Đẩy mạnh phát triển ngành công nghiệp ô-tô

Chỉ có số ít nhà cung cấp trong nước có thể tham gia vào chuỗi cung ứng của các nhà sản xuất, lắp ráp ô-tô tại Việt Nam. Trong khi Thailand có gần 700 nhà cung cấp cấp 1, 1.700 nhà cung cấp cấp 2 và 3 thì Việt Nam lần lượt tương ứng chỉ có chưa đến 100 và 150.
Hoạt động sản xuất ô-tô trong nước hầu như mới chỉ ở mức độ lắp ráp. Ảnh: NAM ANH
Hoạt động sản xuất ô-tô trong nước hầu như mới chỉ ở mức độ lắp ráp. Ảnh: NAM ANH

Ô-tô sản xuất, lắp ráp trong nước xuất khẩu sang các nước ASEAN gần như không có khả năng cạnh tranh trực tiếp với sản phẩm sản xuất tại quốc gia đó. Một trong những nguyên nhân căn bản của vấn đề này nằm ở ngành công nghiệp hỗ trợ ô-tô vẫn chưa phát huy được vai trò một cách hiệu quả.

Mối lo tỷ lệ nội địa hóa

Nguyên nhân chính, theo Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA), các quốc gia trong khối có tỷ lệ nội địa hóa hơn 40% sẽ được miễn thuế nhập khẩu khi cập bến Việt Nam. Ngược lại, nhiều mẫu xe sản xuất, lắp ráp trong nước, do tỷ lệ nội địa hóa chỉ khoảng 10% - thấp hơn nhiều so với quy định, nên khi xuất khẩu sang các nước ASEAN vẫn chịu thuế nhập khẩu.

Bên cạnh đó, việc phải nhập khẩu phần lớn linh kiện đã dẫn đến giá thành một chiếc ô-tô sản xuất, lắp ráp tại Việt Nam cao hơn khoảng 20% so các nước trong khu vực.

Bao quát hơn của vấn đề, là sức đóng góp và phát triển của công nghiệp hỗ trợ đối với dòng chảy ngành công nghiệp ô-tô thời gian qua. Thông tin từ Bộ Công thương cho thấy, doanh nghiệp Việt Nam mới chỉ tham gia cung ứng các chi tiết rất nhỏ, giá trị thấp của một chiếc xe, tập trung vào lĩnh vực gia công, sơn hàn, nhựa và cao-su.

Điển hình, trong tổng số 2.000 - 3.000 linh kiện cấu thành một chiếc ô-tô, các nhà máy tại Việt Nam mới sản xuất được 256 linh kiện, phụ tùng ô-tô dưới 9 chỗ ngồi, 13 linh kiện, phụ tùng xe trên 9 chỗ và 18 linh kiện, phụ tùng xe ô-tô tải. Đáng chú ý, trong danh mục sản phẩm cũng không có sản phẩm nào thuộc các bộ phận quan trọng như hệ thống truyền động, hộp số, động cơ.

Thay vào đó, các nhóm sản phẩm được nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia sản xuất, cung ứng là ắc-quy, ba-đờ-sốc, lốp xe, giá đỡ, băng keo, miếng đệm, thảm lót. Hầu hết các sản phẩm liên quan đến công nghệ cơ khí, công nghệ phần mềm, hệ thống truyền động đều phải nhập ngoại.

Đây cũng là một trong số những hạn chế của ngành công nghiệp ô-tô Việt Nam hiện tại. Bộ Công thương cho biết, phần lớn các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ ngành ô-tô chưa đáp ứng được yêu cầu của phía sản xuất và lắp ráp, cũng như chưa tham gia nhiều vào chuỗi sản xuất cung ứng toàn cầu trong ngành ô-tô.

Hoạt động sản xuất, lắp ráp ô-tô trong nước hầu như mới chỉ ở mức độ lắp ráp đơn giản, chưa tạo được sự hợp tác - liên kết và chuyên môn hóa giữa các doanh nghiệp sản xuất - lắp ráp và sản xuất phụ tùng, linh kiện; chưa hình thành được hệ thống các nhà cung cấp nguyên vật liệu và sản xuất linh kiện quy mô lớn.

Để làm ra được một chiếc ô-tô phải cần từ 30.000 - 40.000 chi tiết, linh kiện khác nhau. Vì vậy, ngành công nghiệp ô-tô cần sự hợp tác của rất nhiều ngành công nghiệp khác như: Cơ khí chế tạo, điện tử, công nghiệp hóa chất... Song việc liên kết giữa các ngành sản xuất còn lỏng lẻo, chưa có sự kết hợp chặt chẽ nên hiệu quả chưa cao.

Đến nay, theo Bộ Công thương, chỉ có số ít nhà cung cấp trong nước có thể tham gia vào chuỗi cung ứng của các nhà sản xuất, lắp ráp ô-tô tại Việt Nam. Trong khi Thailand có gần 700 nhà cung cấp cấp 1, 1.700 nhà cung cấp cấp 2 và 3 thì Việt Nam lần lượt tương ứng chỉ có chưa đến 100 và 150.

Ngoài ra, hiện nay Việt Nam vẫn phụ thuộc chủ yếu vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu để cung cấp các loại vật liệu này. Theo Bộ Công thương, khoảng 80-90% nguyên liệu chính như thép hợp kim, hợp kim nhôm, hạt nhựa, cao-su kỹ thuật phải nhập khẩu, hay thậm chí cả vật liệu làm khuôn mẫu cũng phải nhập khẩu.

Mỗi năm, các doanh nghiệp phải chi khoảng hơn 5 tỷ USD để nhập khẩu linh kiện và phụ tùng phục vụ sản xuất, lắp ráp và sửa chữa xe. Điều này làm giảm tính chủ động trong quá trình sản xuất, làm tăng chi phí sản xuất - qua đó giảm sức cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho ngành ô-tô.

Xuất khẩu khó đủ đường

Bộ Công thương đánh giá, năng lực cạnh tranh của sản phẩm và doanh nghiệp xuất khẩu ô-tô của Việt Nam còn hạn chế. Hiện tại, các doanh nghiệp nhập khẩu linh kiện, phụ tùng về lắp ráp với giá tương tự như mua ở nước ngoài nhưng chi phí logistics, thuế nhập khẩu, lưu kho tại Việt Nam khiến giá thành sẽ cao hơn so với các nước.

Trong khi chi phí sản xuất ở nước ngoài rẻ hơn (nhờ dây chuyền sản xuất lớn sẵn có, chi phí khấu hao trên từng sản phẩm cao) tạo điều kiện để giảm giá thành sản phẩm. Do đó, vấn đề sản xuất trong nước, làm chủ công nghệ, chủ động nguồn cung để có giá thành cạnh tranh khi xuất khẩu ra thế giới là bài toán không hề dễ trong bối cảnh hiện tại.

Bên cạnh đó, là vấn đề vượt qua các rào cản về kỹ thuật khi Việt Nam thực hiện cam kết trong các hiệp định thương mại đã ký kết của sản phẩm và doanh nghiệp xuất khẩu ô-tô của Việt Nam còn hạn chế, chưa tận dụng được các cơ hội từ Hiệp định thương mại tự do EU - Việt Nam (EVFTA) với cam kết EU sẽ mở cửa thị trường ô-tô cho Việt Nam.

Theo đó, ô-tô con thuộc nhóm đang hưởng thuế ưu đãi tối huệ quốc (MFN) 10% sẽ giảm về 0% sau 7 năm, còn linh kiện ô-tô có thuế nhập khẩu từ 3 - 4% sẽ được cắt bỏ ngay khi EVFTA có hiệu lực.

Có thể nói, EVFTA vừa là cơ hội, vừa là thách thức rất lớn cho doanh nghiệp Việt khi không chỉ tạo cơ hội cho việc nhập khẩu ô-tô về Việt Nam mà còn mở đường cho xe lắp ráp xuất khẩu sang EU. Những chiếc ô-tô sản xuất, lắp ráp trong nước cũng sẽ hưởng thuế xuất khẩu bằng 0% nếu đạt được tỷ lệ nội địa hóa theo quy định.

Đồng thời, theo Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA), thuế nhập khẩu ô-tô từ ASEAN về Việt Nam sẽ xuống mức 0% (với xe có tỷ lệ nội địa hóa trong khối từ 40% trở lên) từ ngày 1/1/2018. Theo đó, các mẫu ô-tô nhập khẩu từ Thailand, Indonesia hay Malaysia sẽ có thuế nhập khẩu giảm về 0% với những mẫu xe đạt tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm trong khối từ 40% trở lên.

Tuy nhiên, thực tế các hãng xe trong nước khó khăn trong xuất khẩu khi chưa đáp ứng được những yêu cầu trên.

Số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa, chủ yếu là doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ tham gia vào sản xuất lắp ráp ô-tô còn rất ít. Theo số liệu của Cục Công nghiệp, với dòng xe cá nhân, hiện mới có chưa tới 80 doanh nghiệp sản xuất linh kiện, cung cấp cho 10 nhà sản xuất gốc, trong đó, có 18 nhà cung cấp cấp 1 và 58 nhà cung cấp cấp 2, cấp 3.

Con số này quá nhỏ bé nếu so với gần 2.000 nhà sản xuất linh kiện tại Thailand và 1.000 tại Indonesia. Không những vậy, linh kiện của các nhà sản xuất tại Việt Nam chủ yếu là các cụm chi tiết đơn giản, cồng kềnh như: khung ghế, ắc-quy, chi tiết nhựa cỡ lớn.

Chuỗi giá trị ngành ô-tô nằm ở hai phần: Hạ nguồn gồm các khâu thiết kế, sản xuất linh kiện, phụ tùng cấp 1, cấp 2…, ước tính chiếm gần 60% giá trị thành phẩm xe, khâu này các doanh nghiệp ô-tô nội địa Việt Nam hoàn toàn bị động.

Thượng nguồn gồm lắp ráp, phân phối, bán hàng và chăm sóc khách hàng (vỏ xe, lắp ráp, sơn, hoàn thiện…), chỉ đóng góp khoảng 15% tổng giá trị xe, thì đây chính là khâu các doanh nghiệp Việt Nam đang làm.

Có thể bạn quan tâm

Số hóa hỗ trợ phát triển kinh tế di sản

Trong phát triển kinh tế di sản, hoạt động số hóa góp phần quan trọng vào việc bảo tồn, phát triển, để các di sản đem lại lợi ích về mặt kinh tế. Thực tiễn tại Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm lần thứ 6 diễn ra tại tỉnh Khánh Hòa từ 26 đến 28/6 là minh chứng sống động cho lợi ích của số hóa di sản.

Triển khai chính sách gia hạn nộp thuế, tiền thuê đất

Triển khai chính sách gia hạn nộp thuế, tiền thuê đất

Cục Thuế vừa ban hành công điện yêu cầu Thuế các tỉnh, thành phố cùng các đơn vị trực thuộc khẩn trương triển khai Nghị định số 245/2026/NĐ-CP của Chính phủ về gia hạn thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng (GTGT), thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), thuế thu nhập cá nhân (TNCN) và tiền thuê đất trong năm 2026 nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, hộ và cá nhân kinh doanh vượt qua khó khăn, duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Hàng tồn kho là một trong những nguyên nhân khiến lợi nhuận chưa thể chuyển hóa thành tiền mặt. Ảnh: NAM ANH

Dòng tiền mới là phép thử

Dù lợi nhuận vẫn hiện hữu trên báo cáo tài chính, nhưng dòng tiền kinh doanh của nhiều doanh nghiệp bất động sản lại tiếp tục âm. Khoảng cách kéo dài giữa “lãi trên sổ sách” và “tiền thật” có thể biến thành áp lực thanh khoản, đặc biệt với doanh nghiệp có nợ ngắn hạn lớn.

Đại học Bách khoa là một trong những trung tâm đào tạo và nghiên cứu chip bán dẫn (IC) trọng điểm của Việt Nam. Ảnh: ANH QUÂN

Xây dựng năng lực tự chủ bán dẫn

Việt Nam đã có đội ngũ thiết kế vi mạch, nhưng khoảng cách từ bản thiết kế đến con chip hoàn chỉnh vẫn là nút thắt lớn. Sự ra đời của Trung tâm Quốc gia hỗ trợ sản xuất thử chip bán dẫn được kỳ vọng sẽ tạo nền tảng cho mục tiêu tự chủ công nghệ.

Thị trường điện Việt Nam vẫn có sức hút đáng kể đối với dòng vốn tư nhân.

Mở khung chính sách cho năng lượng

Trong quá trình hoàn thiện dự thảo Luật Điện lực (sửa đổi), nhóm các nhà đầu tư năng lượng quy mô lớn - từ điện gió ngoài khơi đến điện khí LNG - tiếp tục gửi nhiều kiến nghị liên quan đến tín dụng, bảo đảm đầu tư và hợp đồng mua bán điện.

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận tín dụng xanh. Ảnh: NGUYỆT ANH

Nút thắt “tiêu chí” của dòng vốn xanh

Tín dụng xanh tại Việt Nam tăng trưởng tích cực nhưng chủ yếu tập trung vào các dự án lớn. Doanh nghiệp nhỏ vẫn khó tiếp cận do nút thắt tiêu chí về môi trường, dữ liệu và quản trị.

Hiểu rõ câu chuyện nâng hạng

Việc thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam được nâng hạng, về tổng thể sẽ mang tính tích cực. Nhưng như nhiều chuyên gia chứng khoán và những người có uy tín trên thị trường khẳng định, nâng hạng vốn dĩ là câu chuyện dài. Mà đã là câu chuyện dài thì sẽ có từng phần khác nhau, và tất nhiên có cả những kịch tính, bất ngờ.

Phần lớn các phòng thí nghiệm được xây dựng dựa trên năng lực sẵn có của các đơn vị chủ trì. Ảnh: NGUYỆT ANH

Đánh thức động lực kinh tế tri thức

Phòng thí nghiệm không đơn thuần là nơi đặt những thiết bị nghiên cứu hiện đại. Đây là cái nôi sản sinh công nghệ lõi, là nơi hình thành những ý tưởng có khả năng thay đổi năng lực cạnh tranh của cả nền kinh tế.

Giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài. Ảnh: NAM ANH

“Hòn đá tảng” của thị trường chứng khoán

Trong các báo cáo phân loại thị trường hằng năm, tình trạng hết tỷ lệ sở hữu nước ngoài (room ngoại) liên tục được một công ty tài chính đa quốc gia (MSCI - Mỹ) nhắc đến như một hạn chế lớn của thị trường chứng khoán Việt Nam.

Trên sàn chứng khoán, giá trị vốn hóa của Viettel Global vượt qua con số 10 tỷ USD.

Mở đường cho doanh nghiệp công nghệ lên sàn

FPT, CMC đang là những dấu ấn hiếm hoi của doanh nghiệp công nghệ trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn, dữ liệu và nền kinh tế số tăng tốc, việc mở rộng cánh cửa thị trường vốn cho doanh nghiệp công nghệ được kỳ vọng sẽ tạo thêm những động lực tăng trưởng mới.

Thanh khoản tạo đáy

Sau khi giá trị giao dịch (GTGD) khớp lệnh tại sàn HoSE giảm xuống dưới ngưỡng 10.000 tỷ đồng/phiên vào ngày 11/6, đã xuất hiện những tín hiệu phục hồi sau đó. Trong phiên hôm qua (17/6), GTGD tại HoSE đã vượt ngưỡng 20.000 tỷ đồng.

Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng để đón đầu các dự án đầu tư công nghệ có giá trị gia tăng cao. Ảnh: NAM NGUYỄN

Bỏ tư duy thu hút vốn nước ngoài bằng mọi giá

Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam từ nền kinh tế dựa vào gia công, lắp ráp và lợi thế chi phí thấp sang nền kinh tế dựa vào đổi mới sáng tạo, công nghệ và giá trị gia tăng cao, nâng tầm vị thế quốc gia trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

World Cup không chỉ có bóng đá

Những thông số như doanh thu bán vé, số lượng người xem trên toàn thế giới… đã chứng minh vị trí số 1 của World Cup trong các sự kiện thể thao. Cũng vì lẽ đó mà cách thức tổ chức, vận hành của World Cup có thể gợi mở hoặc tạo ra xu hướng cho các sự kiện thể thao.

Cánh đồng điện gió ở Lâm Đồng. Ảnh: NAM ANH

Những “điểm nghẽn” trong làn sóng đầu tư năng lượng

Trong bối cảnh Quy hoạch điện VIII đang được đẩy mạnh thực thi, Lâm Đồng trở thành tâm điểm của dòng vốn đầu tư vào điện mặt trời và điện gió. Tuy nhiên, đằng sau những con số nghìn tỷ và công suất thiết kế lên đến hàng nghìn MW, bức tranh thực tế vẫn tồn tại vấn đề “mông lung” về công nghệ.

Khách đến mua vẫn chiếm đa số, song các giao dịch giá trị lớn không nhiều. Ảnh: THANH HOA

Chu kỳ tâm lý mới trên thị trường vàng

Sau giai đoạn tăng nóng từ cuối năm 2024 đến đầu năm 2026, giá vàng trong nước đang trải qua đợt điều chỉnh mạnh. Tâm lý nhà đầu tư cũng thay đổi rõ rệt, từ nỗi sợ bỏ lỡ cơ hội sang trạng thái thận trọng và hoài nghi hơn với triển vọng của thị trường.

Sự phát triển nhanh chóng của AI đặt ra yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện khung pháp lý để quản lý hiệu quả công nghệ này. Ảnh: HẢI NAM

Quyền sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm AI tạo ra

Từ những ca khúc, bức tranh, phần mềm cho đến các sáng chế công nghệ, trí tuệ nhân tạo (AI) đang tham gia ngày càng sâu vào quá trình sáng tạo của con người. Tuy nhiên, khi các sản phẩm ấy tạo ra giá trị kinh tế, một câu hỏi lớn được đặt ra là việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ sẽ được thực hiện như thế nào?

Đồ họa: ANH QUÂN

Cảnh báo lừa đảo trong giao dịch thương mại quốc tế

Số hóa và trí tuệ nhân tạo (AI) khiến các hình thức lừa đảo trong thương mại quốc tế trở nên ngày càng tinh vi. Cơ quan quản lý và chuyên gia khuyến cáo doanh nghiệp cần tăng cường xác minh đối tác và siết chặt quy trình giao dịch.

Nhà đầu tư tìm hiểu thông tin về dự án tại sàn giao dịch bất động sản. Ảnh: NAM ANH

Bất động sản không còn là cuộc chơi của kỳ vọng

Sau một chu kỳ tăng nóng kéo dài, thị trường bất động sản đang chứng kiến sự thay đổi tâm lý của nhà đầu tư, từ kiếm lợi nhuận nhờ chênh lệch giá sang tìm kiếm dòng tiền khai thác. Sự thay đổi này bắt nguồn từ việc nhà đầu tư đã không còn tin tuyệt đối vào khả năng tăng giá liên tục của bất động sản.

Phòng bệnh hơn chữa bệnh

Việc Công ty CP Đầu tư xây dựng 3-2 gửi văn bản đến cơ quan quản lý đề nghị kiểm tra giao dịch cổ phiếu (CP) của chính doanh nghiệp (DN) vì lo ngại những tình huống khó lường đã nói lên một tình huống, dù không phổ biến, nhưng luôn phải thực hiện là DN phải có kế hoạch theo dõi CP của mình để phòng tránh rủi ro.

Xếp hạng ẩm thực

Những ngày gần đây, chủ đề liên quan đến việc các đơn vị kinh doanh trong lĩnh vực ăn uống (F&B) được lọt vào bảng xếp hạng hoặc gắn sao Michelin được bàn luận sôi nổi. Mặc dù sao Michelin vốn luôn được xem là một tiêu chuẩn của ẩm thực, cũng giống như việc gắn sao khách sạn, nhưng sự phát triển của công nghệ cũng kéo theo nhiều thay đổi rất đáng suy nghĩ.

Khách hàng dùng điện thoại truy xuất thông tin hàng hóa qua mã QR .Ảnh: NAM ANH

Nền tảng dữ liệu truy xuất nguồn gốc hàng hóa

Người tiêu dùng Việt Nam ngày càng quen với thao tác dùng điện thoại thông minh quét mã QR trên bao bì sản phẩm. Điều này đang đặt ra đòi hỏi ngày càng cao về tính xác thực và khả năng chứng minh nguồn gốc xuất xứ của những công cụ này.