Hội thảo có sự tham dự của các Ủy viên Trung ương Đảng: Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Kim Sơn, Phó Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương; Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Hải Quân, Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ; Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Lợi, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam; đại diện các ban, bộ, ngành, địa phương; các cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế; cùng đông đảo các nhà khoa học, chuyên gia trong và ngoài nước.
Về phía các đại biểu quốc tế, có ngài Ito Naoki, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Nhật Bản tại Việt Nam; Đại sứ Marco Della Seta, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Cộng hòa Italia tại Việt Nam; ông Johnathan Baker, Trưởng Đại diện UNESCO tại Việt Nam; Đoàn đại biểu Học viện Chính trị và Hành chính Quốc gia Lào do Tiến sĩ Daosavnh Kheuamyxay, Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Phó Giám đốc Học viện Chính trị và Hành chính Quốc gia Lào, cùng đại diện các Đại sứ quán Lào, Philippines, Indonesia, Singapore, Trung Quốc, Nhật Bản, Italia, Pháp, Đan Mạch…, các tổ chức của Liên hợp quốc như UNESCO, UNIDO, UNDP…, phòng thương mại một số nước và các tổ chức quốc tế, các nhà khoa học đến từ Italia, Nhật Bản, Hàn Quốc.
Diễn ra ngay sau Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, hội thảo nhằm tạo diễn đàn trao đổi cơ sở lý luận và thực tiễn, chia sẻ kinh nghiệm quốc tế, đồng thời đề xuất các khuyến nghị chính sách phục vụ triển khai các chủ trương của Đại hội XIV và các quyết sách của Hội nghị Trung ương 3 về tổ chức và quản trị hiệu quả không gian phát triển, tạo lập các động lực tăng trưởng mới cho đất nước.
Đổi mới tư duy về không gian phát triển
Phát biểu khai mạc hội thảo, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Kim Sơn, Phó Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tư duy về không gian phát triển trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới. Phát triển không gian không chỉ là điều phối hành chính, mà phải là quản trị theo mục tiêu, theo không gian, theo nguồn lực và theo kết quả. Cơ chế điều phối phải thực chất hơn, hiệu lực hơn, gắn với phân cấp, phân quyền phù hợp, đồng thời có cơ chế chia sẻ lợi ích, chia sẻ nguồn lực và trách nhiệm giữa các cấp, các ngành, các địa phương.
Sau khi sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành chính quyền địa phương hai cấp, đất nước có nhiều lợi thế mới để tái cấu trúc không gian phát triển. Tuy nhiên, quy mô hành chính lớn hơn không tự động chuyển hóa thành động lực tăng trưởng và phát triển của đất nước. Khi quy hoạch vẫn mang tính chia cắt, dữ liệu không có tính liên thông, đầu tư phân tán, liên kết vùng thiếu cơ chế thực chất và tư duy quản lý vẫn bị giới hạn bởi địa giới hành chính, thì chúng ta không thể tối ưu hóa không gian phát triển.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Hải Quân, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ cho rằng, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số có vai trò rất lớn trong việc hình thành các không gian phát triển mới, nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh và khả năng thích ứng của nền kinh tế.
Trong kỷ nguyên số, không gian phát triển không còn được đo chủ yếu bằng diện tích hay nguồn lực vật chất, mà bằng khả năng tạo ra giá trị mới từ tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Khoa học và công nghệ đang trực tiếp kiến tạo những không gian phát triển mới như không gian dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, nghiên cứu mở, đổi mới sáng tạo, kinh tế số và các lĩnh vực công nghệ chiến lược gồm bán dẫn, công nghệ sinh học, công nghệ lượng tử.
Trong phát biểu đề dẫn hội thảo, Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Lợi khẳng định, trước những biến động sâu sắc của môi trường phát triển toàn cầu do chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, trí tuệ nhân tạo, biến đổi khí hậu, già hóa dân số và cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, Việt Nam cần chuyển từ tư duy khai thác các không gian phát triển sẵn có sang chủ động tái cấu trúc không gian truyền thống, kiến tạo các không gian phát triển mới dựa trên khoa học, công nghệ, dữ liệu, đổi mới sáng tạo, thể chế và năng lực quản trị. Hội thảo được kỳ vọng sẽ cung cấp các luận cứ khoa học và khuyến nghị chính sách phục vụ công tác tham mưu chiến lược cho Đảng, Nhà nước và các địa phương.
Phát biểu tại phiên khai mạc, Đại sứ Cộng hòa Italia tại Việt Nam Marco Della Seta cho biết, Italia sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm, chuyên môn, tiếp tục tăng cường hợp tác với Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam trong nghiên cứu, đào tạo, nâng cao năng lực, trao đổi học giả và đối thoại chính sách, góp phần hỗ trợ các mục tiêu phát triển dài hạn của Việt Nam.
Hội thảo gồm hai phiên chuyên đề và một phiên tọa đàm chính sách với sự tham gia của các học giả đến từ Việt Nam, Italia, Nhật Bản, Hàn Quốc và một số quốc gia khác. Các tham luận tập trung trao đổi về cơ sở lý luận và thực tiễn của không gian phát triển.
Buổi chiều, các tham luận tập trung vào vấn đề quản trị thống nhất không gian phát triển và nguồn lực quốc gia; phát triển không gian số, không gian biển, không gian ngầm và các mô hình phát triển mới; đột phá thể chế, phát triển vùng và liên kết vùng; vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; cùng kinh nghiệm quốc tế và các khuyến nghị chính sách đối với Việt Nam.
Nội hàm không gian phát triển trong kỷ nguyên mới
Theo Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Lợi, không gian phát triển của Việt Nam trong kỷ nguyên mới không nên hiểu theo nghĩa hẹp, tĩnh tại và thuần túy gắn với địa giới địa lý hoặc địa giới hành chính. Chúng ta nên quan niệm không gian phát triển như một hệ sinh thái động, đa tầng và tích hợp, trong đó thể chế, kết cấu hạ tầng, nguồn lực con người, khoa học-công nghệ, văn hóa, dữ liệu, thị trường và hợp tác quốc tế tạo ra động lực tăng trưởng nhằm đạt được các kết quả phát triển. Không gian của một quốc gia được xác định bởi đường biên, nhưng không gian phát triển của một dân tộc được mở rộng bởi tầm nhìn, khả năng tổ chức, năng lực sáng tạo và mức độ kết nối.
Theo tinh thần Đại hội XIV và Hội nghị Trung ương 3, cần tiếp cận đồng thời hai nhóm không gian: các không gian hiện hữu phải được tái cấu trúc, nâng cấp và kết nối hiệu quả hơn; các không gian mới phải được chủ động kiến tạo, thử nghiệm và khai thác có trách nhiệm. Đối với các không gian hiện hữu như vùng lãnh thổ và liên vùng, đô thị-nông thôn, biển và ven biển, cửa khẩu, hành lang kinh tế, không gian văn hóa-xã hội, ngành và chuỗi giá trị, yêu cầu trọng tâm là chuyển quy mô hành chính mới thành quy mô kinh tế và năng lực phát triển mới, tránh chỉ hợp nhất địa giới mà không tổ chức lại chức năng, nguồn lực và liên kết.
Các không gian mới gồm không gian số, không gian ngầm, không gian tầm thấp, không gian vũ trụ, không gian thử nghiệm thể chế, đổi mới sáng tạo và hợp tác quốc tế. Các không gian này có quan hệ phụ thuộc chặt chẽ, trong đó dữ liệu và công nghệ số giữ vai trò kết nối, điều phối; giá trị mới chủ yếu được tạo ra tại các điểm giao thoa giữa các lớp không gian.
Việc mở rộng không gian phát triển phải gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh, an ninh kinh tế, dữ liệu, năng lượng, nguồn nước và sinh thái. Ngược lại, khai thác hiệu quả các không gian mới sẽ góp phần củng cố tiềm lực quốc gia, nâng cao năng lực tự chủ và bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.
Năm nhóm vấn đề thảo luận tại hội thảo
Thứ nhất, hoàn thiện khung lý luận và phương pháp tiếp cận về không gian phát triển. Các chuyên gia, nhà khoa học đã thảo luận, làm rõ khái niệm, cấu trúc, ranh giới và mối quan hệ giữa các lớp không gian phát triển; xác định các chủ thể tham gia, quyền tài sản, quyền tiếp cận và nguyên tắc phân bổ lợi ích. Hội thảo cần hướng tới xây dựng một khung phân tích thống nhất, tiếp cận không gian phát triển theo nghĩa rộng, không chỉ dựa trên quy mô diện tích và tốc độ tăng trưởng mà còn xem xét năng suất, năng lực kết nối, sức sáng tạo, mức độ phát triển bao trùm, tính bền vững và khả năng chống chịu trước các cú sốc.
Thứ hai, tổ chức lại các không gian phát triển hiện hữu sau khi sắp xếp đơn vị hành chính. Đánh giá khả năng hình thành các cấu trúc phát triển đa cực, hành lang kinh tế, vùng động lực và chuỗi liên kết đô thị-nông thôn-công nghiệp-dịch vụ mới. Việc hợp nhất các đơn vị hành chính có ý nghĩa quan trọng để tạo ra chuỗi giá trị hiệu quả hơn, mở rộng thị trường nội vùng, nâng cao năng lực điều phối và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ công một cách công bằng. Quy hoạch trong giai đoạn mới cần thể hiện rõ việc tổ chức lại không gian phát triển dựa trên các hành lang giao thông và logistics, mạng lưới đô thị, vùng sinh thái, vùng sản xuất, trung tâm dịch vụ và các cụm đổi mới sáng tạo; đồng thời khắc phục tình trạng chia cắt không gian theo địa giới hành chính.
Thứ ba, kiến tạo các không gian phát triển mới.
Đối với “không gian số”, dữ liệu là một loại hạ tầng thiết yếu, cần xây dựng nền tảng dữ liệu không gian thống nhất, có khả năng liên thông, đồng thời bảo đảm an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân và chủ quyền số.
Đối với “không gian ngầm”, cần xây dựng cơ sở dữ liệu địa chất-địa chính ba chiều; bảo đảm quy hoạch đi trước dự án; quy định rõ quyền khai thác, quyền sử dụng, cơ chế định giá, phân bổ lợi ích và trách nhiệm đầu tư, vận hành, bảo trì công trình ngầm.
Đối với “không gian tầm thấp”, cần xây dựng bản đồ số vùng bay, hành lang thử nghiệm và cơ chế cấp phép dựa trên mức độ rủi ro; đồng thời hoàn thiện tiêu chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn an toàn, cơ chế giám sát và trách nhiệm dân sự của các chủ thể tham gia.
Đối với “không gian vũ trụ”, cần phát triển đồng bộ hệ sinh thái dữ liệu vệ tinh, thiết bị mặt đất, dịch vụ phân tích và doanh nghiệp công nghệ; kết hợp với hợp tác quốc tế để nâng cao năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ cốt lõi.
Thứ tư, hoàn thiện cơ chế phát triển và điều phối các không gian chiến lược. Xác định rõ các yếu tố tác động đến việc nâng cao hiệu quả khai thác và vận hành các không gian phát triển, trọng tâm là không gian liên kết vùng, các hành lang kinh tế và những khu vực có vai trò kết nối vùng nguyên liệu, cửa khẩu, đô thị, cảng biển và thị trường quốc tế. Cần làm rõ mô hình quản trị thống nhất, cơ chế phối hợp giữa trung ương và địa phương, giữa các địa phương trong vùng, cũng như cơ chế chia sẻ dữ liệu, nguồn lực, chi phí và lợi ích phát triển.
Đối với các đô thị hạt nhân, cần chuyển từ tư duy phát triển chủ yếu không gian mặt đất sang quản trị tích hợp không gian mặt đất và không gian ngầm. Quy hoạch hai lớp không gian này phải được xây dựng đồng bộ, liên thông trên nền tảng dữ liệu thống nhất, bảo đảm sử dụng hiệu quả tài nguyên không gian và hạn chế xung đột giữa các công trình hạ tầng. Cần lựa chọn một số địa phương hoặc đô thị hạt nhân đủ điều kiện để triển khai thí điểm kinh tế tầm thấp, phát triển không gian ngầm, kinh tế biển xanh, bản sao số, hành lang kinh tế tích hợp và cơ chế điều phối liên vùng.
Mỗi mô hình thí điểm phải xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm, nguồn lực thực hiện, thời gian thực hiện, kết quả đầu ra và cơ chế đánh giá độc lập. Cần các giải pháp nhân rộng các mô hình thành công; đồng thời cần nhận diện các rủi ro về tài chính, công nghệ, an toàn, môi trường và lợi ích xã hội và đưa vào giám sát, kiểm soát ngay từ đầu.
Thứ năm, xác định rõ vai trò của Nhà nước và cơ chế huy động nguồn lực. Nhà nước cần tập trung định hình tầm nhìn không gian phát triển, xây dựng quy hoạch tích hợp, kiến tạo thể chế, đầu tư hạ tầng chiến lược và bảo đảm lợi ích chung.
Doanh nghiệp, người dân cần phải được xác định là những chủ thể trung tâm trong hoạt động đầu tư, sản xuất, đổi mới và sáng tạo trong các không gian phát triển, đồng thời là đối tượng thụ hưởng chính. Cần chuyển thực chất từ tư duy “không quản được thì cấm” sang quản trị dựa trên nguyên tắc, tiêu chuẩn và mức độ rủi ro; mở rộng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát; thực hiện phân cấp, phân quyền gắn với dữ liệu, ngân sách, năng lực thực thi và trách nhiệm giải trình.
Cần đa dạng hóa nguồn lực cho phát triển, từ đầu tư công, đối tác công-tư, tài chính xanh, quỹ đổi mới sáng tạo, nguồn thu từ giá trị gia tăng của đất đai và hạ tầng, thị trường dịch vụ dữ liệu và các nguồn tài chính quốc tế. Quá trình huy động và phân bổ nguồn lực cần bảo đảm minh bạch, hiệu quả và có cơ chế chia sẻ lợi ích hợp lý giữa Nhà nước, nhà đầu tư và cộng đồng.
Sáu đề xuất đột phá xây dựng không gian phát triển Việt Nam
Một là, đổi mới tư duy về không gian phát triển. Đề xuất cách xây dựng “bản đồ phát triển mới” trên nền dữ liệu thống nhất; xác định rõ chức năng của từng địa phương, tiểu vùng; chuyển từ quy hoạch hai chiều sang tư duy không gian đa chiều, có tính đến thời gian, rủi ro và năng lực thích ứng.
Hai là, hoàn thiện thể chế cho các không gian phát triển mới. Đề xuất hoàn thiện chính sách pháp luật về dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, không gian ngầm, không gian tầm thấp, kinh tế vũ trụ, hợp tác xuyên biên giới và mô hình kinh doanh mới; mở rộng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát và điều chỉnh chính sách dựa trên bằng chứng.
Ba là, phát triển hạ tầng tích hợp. Đề xuất giải pháp phát triển kết cấu hạ tầng, ưu tiên các hành lang giao thông đa phương thức, đường sắt, logistics, năng lượng xanh, hạ tầng số, công trình ngầm, hạ tầng tầm thấp và vệ tinh; qua đó tái cấu trúc không gian và hình thành các cực tăng trưởng mới.
Bốn là, thúc đẩy khoa học, công nghệ và công nghiệp chiến lược. Đề xuất các bài toán lớn, các chương trình nghiên cứu quốc gia tập trung vào những lĩnh vực trọng điểm; đồng thời sử dụng cơ chế đặt hàng nghiên cứu và mua sắm công để hỗ trợ thương mại hóa công nghệ và tạo thị trường cho sản phẩm trong nước.
Năm là, đổi mới quản trị vùng và quản trị địa phương sau hợp nhất. Đề xuất cơ chế rõ ràng về thẩm quyền, ngân sách, dữ liệu, phối hợp và trách nhiệm giải trình trong liên kết vùng; bảo đảm người dân tại khu vực ngoại vi, nông thôn, miền núi, ven biển và biên giới được tiếp cận công bằng với cơ hội phát triển và dịch vụ công.
Sáu là, phát triển nguồn nhân lực và năng lực dự báo. Đề xuất giải pháp phát triển nhân lực có kỹ năng, đa ngành, đào tạo lại lực lượng lao động, thu hút chuyên gia, phát huy mạng lưới trí thức Việt Nam ở nước ngoài và nâng cao năng lực phân tích, dự báo, cảnh báo sớm phục vụ hoạch định chính sách.
Các ý kiến tại hội thảo thống nhất cho rằng trong bối cảnh mới, không gian phát triển cần được quản trị theo cách tiếp cận tổng thể, liên ngành và liên vùng; vượt qua giới hạn của tư duy phát triển theo địa giới hành chính, hướng tới khai thác hiệu quả các nguồn lực đất đai, biển, đô thị, hạ tầng, dữ liệu và các không gian phát triển mới. Đồng thời, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cần được xem là những động lực trực tiếp kiến tạo các không gian phát triển mới và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Hội thảo cũng nhấn mạnh vai trò của hợp tác quốc tế trong nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và chia sẻ kinh nghiệm quản trị phát triển. Những bài học quốc tế về quy hoạch không gian, phát triển đô thị, kinh tế số, quản trị đổi mới sáng tạo và liên kết vùng được đánh giá là những tham khảo có giá trị đối với quá trình hoạch định chính sách ở Việt Nam.
Ban tổ chức khẳng định các tham luận và kiến nghị của các chuyên gia tại hội thảo sẽ được tổng hợp thành báo cáo chính sách gửi các cơ quan có thẩm quyền, góp phần cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn phục vụ việc triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và các quyết sách của Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV tạo động lực phát triển nhanh, bền vững đất nước trong kỷ nguyên mới.