hiện nay, làng trống Đại Đồng có khoảng 7 hộ còn duy trì nghề. Dù quy mô không lớn, nhưng nhờ tay nghề và uy tín, các cơ sở sản xuất luôn có đơn đặt hàng đều đặn. Mỗi xưởng thường xuyên tạo việc làm cho 3 đến 4 lao động địa phương, góp phần ổn định sinh kế người dân.

Tuy nhiên, nghề làm trống đang đối mặt không ít khó khăn. Nguồn nguyên liệu ngày một khan hiếm, giá gỗ mít tăng cao trong khi da trâu, bò phải cạnh tranh với các ngành sản xuất khác như giày da. Cùng với đó, nghề đòi hỏi sự kiên trì, tỉ mỉ và gắn bó lâu dài nhưng lớp trẻ ngày nay có nhiều lựa chọn hơn, ít người mặn mà với nghề truyền thống.

Theo Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Trần Thanh Nga, nghề làm trống có nhiều tiềm năng phát triển nếu được quan tâm và bảo tồn đúng mức. Nghề này đã tồn tại từ lâu đời và gắn bó mật thiết với đời sống cộng đồng. Trong xã hội xưa, khi phương tiện thông tin còn hạn chế, tiếng trống là phương tiện truyền tin nhanh và hiệu quả nhất. Tiếng trống hiện diện hầu hết ở các sự kiện quan trọng của làng xã, từ hội hè, đình đám đến các sinh hoạt văn hóa. Ngày nay, cùng với sự phát triển kinh tế, nhu cầu về văn hóa, tín ngưỡng ngày càng tăng, mở ra cơ hội để nghề làm trống phục hồi và phát triển mang lại thu nhập ổn định và góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc.

Giữa những đổi thay không ngừng của thời đại, ở Đại Đồng những nhịp búa vẫn đều đặn vang lên. Đó là âm thanh của lao động, cũng là nhịp đập của một làng nghề đang nỗ lực giữ lấy hồn xưa...

Có thể bạn quan tâm

Bà Nguyễn Thị Kiềm (bên trái) cùng nhóm thợ giữ nghề chằm nón lá Vân Thê.

Duyên dáng nón lá Vân Thê

Trong bối cảnh nhiều làng nghề truyền thống đối mặt với nguy cơ thất truyền, nghề chằm nón lá Vân Thê vẫn được người dân nơi đây nỗ lực giữ gìn, phát huy. Trải qua bao thăng trầm, du lịch làng nghề đã có đóng góp quan trọng vào việc bảo tồn, tiếp nối giá trị của nghề chằm nón xưa.

Vùng biển Cổ Thạch (xã Liên Hương) với nhiều thuyền thúng tạo nên cảnh đẹp hoang sơ.

Vẻ đẹp hoang sơ vùng biển Cổ Thạch

Nằm ở khu vực phía đông bắc tỉnh Lâm Đồng, xã Liên Hương có danh thắng quốc gia kế bên bãi biển hoang sơ, rực rỡ với những viên đá đầy màu sắc, tạo nên vẻ đẹp huyền ảo. Trong quần thể du lịch của xã còn có di tích lịch sử-văn hóa giúp nơi đây có tiềm năng trở thành thiên đường trải nghiệm.

Một đoạn tường thành cổ Diên Khánh

Phát huy giá trị di sản thành cổ Diên Khánh

Được công nhận là di tích lịch sử cấp Quốc gia từ năm 1988, trong định hướng phát triển, thành cổ Diên Khánh (Khánh Hòa), sẽ trở thành một điểm nhấn quan trọng trong hệ thống di tích lịch sử, văn hóa địa phương.

Việc tổ chức những chương trình văn hóa-du lịch đặc sắc thu hút lượng khách trong nước và quốc tế đến Gia Lai.

Bản sắc cộng đồng tạo sức bật cho du lịch Gia Lai

Sau sáp nhập, Gia Lai trở thành vùng đất hội tụ độc đáo, nơi núi rừng Tây Nguyên hùng vĩ giao hòa cùng biển xanh miền trung khoáng đạt. Sự kết hợp ấy đã tạo nên lợi thế riêng biệt, giúp ngành du lịch khẳng định vai trò kinh tế mũi nhọn với những câu chuyện văn hóa, bản sắc và sự đồng hành bền chặt của cộng đồng địa phương.

Phút lắng đọng ở không gian sách cũ Cội Nguồn.

Làm mới cho sách cũ

Lật lại từng trang sách cũ, hình ảnh vùng đất học xứ Huế hiện lên trong dáng vẻ nhẹ nhàng, sâu lắng. Không gian sách Cội Nguồn, phường Thuận Hóa, thành phố Huế của bạn trẻ Nguyễn Thị Mỹ Hằng (27 tuổi) như cánh chim mang theo tri thức nhuốm mầu thời gian.

Đền thờ Vua Hàm Nghi và các tướng sĩ Cần Vương ở Cam Lộ.

Phát triển du lịch ở vùng đất cách mạng

Xã Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị được thiên nhiên ưu ái ban tặng khí hậu ôn hòa, cũng là nơi hội tụ của những tầng nấc văn hóa, lịch sử trầm mặc. Từ “Kinh đô kháng chiến” với thành Tân Sở vang bóng một thời, đến những giếng cổ nghìn năm và vườn chè cổ thụ độc đáo.

Nhà vườn Xuân Đài ở làng Thủy Biều.

Giữ khoảng rỗng cho đô thị Huế

Khái niệm rỗng và mở xoay quanh những làng cổ của thành phố Huế đã nhiều lần được các chuyên gia, nhà nghiên cứu tiến hành thảo luận, đánh giá. Với một thành phố đặc biệt như Huế, giá trị văn hóa, lịch sử đang cùng tồn tại, vừa tách biệt vừa gắn kết với quá trình đô thị hóa.

Không gian linh thiêng của đêm hội âm công bên ánh lửa bập bùng.

Lễ tạ ân Nữ thần Ku-môr Bar của người Pa Kô

Bao đời nay, người Pa Kô tại xã Tà Rụt, tỉnh Quảng Trị vẫn gìn giữ những phong tục truyền thống tốt đẹp, giàu triết lý nhân sinh. Trong số đó, Lễ tạ ân Nữ thần Ku-môr Bar là nghi lễ cầu mong sự thịnh vượng, đồng thời là biểu tượng của lòng biết ơn, lối sống thiện lành và tinh thần đoàn kết cộng đồng.

Bạch Mã hướng tới mô hình khu bảo tồn đa chức năng kiểu mẫu theo chuẩn mực quốc tế.

Bạch Mã - hành trình thức giấc

Từ danh hiệu Vườn Di sản ASEAN đến mô hình quản trị rừng dựa trên công nghệ, từ phục hồi đa dạng sinh học đến kinh tế sinh thái bền vững, Bạch Mã đang từng bước khẳng định vị thế một khu bảo tồn kiểu mẫu của Việt Nam và khu vực Đông Nam Á.

Nghề làm nước mắm tại Phan Thiết.

Phát triển thương hiệu nước mắm Phan Thiết

Nước mắm Phan Thiết có lịch sử truyền thống hơn 300 năm, nổi tiếng với hương vị đậm đà, màu sắc đặc trưng và được xem là đặc sản trứ danh của vùng đất ven biển tỉnh Lâm Đồng. Thời gian qua, thương hiệu nước mắm Phan Thiết được xây dựng, phát triển thành sản phẩm OCOP nhằm quảng bá tại thị trường trong và ngoài nước.

Võ Ca Dao hướng dẫn cho du khách nước ngoài trải nghiệm in tranh mộc bản.

Kể Huế bằng những điều thương nhớ

Từ trải nghiệm cá nhân và ký ức về cố đô, Võ Ca Dao cố gắng chắt lọc thành 100 điều nên thử khi đến Huế. Đó không chỉ là gợi ý cho những ai mới tới đây du lịch lần đầu mà còn là một cách kể Huế bằng đời sống thường ngày.

Các sản phẩm OCOP thủ công mỹ nghệ ở thành phố Đà Nẵng được chú ý tại các hội chợ.

Tạo thêm hành lang pháp lý để sản phẩm OCOP vươn xa

Sau khi sáp nhập đơn vị hành chính, sản phẩm nông nghiệp nông thôn của các chủ thể OCOP (Chương trình mỗi xã một sản phẩm) trên địa bàn thành phố Đà Nẵng tăng lên đáng kể về số lượng, mẫu mã. Bên cạnh tập trung vào những sản phẩm đã và đang có niên hạn, thành phố Đà Nẵng còn có riêng một nghị quyết để phát triển các sản phẩm OCOP theo hướng bền vững.

Sau khóa đào tạo photovoice, trang bị máy ảnh cho người dân, đã có nhiều tác phẩm ảnh được trưng bày tới cộng đồng trong vùng di sản.

Cộng đồng tham gia bảo tồn, phát huy giá trị di sản

Thành nhà Hồ tọa lạc ở xã Tây Đô, tỉnh Thanh Hóa, được UNESCO công nhận Di sản văn hóa thế giới năm 2011. Cùng với thực hiện nghiêm các cam kết theo khuyến nghị của UNESCO, tỉnh Thanh Hóa ưu tiên sự tham gia của cộng đồng trong bảo tồn, phát huy giá trị di tích Thành nhà Hồ và vùng phụ cận gắn với phát triển du lịch.

Ra mắt bộ trang phục sinh hoạt cộng đồng của dân tộc Chứt ở phía tây tỉnh Quảng Trị.

Khôi phục trang phục truyền thống dân tộc Chứt

Trong khi các dân tộc ở nước ta đều có trang phục truyền thống phản ánh bản sắc văn hóa, phong tục của từng cộng đồng thì đồng bào dân tộc Chứt ở phía tây tỉnh Quảng Bình (trước đây), nay là Quảng Trị lại thiếu trang phục truyền thống.

Du khách tìm hiểu các công đoạn chế tác nón ngựa tại cơ sở của Nghệ nhân Ưu tú Đỗ Văn Lan.

Chiến lược phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa

Xã Xuân An, tỉnh Gia Lai đang có những bước đi mạnh mẽ, bài bản nhằm phát triển kinh tế-xã hội theo hướng bền vững. Trong đó, sản phẩm du lịch làng nghề nón ngựa Phú Gia trở thành điểm nhấn quan trọng, mở đường cho chiến lược phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống.

Nghệ nhân Nguyễn Thị Hương, người truyền lửa cho Câu lạc bộ Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh Hưng Tân. (Ảnh TRỌNG TÂM)

Để ví, giặm ngân dài cùng năm tháng

Giữa những ngày cuối thu xứ Nghệ, trong không gian ấm áp của Nhà văn hóa Hưng Tân, xã Hưng Nguyên Nam (Nghệ An), tiếng ví, tiếng giặm lại ngân lên mộc mạc mà sâu lắng. Không chỉ là âm thanh của ký ức, đó còn là nhịp cầu nối quá khứ với hiện tại, được gìn giữ và trao truyền bằng tâm huyết của những con người bình dị nơi làng quê.

Giáo viên và học sinh Trường tiểu học và trung học cơ sở A Xing sử dụng nhạc cụ của người Vân Kiều, Pa Kô do trường sưu tầm, trưng bày để sinh hoạt văn hóa văn nghệ.

Gìn giữ văn hóa bản địa

Trường tiểu học và trung học cơ sở A Xing, xã Lìa (tỉnh Quảng Trị) đã xây dựng một không gian trưng bày những giá trị văn hóa đặc sắc của người Vân Kiều và Pa Kô ngay trong khuôn viên nhà trường, qua đó giáo dục học sinh lòng tự hào dân tộc, yêu quê hương, tôn trọng và gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc mình.

Công nhân Công ty TNHH Ngọc Chung Coir hoàn thiện sản phẩm dây thừng trang trí trước khi xuất xưởng. (Ảnh MỸ HÀ)

Trăn trở nghề sản xuất xơ dừa

Không chỉ nổi tiếng về những món đặc sản gắn liền với dừa, rừng dừa Tam Quan, thị xã Hoài Nhơn (cũ) được đánh giá như “thiên đường dừa thứ hai” của Việt Nam.

Đình làng Lựu Bảo đầy trang nghiêm.

Dấu xưa Lựu Bảo

Qua bao nhiêu năm tháng, ngôi làng Lựu Bảo thuộc phường Kim Long, thành phố Huế vẫn chứa đựng vẻ đẹp nên thơ. Tứ bề gió thổi mây che, làng xưa tựa như nàng thiếu nữ soi bóng xuống dòng sông Bạch Yến trong xanh. Chuyện làng, chuyện sông không thể tách rời là vậy.