Phục dựng lễ cưới truyền thống của người Bru-Vân Kiều từ ký ức cộng đồng

Ngày nay, nhiều nghi thức trong lễ cưới truyền thống của người Bru-Vân Kiều ở phía tây tỉnh Quảng Trị đã không còn được thực hành đầy đủ.

Vợ chồng anh Hồ Văn Cường và chị Hồ Thị Trà My trong vai cô dâu, chú rể tại buổi phục dựng lễ cưới truyền thống của người Bru-Vân Kiều ở thôn Tà Rùng.
Vợ chồng anh Hồ Văn Cường và chị Hồ Thị Trà My trong vai cô dâu, chú rể tại buổi phục dựng lễ cưới truyền thống của người Bru-Vân Kiều ở thôn Tà Rùng.

Vì vậy, để tìm lại những phần ký ức đang dần phai nhạt, các nhà nghiên cứu đã cùng các già làng, nghệ nhân và người dân lần theo từng nghi thức, lễ vật, lời nói và cách ứng xử từng hiện diện trong đám cưới truyền thống nhằm phục dựng những nét văn hóa đang dần mai một...

Tình yêu trai gái của người Bru-Vân Kiều thường được vun đắp qua những buổi đi sim. Ban đầu, nam nữ gặp mặt, hát đối đáp từ trên nhà, rồi cùng nhau ra bãi, ra suối để tiếp tục trò chuyện, thử tài và tìm hiểu tính tình, khi đã có tình cảm, đôi trai gái mới hẹn gặp riêng, trao lời thương và tín vật làm tin...

Từ những buổi hò hẹn ấy, tình yêu của đôi trẻ dần được gia đình biết đến, sau đó nhờ Kôn Kana (người mai mối) đứng ra kết nối, mở đầu cho các bước tiến tới lễ cưới.

Kôn Kana của chàng trai và cô gái thay mặt họ trao lời và dò hỏi ý tứ của hai gia đình. Sau khi nhà trai bàn bạc số lễ vật và nhà gái đồng thuận, lễ bỏ của (gọi là Chỏ Vàn) được tiến hành, đây là một trong những nghi thức mở đầu cho quá trình chuẩn bị lễ cưới truyền thống.

Trong lễ phục dựng đám cưới truyền thống, hai người đóng vai đôi trai gái từ ngày đi sim tìm hiểu nhau đến khi tổ chức lễ cưới là vợ chồng anh Hồ Văn Cường và chị Hồ Thị Trà My ở thôn Tà Rùng, xã Hướng Lập. Anh chị chia sẻ rất hạnh phúc khi được cộng đồng lựa chọn để xây dựng thành cặp nhân vật chính trong chương trình phục dựng lễ cưới rất ý nghĩa của người Bru-Vân Kiều.

Theo đồng chí Đinh Phúc, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Hướng Lập, lễ cưới truyền thống của người Bru-Vân Kiều không chỉ là nghi lễ đánh dấu sự kết duyên của đôi trai gái, mà còn là không gian văn hóa lưu giữ những phong tục, tập quán, tri thức dân gian và mối quan hệ cộng đồng.

Để chuẩn bị cho chương trình phục dựng lễ cưới truyền thống, Phòng Văn hóa-Xã hội của xã phối hợp nhóm nghiên cứu của Phân viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch miền trung, thuộc Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) cùng các già làng, nghệ nhân, người có uy tín và những người từng trực tiếp tham gia các lễ cưới truyền thống tiến hành nhiều cuộc trao đổi, phỏng vấn và thảo luận.

Từ những câu chuyện, ký ức và kinh nghiệm thực hành của cộng đồng, nhóm nghiên cứu từng bước rà soát trình tự các nghi lễ, thành phần tham gia, lễ vật, lời nói, cách ứng xử cũng như ý nghĩa của từng nghi thức, đây là cơ sở để lựa chọn những nội dung tiêu biểu, có giá trị đại diện để phục dựng trong chương trình.

Theo đại diện lãnh đạo Phân viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch miền trung, quá trình khảo sát, nghiên cứu cho thấy ký ức về lễ cưới truyền thống vẫn được lưu giữ khá sâu đậm trong cộng đồng Bru-Vân Kiều.

Nhiều người cao tuổi vẫn nhớ rõ trình tự các nghi lễ, vai trò của từng thành viên trong gia đình, dòng họ và cộng đồng, cũng như những lời nói, cách ứng xử được sử dụng trong từng thời điểm của lễ cưới.

Ông Hồ Văn Dũng, người cao tuổi ở thôn Tà Rùng, xã Hướng Lập cho biết, trước đây lễ cưới truyền thống của người Bru-Vân Kiều rất phong phú, có hơn 10 nghi thức, tuy nhiên nay đã có những biến đổi theo thời gian.

Giữa các thế hệ, các gia đình và từng địa bàn cư trú tồn tại những cách nhớ và cách thực hành khác nhau; có nghi thức được duy trì tương đối đầy đủ, có nghi thức đã giản lược hoặc không còn phổ biến, vì vậy rất cần được nghiên cứu, phục hồi đầy đủ lễ cưới truyền thống.

Chính vì vậy, nhóm nghiên cứu xác định tiến hành phục dựng lễ cưới truyền thống Bru-Vân Kiều không phải là việc đơn giản sắp xếp các nghi thức theo một trình tự có sẵn để đưa lên sân khấu, mà đó là quá trình lắng nghe, đối chiếu các nguồn tư liệu, trao đổi với những người am hiểu phong tục và tìm kiếm sự thống nhất trong cộng đồng.

Trong chương trình, các nghi thức tiêu biểu của lễ cưới truyền thống được tái hiện từ quá trình tìm hiểu của đôi trai gái qua đi sim, lễ bỏ của, các bước chuẩn bị và thống nhất giữa hai gia đình, nghi thức đi tà rong, Caring, đón dâu, rửa chân, Cha chum, Chu ta pe te tác, đến các nghi lễ Đoong, Ching, A lỗ Tidưng và những hoạt động thăm hỏi sau ngày cưới.

Mỗi nghi thức là một lát cắt của đời sống văn hóa, phản ánh quan niệm về tình yêu, hôn nhân, trách nhiệm của vợ chồng, quan hệ giữa các thành viên trong gia đình và sự gắn kết giữa hai dòng họ.

Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Lao Bảo Nguyễn Thị Thanh Nga cho biết, trong quá trình phục dựng tại địa phương, nhóm nghiên cứu đã tiến hành ghi chép, hệ thống hóa và hỗ trợ chuyển tải những tri thức do cộng đồng cung cấp thành các nội dung phục vụ nghiên cứu, tư liệu và số hóa.

Những người trực tiếp nắm giữ tri thức văn hóa từ già làng, nghệ nhân, người có uy tín đến những người từng tham gia các nghi lễ truyền thống đã góp phần quan trọng xác định nội dung cần được ghi nhận và cách thức thể hiện phù hợp với phong tục.

Cách tiếp cận này giúp quá trình phục dựng tránh được việc nhìn nhận văn hóa truyền thống chỉ từ góc độ trình diễn bởi đằng sau mỗi nghi thức là ký ức, kinh nghiệm sống và những giá trị được cộng đồng trao truyền qua nhiều thế hệ.

Vì thế, điều còn lại sau một chương trình phục dựng không phải là trình tự của các nghi lễ, đó còn là những câu chuyện, lời nói, bài hát, lễ vật, cách ứng xử và những hiểu biết được ghi lại từ chính những người đang nắm giữ ký ức văn hóa.

Phó Giám đốc Sở Dân tộc-Tôn giáo tỉnh Quảng Trị Hồ Thị Minh cho biết, người Bru-Vân Kiều sống tập trung chủ yếu tại miền tây tỉnh Quảng Trị với khoảng 90 nghìn người. Vì vậy, công tác nghiên cứu phục dựng thành công lễ cưới người Bru-Vân Kiều là việc làm rất ý nghĩa, làm sống lại một nghi lễ hôn nhân truyền thống, khơi dậy cả một miền văn hóa đã được cộng đồng vun đắp, nuôi dưỡng qua nhiều thế hệ.

Có thể bạn quan tâm

Đền thờ Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật tọa lạc dưới chân núi Văn Trinh, xã Quảng Ngọc, tỉnh Thanh Hóa.

Không gian văn hóa độc đáo xứ Thanh

Tọa lạc dưới chân núi Văn Trinh, gần trung tâm xã Quảng Ngọc, tỉnh Thanh Hóa, đền thờ Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật cách Quốc lộ 1A chừng 4 km là điểm đến thuận lợi cho du khách trên hành trình khám phá di sản văn hóa của dân tộc.

Nghệ nhân trẻ Phan Tấn Đạt bên một sản phẩm khảm ốc.

Lưu giữ nét đẹp khảm ốc xà cừ

Từ chiếc vỏ ốc lấp lánh đủ màu, nghệ nhân trẻ Phan Tấn Đạt (34 tuổi, trú phường Kim Long, thành phố Huế) đã cho ra đời những bức khảm đầy tinh xảo. Từng mảnh ốc nhỏ bé được ghép nối dựa trên những nguyên tắc mỹ thuật giúp anh Đạt hiện thực mục tiêu bảo tồn nghề xưa.

Bia Ma Nhai khắc trên vách núi Thành Nam, xã Con Cuông, Nghệ An.

Độc đáo bia Ma Nhai khắc trên núi đá

Gần 700 năm trường tồn giữa đại ngàn miền tây Nghệ An, bia Ma Nhai là chứng tích đặc biệt về lịch sử giữ nước, khẳng định chủ quyền lãnh thổ và giá trị văn hóa thời Trần.

Thế hệ trẻ Thanh Hóa trong một cuộc về nguồn, tìm hiểu vai trò lãnh đạo của Đảng qua các thời kỳ cách mạng.

Những địa chỉ đỏ khơi dậy lòng yêu nước

Xã Thọ Lập, tỉnh Thanh Hóa có diện tích tự nhiên gần 34 km 2 , bao trùm một vùng di sản. Lấy con người là trung tâm, cấp ủy, chính quyền xã xác định phát triển kinh tế luôn đi đôi với bảo tồn, phát huy nguồn lực nội sinh từ truyền thống lịch sử, cách mạng.

Chị Hoàng Kim Ngọc Uyên Nhi vẽ thủ công lên tà áo dài.

Khát vọng làm mới tà áo dài

Từ tình yêu với văn hóa Huế, vợ chồng nhà thiết kế Hoàng Kim Ngọc Uyên Nhi (sinh năm 1992, phường An Cựu, thành phố Huế) đã đưa họa tiết cung đình và hình ảnh di tích lên những tà áo dài linen.

Thác Tà Puồng trong xanh, hùng vĩ giữa núi rừng Trường Sơn.

Vẻ đẹp hoang sơ nơi đại ngàn

Nằm trong không gian xanh rừng nguyên sinh phía đông dãy Trường Sơn, thác Tà Puồng trở thành điểm đến hấp dẫn nhờ vẻ đẹp hoang sơ và mô hình du lịch cộng đồng của đồng bào Bru-Vân Kiều. Không chỉ khai thác hiệu quả vẻ đẹp tự nhiên, mô hình này còn tạo sinh kế, nâng cao thu nhập và góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa địa phương.

Theo các già làng, mỗi món ăn đều chứa đựng ký ức của dân tộc mình.

Đánh thức hương vị đại ngàn

Lễ hội Ẩm thực truyền thống các dân tộc miền núi thành phố Huế tại xã A Lưới 2 đã níu chân du khách bởi những món ăn truyền thống của đồng bào Pa Cô, Tà Ôi, Cơ Tu... mở ra cơ hội để văn hóa ẩm thực vùng cao trở thành sản phẩm du lịch cộng đồng đặc trưng, góp phần gìn giữ bản sắc, nâng cao sinh kế cho người dân.

Chùa Phạm Thông ở làng cổ Đông Sơn, phường Hàm Rồng, tỉnh Thanh Hóa.

Hàm Rồng - một vùng di sản, danh thắng

“Thanh Hóa thắng địa là nơi/Rồng vờn hạt ngọc, hạc bơi chân thành”. Câu ca được cộng đồng lưu truyền, gợi mở, mời gọi du khách trải nghiệm một vùng di sản, danh thắng ở Hàm Rồng.

Khách du lịch nghe giới thiệu về hệ thống hang động Phong Nha-Kẻ Bàng.

Khám phá hang Sơn Đoòng thông qua công nghệ số

Tỉnh Quảng Trị vừa khai trương dịch vụ trải nghiệm khám phá hang động lớn nhất thế giới Sơn Đoòng thông qua công nghệ thực tế ảo (VR 5D). Đây là trải nghiệm độc đáo, hấp dẫn cho những người đam mê du lịch khám phá nhưng chưa có điều kiện trực tiếp đến các hang động ở Phong Nha-Kẻ Bàng.

Từng nhịp búa, thớ gỗ, tấm da tạo nên âm thanh vang vọng, gìn giữ hồn cốt văn hóa làng quê xứ Nghệ qua bao thế hệ.

Giữ nhịp trống giữa làng quê xứ Nghệ

Trong nhịp sống hiện đại, khi nhiều làng nghề truyền thống dần phai nhạt, ở xã Đại Đồng (tỉnh Nghệ An) vẫn có những con người lặng lẽ giữ lửa nghề làm trống da. Từng nhịp búa, thớ gỗ, tấm da tạo nên âm thanh vang vọng, góp phần gìn giữ hồn cốt văn hóa làng quê xứ Nghệ qua bao thế hệ.

Bà Nguyễn Thị Kiềm (bên trái) cùng nhóm thợ giữ nghề chằm nón lá Vân Thê.

Duyên dáng nón lá Vân Thê

Trong bối cảnh nhiều làng nghề truyền thống đối mặt với nguy cơ thất truyền, nghề chằm nón lá Vân Thê vẫn được người dân nơi đây nỗ lực giữ gìn, phát huy. Trải qua bao thăng trầm, du lịch làng nghề đã có đóng góp quan trọng vào việc bảo tồn, tiếp nối giá trị của nghề chằm nón xưa.

Vùng biển Cổ Thạch (xã Liên Hương) với nhiều thuyền thúng tạo nên cảnh đẹp hoang sơ.

Vẻ đẹp hoang sơ vùng biển Cổ Thạch

Nằm ở khu vực phía đông bắc tỉnh Lâm Đồng, xã Liên Hương có danh thắng quốc gia kế bên bãi biển hoang sơ, rực rỡ với những viên đá đầy màu sắc, tạo nên vẻ đẹp huyền ảo. Trong quần thể du lịch của xã còn có di tích lịch sử-văn hóa giúp nơi đây có tiềm năng trở thành thiên đường trải nghiệm.

Một đoạn tường thành cổ Diên Khánh

Phát huy giá trị di sản thành cổ Diên Khánh

Được công nhận là di tích lịch sử cấp Quốc gia từ năm 1988, trong định hướng phát triển, thành cổ Diên Khánh (Khánh Hòa), sẽ trở thành một điểm nhấn quan trọng trong hệ thống di tích lịch sử, văn hóa địa phương.

Việc tổ chức những chương trình văn hóa-du lịch đặc sắc thu hút lượng khách trong nước và quốc tế đến Gia Lai.

Bản sắc cộng đồng tạo sức bật cho du lịch Gia Lai

Sau sáp nhập, Gia Lai trở thành vùng đất hội tụ độc đáo, nơi núi rừng Tây Nguyên hùng vĩ giao hòa cùng biển xanh miền trung khoáng đạt. Sự kết hợp ấy đã tạo nên lợi thế riêng biệt, giúp ngành du lịch khẳng định vai trò kinh tế mũi nhọn với những câu chuyện văn hóa, bản sắc và sự đồng hành bền chặt của cộng đồng địa phương.

Phút lắng đọng ở không gian sách cũ Cội Nguồn.

Làm mới cho sách cũ

Lật lại từng trang sách cũ, hình ảnh vùng đất học xứ Huế hiện lên trong dáng vẻ nhẹ nhàng, sâu lắng. Không gian sách Cội Nguồn, phường Thuận Hóa, thành phố Huế của bạn trẻ Nguyễn Thị Mỹ Hằng (27 tuổi) như cánh chim mang theo tri thức nhuốm mầu thời gian.

Đền thờ Vua Hàm Nghi và các tướng sĩ Cần Vương ở Cam Lộ.

Phát triển du lịch ở vùng đất cách mạng

Xã Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị được thiên nhiên ưu ái ban tặng khí hậu ôn hòa, cũng là nơi hội tụ của những tầng nấc văn hóa, lịch sử trầm mặc. Từ “Kinh đô kháng chiến” với thành Tân Sở vang bóng một thời, đến những giếng cổ nghìn năm và vườn chè cổ thụ độc đáo.

Nhà vườn Xuân Đài ở làng Thủy Biều.

Giữ khoảng rỗng cho đô thị Huế

Khái niệm rỗng và mở xoay quanh những làng cổ của thành phố Huế đã nhiều lần được các chuyên gia, nhà nghiên cứu tiến hành thảo luận, đánh giá. Với một thành phố đặc biệt như Huế, giá trị văn hóa, lịch sử đang cùng tồn tại, vừa tách biệt vừa gắn kết với quá trình đô thị hóa.

Không gian linh thiêng của đêm hội âm công bên ánh lửa bập bùng.

Lễ tạ ân Nữ thần Ku-môr Bar của người Pa Kô

Bao đời nay, người Pa Kô tại xã Tà Rụt, tỉnh Quảng Trị vẫn gìn giữ những phong tục truyền thống tốt đẹp, giàu triết lý nhân sinh. Trong số đó, Lễ tạ ân Nữ thần Ku-môr Bar là nghi lễ cầu mong sự thịnh vượng, đồng thời là biểu tượng của lòng biết ơn, lối sống thiện lành và tinh thần đoàn kết cộng đồng.

Bạch Mã hướng tới mô hình khu bảo tồn đa chức năng kiểu mẫu theo chuẩn mực quốc tế.

Bạch Mã - hành trình thức giấc

Từ danh hiệu Vườn Di sản ASEAN đến mô hình quản trị rừng dựa trên công nghệ, từ phục hồi đa dạng sinh học đến kinh tế sinh thái bền vững, Bạch Mã đang từng bước khẳng định vị thế một khu bảo tồn kiểu mẫu của Việt Nam và khu vực Đông Nam Á.

Nghề làm nước mắm tại Phan Thiết.

Phát triển thương hiệu nước mắm Phan Thiết

Nước mắm Phan Thiết có lịch sử truyền thống hơn 300 năm, nổi tiếng với hương vị đậm đà, màu sắc đặc trưng và được xem là đặc sản trứ danh của vùng đất ven biển tỉnh Lâm Đồng. Thời gian qua, thương hiệu nước mắm Phan Thiết được xây dựng, phát triển thành sản phẩm OCOP nhằm quảng bá tại thị trường trong và ngoài nước.