Chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm: Sự lựa chọn cân bằng và thông minh

Ngày 4/5, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, tăng cường kiểm tra, giám sát, xây dựng bộ máy Nhà nước tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Đây là văn kiện quan trọng, một bước ngoặt trong định hướng cải cách thể chế của đất nước.

Triển khai chuyển đổi số liên thông, đồng bộ để thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp thông suốt, hiệu quả, không gián đoạn.
Triển khai chuyển đổi số liên thông, đồng bộ để thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp thông suốt, hiệu quả, không gián đoạn.

Điểm nổi bật của Nghị quyết 68 là khẳng định yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy “tiền kiểm” sang “hậu kiểm” ở những lĩnh vực phù hợp. Thoạt nhìn, điều này có vẻ như chỉ là sự thay đổi kỹ thuật quản lý, nhưng thực chất gắn với một triết lý quản trị mới: Nhà nước không thể và cũng không nên ôm đồm kiểm soát mọi thứ từ đầu, mà phải chuyển sang quản trị hiện đại, dựa trên dữ liệu, công nghệ và trách nhiệm giải trình.

Tiền kiểm và hậu kiểm:

Tiêu chí
Tiền kiểm
Hậu kiểm
Khái niệm
Nhà nước thẩm định, cấp phép trước khi tổ chức/cá nhân hoạt động
Doanh nghiệp được quyền hoạt động, Nhà nước giám sát và xử lý sau
Ưu điểm
- Ngăn ngừa rủi ro sớm, nhất là trong y tế, môi trường, an ninh quốc gia.
- Tạo sự an tâm cho xã hội khi có “người gác cổng”.
- Thủ tục thông thoáng, giảm chi phí hành chính
- Khuyến khích đổi mới, phù hợp kinh tế số.
- Tăng trách nhiệm giải trình: ai làm sai phải chịu hậu quả.
Nhược điểm
- Thủ tục phức tạp, tốn kém, dễ phát sinh “xin-cho”, nhũng nhiễu.
- Kìm hãm đổi mới công nghệ.
- Thiếu linh hoạt trước mô hình kinh doanh mới.
- Rủi ro “hậu quả xảy ra rồi mới xử lý”.
- Đòi hỏi cơ sở dữ liệu và năng lực giám sát mạnh.
- Phải có chế tài và tư pháp độc lập, hiệu quả.

Nhìn từ bảng so sánh, rõ ràng không có mô hình nào tuyệt đối, vấn đề là phải cân nhắc mức độ rủi ro và năng lực thực thi để quyết định khi nào “tiền kiểm”, khi nào “hậu kiểm”.

Kinh nghiệm quốc tế: Khi quản lý đi đôi với sáng tạo

Nhiều quốc gia đã áp dụng các mô hình quản trị mới để dung hòa giữa quản lý và tự do sáng tạo.

Singapore: Xây dựng “regulatory sandbox” trong lĩnh vực fintech. Doanh nghiệp được thử nghiệm sản phẩm, dịch vụ trong một khung pháp lý tạm thời, hạn chế rủi ro nhưng vẫn khuyến khích sáng tạo. Đây là minh chứng sống động cho triết lý “mở cửa có kiểm soát”.

Estonia: Triển khai hệ thống xử phạt điện tử và quản lý vi phạm hành chính trực tuyến. Vi phạm được phát hiện, xử lý và nộp phạt nhanh chóng, minh bạch. Cơ chế này biến “hậu kiểm” thành công cụ hiệu quả, nhờ dựa trên dữ liệu và công nghệ số.

Những kinh nghiệm này cho thấy, hậu kiểm chỉ hiệu quả khi gắn liền với hạ tầng dữ liệu, công nghệ và hệ thống pháp quyền vững mạnh.

Một trong những điểm mấu chốt là tính khả thi của chế tài. Nếu luật nghiêm nhưng không được thực thi, hậu kiểm sẽ trở nên hình thức. Nhiều nước đang phát triển đã rơi vào tình trạng mở cửa dễ dàng nhưng chế tài yếu, dẫn đến hàng giả, thực phẩm bẩn tràn lan.

Do vậy, hậu kiểm chỉ bền vững khi hệ thống tư pháp độc lập, hiệu lực, hiệu quả. Tòa án phải đủ năng lực xử lý nhanh các tranh chấp, bảo đảm “đúng người, đúng tội, đúng pháp luật”, tạo niềm tin cho doanh nghiệp và xã hội.

Sự lựa chọn cân bằng và thông minh

Nghị quyết 68 chủ trương chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm ở những lĩnh vực phù hợp. Đây là hướng đi đúng để khơi thông đầu tư, kinh doanh và giải phóng năng lực xã hội. Tuy nhiên, việc chuyển đổi cần dựa trên những nguyên tắc rõ ràng:

Tiền kiểm vẫn cần duy trì trong các lĩnh vực rủi ro cao, tác động diện rộng và khó khắc phục (y tế, tài chính-ngân hàng, an toàn thực phẩm, môi trường, an ninh mạng).

Hậu kiểm nên là chủ đạo trong những lĩnh vực đổi mới sáng tạo, nơi rủi ro có thể quản lý được (dịch vụ thông thường, khởi nghiệp công nghệ, thương mại).

Để hậu kiểm vận hành hiệu quả, Việt Nam phải: Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia liên thông, minh bạch, hỗ trợ giám sát thời gian thực; ứng dụng công nghệ số, AI để phát hiện vi phạm nhanh chóng; đào tạo đội ngũ giám sát liêm chính, tinh gọn, đủ năng lực; ban hành chế tài đủ mạnh, đi đôi với tư pháp độc lập và hiệu quả; phát huy vai trò giám sát của xã hội dân sự, báo chí, hiệp hội và công chúng.

Đây không chỉ là cải cách thủ tục, mà là chuyển đổi mô hình quản trị quốc gia, từ hành chính nặng nề sang quản trị thông minh, dựa trên dữ liệu và trách nhiệm giải trình.

Nghị quyết 68-NQ/TW không chỉ bàn chuyện kỹ thuật quản lý, mà còn mở ra một triết lý quản trị mới: từ quản lý chặt chẽ để ngăn ngừa mọi rủi ro, sang khuyến khích tự do sáng tạo, song hành với trách nhiệm giải trình và cơ chế giám sát hiệu quả. Thành công chỉ đến nếu chúng ta xác định đúng ranh giới tiền kiểm-hậu kiểm, đầu tư mạnh vào dữ liệu số, nâng cao năng lực giám sát, xây dựng chế tài nghiêm minh và củng cố tư pháp độc lập.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy "cân bằng mới là chìa khóa". Tiền kiểm ở nơi cần để bảo vệ xã hội, hậu kiểm ở chỗ nên để giải phóng sáng tạo. Làm được như vậy, Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị sẽ trở thành động lực cải cách thể chế thực sự, góp phần đưa Việt Nam tiến nhanh và vững chắc trên con đường phát triển.

Có thể bạn quan tâm

Khoa học công nghệ là động lực để phát triển đất nước thời kỳ mới. (Ảnh: Sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội trong giờ học về Trí tuệ nhân tạo (AI)).

Từ độc lập đến hùng cường: Một Việt Nam đứng vững giữa thời đại

Nếu thế hệ cha anh đã anh dũng giành lấy quyền quyết định vận mệnh dân tộc, thì thế hệ hôm nay mang trên vai sứ mệnh xây đắp nội lực để đất nước thực sự làm chủ tương lai của chính mình. Ngày Quốc khánh 2/9 là dịp để chúng ta nhìn lại chặng đường gian lao đã đi qua để soi rọi con đường phía trước.

Chính sách xóa đói giảm nghèo của Chính phủ làm thay đổi tích cực cuộc sống của đồng bào các dân tộc thiểu số.

Chính sách xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam qua 40 năm đổi mới

Trong 40 năm qua (1986-2026), cùng với quá trình đổi mới tư duy phát triển và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chính sách xóa đói, giảm nghèo đã có bước chuyển căn bản cả về quan điểm, mục tiêu và phương thức thực hiện.

Cán bộ kỹ thuật VNPT hướng dẫn giáo viên Trường Tiểu học Đại Thịnh (sau sáp nhập) thao tác sử dụng các tính năng của hệ sinh thái giáo dục VnEdu. (Ảnh: VNPT)

Số hóa quản trị trường học sau sáp nhập và lời giải từ VnEdu

Đứng trước bài toán quy mô tăng gấp đôi sau sáp nhập, Trường Tiểu học Đại Thịnh (Mê Linh, Hà Nội) đã nhanh chóng giải tỏa áp lực quản trị và chuẩn hóa dòng dữ liệu “đúng - đủ - sạch - sống” nhờ điểm tựa vững chắc từ Hệ sinh thái giáo dục số VnEdu của VNPT.

OpenAI cắt quyền truy cập mô hình đối với Cursor sau khi SpaceX mua lại

OpenAI cắt quyền truy cập mô hình đối với Cursor sau khi SpaceX mua lại

Ngay sau khi SpaceX hoàn tất thương vụ thâu tóm trị giá 60 tỷ USD đối với Anysphere, công ty chủ quản của công cụ lập trình AI đình đám Cursor, OpenAI đã lập tức tuyên bố trên mạng xã hội X và website chính thức rằng sẽ chấm dứt hợp tác và khóa quyền truy cập trực tiếp của Cursor vào toàn bộ các mô hình trí tuệ nhân tạo của họ.

Giới thiệu sản phẩm ứng dụng AI tại Ngày hội Trí tuệ nhân tạo Việt Nam năm 2025. (Ảnh: HÀ LINH)

Chuyển đổi toàn diện quốc gia bằng trí tuệ nhân tạo

Ngày 28/8/2026, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 1671/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Quyết định này thay thế Quyết định số 127/QĐ-TTg ngày 26/1/2021 về ban hành Chiến lược quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng Trí tuệ nhân tạo đến năm 2030.

Đà Nẵng triển khai thành công mô hình Trung tâm điều hành thông minh (IOC).

Nâng cao năng lực số cho cán bộ cơ sở

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, năng lực số không còn là kỹ năng bổ trợ, mà đã trở thành một bộ phận thiết yếu của năng lực thực thi công vụ. Đổi mới phương thức đào tạo sẽ giúp nâng cao năng lực số, giảm tình trạng cán bộ cấp cơ sở không đồng đều về năng lực số ở một số địa phương hiện nay.

Các diễn giả chính và thành viên Ban tổ chức hội thảo. (Ảnh: Tuấn Anh)

Gợi mở hướng nghiên cứu, thúc đẩy cơ hội hợp tác mới trong công nghệ giáo dục và trí tuệ nhân tạo

Hội thảo nhằm tạo diễn đàn để các nhà khoa học, chuyên gia và các bên liên quan cùng trao đổi, thảo luận về những thay đổi mà AI đang tạo ra đối với giáo dục, qua đó gợi mở các hướng nghiên cứu và thúc đẩy những cơ hội hợp tác mới trong lĩnh vực công nghệ giáo dục và trí tuệ nhân tạo.

Ông Nguyễn Khắc Lịch, Cục trưởng Cục Công nghệ số và trí tuệ nhân tạo, công bố Giải thưởng tại cuộc họp báo định kỳ của Bộ Khoa học và Công nghệ. (Ảnh: HÀ LINH)

Giải thưởng Make in Vietnam có hạng mục riêng về trí tuệ nhân tạo

Giải thưởng “Sản phẩm công nghệ số Make in Vietnam” năm 2026 lần đầu tiên có hạng mục riêng dành cho sản phẩm trí tuệ nhân tạo (AI) xuất sắc nhằm khuyến khích doanh nghiệp Việt Nam phát triển các sản phẩm trí tuệ nhân tạo có giá trị gia tăng cao, góp phần thúc đẩy hệ sinh thái trí tuệ nhân tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Giao diện Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo. (Ảnh chụp màn hình)

Vận hành Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo

Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo (AI) và cơ sở dữ liệu quốc gia về hệ thống trí tuệ nhân tạo đã được Bộ Khoa học và Công nghệ đưa vào vận hành, hình thành một đầu mối thống nhất phục vụ quản lý nhà nước, cung cấp thông tin và hỗ trợ phát triển hệ sinh thái trí tuệ nhân tạo Việt Nam an toàn, có trách nhiệm.

Robot taxi tự hành do Công ty cổ phần Phenikaa-X nghiên cứu phát triển là một trong bốn dòng phương tiện được thử nghiệm.

Kiến tạo môi trường để công nghệ được thử nghiệm

Việc Công ty cổ phần Phenikaa-X là đơn vị đầu tiên tại Hà Nội triển khai thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đối với phương tiện tự hành đánh dấu bước chuyển từ nghiên cứu, phát triển công nghệ sang kiểm chứng trong thực tế, từ quản lý công nghệ mới sang kiến tạo môi trường để công nghệ được thử nghiệm và đưa vào thực tiễn.

Doanh nghiệp tìm hiểu giải pháp hạ tầng trung tâm dữ liệu tại DCCI Summit 2026 (Ảnh Viettel IDC)

Khơi thông dòng chảy dữ liệu

Việt Nam đang từng bước hình thành không gian dữ liệu thống nhất, mở rộng khả năng kết nối, chia sẻ và đưa dữ liệu vào lưu thông. 

Nguyễn Vũ An Chi, học sinh lớp 11 Trường trung học phổ thông Lý Thái Tổ, Hà Nội. (Ảnh: VNPT)

Năm học mới và những “lớp học” trong chiếc điện thoại

Từ thời khóa biểu, tài liệu ôn tập đến những buổi học trực tuyến, chiếc điện thoại kết nối internet đang hiện diện trong nhiều hoạt động học tập hằng ngày của người trẻ. Khi năm học mới bắt đầu, nhu cầu kết nối vì thế không chỉ gắn với liên lạc hay giải trí, mà ngày càng gắn với khả năng học tập chủ động và linh hoạt hơn.

Tỉnh đoàn Tây Ninh và MobiFone Tây Ninh ký kết Thỏa thuận hợp tác chiến lược về chuyển đổi số giai đoạn 2026-2030. (Ảnh: THANH PHONG)

Tuổi trẻ Tây Ninh tiên phong chuyển đổi số

Nhằm cụ thể hóa mục tiêu về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, ngày 27/8, Tỉnh đoàn Tây Ninh tổ chức Hội nghị tập huấn nâng cao năng lực số cho cán bộ, đoàn viên, thanh niên, học sinh, sinh viên bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến tại 150 điểm cầu ở các xã, phường và trường học trên địa bàn.

(Ảnh minh họa: Bộ Khoa học và Công nghệ)

Không chỉ “có sóng”, người dân cần internet đủ nhanh, ổn định

Điện thoại hiển thị vạch sóng nhưng người dân vẫn khó gửi hồ sơ, truy cập dịch vụ số; có nơi việc liên lạc còn phụ thuộc vào “may rủi”. Thông tư số 51/2026/TT-BKHCN đưa ra cách tiếp cận mới: phổ cập viễn thông công ích không chỉ được tính bằng vùng phủ, mà phải được kiểm chứng bằng chất lượng kết nối thực tế.

Cần thu hút và giữ chân những tổng công trình sư, chuyên gia, nhà khoa học đủ năng lực đảm nhận các nhiệm vụ công nghệ chiến lược. (Ảnh: Bộ Khoa học và Công nghệ)

Tạo sức hút mới với nhân lực công nghệ chiến lược

Người giỏi có thể được thu hút bằng thu nhập, nhưng để họ ở lại và tạo ra kết quả, cần những bài toán đủ lớn, phòng thí nghiệm hiện đại, đội ngũ cộng sự và quyền quyết định chuyên môn. Nghị định số 260/2026/NĐ-CP đã mở cơ chế theo hướng đó; vấn đề còn lại là đưa chính sách vào thực tiễn.

Tăng cường khả năng ứng dụng, thương mại hóa đối với sản phẩm công nghệ. (Ảnh: Bộ Khoa học và Công nghệ)

Đặt hàng từ thực tiễn, đo kết quả bằng sản phẩm

Thay vì bắt đầu từ đề xuất nghiên cứu và chờ đến khi nghiệm thu mới đánh giá, nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược sẽ được hình thành từ bài toán thực tế, chia theo từng gói công việc và sàng lọc qua các mốc kết quả. Cách làm mới hướng nguồn lực nhà nước vào công nghệ có khả năng ứng dụng, thương mại hóa.