Chuyển đổi số ngành ngân hàng: Cần quản trị dữ liệu như một tài sản chiến lược

Ông Nguyễn Quốc Hùng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cho rằng, nhiều tổ chức tín dụng đã chuyển từ số hóa từng quy trình sang thiết kế lại toàn bộ hành trình khách hàng; từ việc “sở hữu dữ liệu rời rạc” sang “quản trị dữ liệu như một tài sản chiến lược”.

Quang cảnh phiên toàn thể Smart Banking 2025.
Quang cảnh phiên toàn thể Smart Banking 2025.

Ngày 25/9, tại Hà Nội, Hội thảo và triển lãm cấp cao thường niên ngành ngân hàng – Smart Banking 2025 – chính thức diễn ra với chủ đề “Đột phá chuyển đổi số ngành ngân hàng: Dữ liệu là nền tảng, khách hàng là trung tâm”.

Sự kiện được tổ chức dưới sự bảo trợ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, do Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) phối hợp cùng Tập đoàn IEC thực hiện, Hiệp hội Dữ liệu quốc gia và Hiệp hội An ninh mạng quốc gia đồng hành.

Ngành ngân hàng đang đối mặt với không ít thách thức trong việc khai thác hiệu quả nguồn dữ liệu: làm sao để chuyển hóa khối dữ liệu khổng lồ thành trải nghiệm liền mạch, lấy khách hàng làm trung tâm ở mọi điểm chạm; làm sao để kết hợp trí tuệ nhân tạo (AI), phân tích dữ liệu lớn và các công nghệ mới nhằm mang đến dịch vụ cá nhân hóa theo thời gian thực, đồng thời vẫn bảo đảm an toàn, bảo mật. Đó không chỉ là bài toán công nghệ, mà còn là chiến lược dài hạn để biến dữ liệu thành tài sản chiến lược, nuôi dưỡng niềm tin và sự gắn kết của khách hàng.

Từ “sở hữu dữ liệu rời rạc” sang “quản trị dữ liệu như một tài sản chiến lược”

Phát biểu khai mạc, ông Nguyễn Quốc Hùng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) cho rằng, nhiều tổ chức tín dụng đã chuyển từ số hóa từng quy trình sang thiết kế lại toàn bộ hành trình khách hàng; từ việc “sở hữu dữ liệu rời rạc” sang “quản trị dữ liệu như một tài sản chiến lược”; từ phản ứng thụ động sang dự báo, chủ động gợi mở nhu cầu.

ong-nguyen-quoc-hung.jpg
Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam Nguyễn Quốc Hùng phát biểu khai mạc.

Theo Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký VNBA, đến nay, hầu hết dịch vụ ngân hàng cơ bản đã được số hóa trên các kênh điện tử; nhiều ngân hàng ghi nhận trên 95% giao dịch thực hiện qua kênh số thay vì tại quầy truyền thống. Hệ sinh thái ngân hàng số ngày càng đa dạng, thông minh đem lại tiện ích hấp dẫn cho khách hàng, từ chuyển tiền, thanh toán hóa đơn, gửi tiết kiệm đến vay online… ngay trên điện thoại.

Nhiều nghiệp vụ cơ bản đã được số hóa hoàn toàn 100% (tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, mở thẻ ngân hàng, ví điện tử, chuyển tiền, cho vay...).

Đến nay, có gần 87% người Việt Nam trưởng thành có tài khoản ngân hàng; giá trị thanh toán không dùng tiền mặt gấp 25 lần GDP. Trong 7 tháng đầu năm 2025 so với cùng kỳ năm 2024, giao dịch không dùng tiền mặt qua mã QR tăng 66,73% về số lượng và 159% về giá trị.

Việt Nam cũng tiên phong kết nối thanh toán bán lẻ xuyên biên giới qua mã QR với Thái Lan, Campuchia và Lào, hướng tới mở rộng trong khu vực châu Á. Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước là cơ quan với 7 năm liên tiếp dẫn đầu bảng xếp hạng cải cách hành chính của các bộ, cơ quan ngang bộ.

TS Nguyễn Quốc Hùng chỉ ra rằng, để đạt tới những “đột phá” thực sự trong năm 2025 và các giai đoạn tiếp theo, cần giải quyết đồng thời nhiều bài toán đan xen: chuẩn hóa và làm sạch dữ liệu ở quy mô toàn hệ thống; xây dựng kiến trúc dữ liệu hợp nhất thay vì chồng lớp giải pháp; thiết lập khung quản trị dữ liệu–bảo mật–quyền riêng tư–đạo đức sử dụng dữ liệu nhất quán. Tăng cường khả năng liên thông dữ liệu có kiểm soát giữa ngân hàng với các nền tảng định danh, dữ liệu dân cư, doanh nghiệp, thương mại điện tử, bảo hiểm, viễn thông; nâng cao năng lực phân tích thời gian thực phục vụ ra quyết định tức thời trong cấp tín dụng, quản lý rủi ro hoạt động và giám sát gian lận.

"Để có thể cung cấp các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng có hàm lượng công nghệ cao, dịch vụ cá nhân hóa cao nhằm tăng trải nghiệm của khách hàng, việc thu thập, khai thác và xử lý dữ liệu luôn được coi trọng", TS Nguyễn Quốc Hùng nhận định.

Theo ông Nguyễn Quốc Hùng, sự phát triển nhanh chóng của chiến lược kinh doanh dựa trên dữ liệu trong ngành ngân hàng đã tạo ra những lợi ích đáng kể. Cụ thể, các ngân hàng có thể tăng cường việc tiếp cận khách hàng, tạo ra các sản phẩm và dịch vụ có tính cá nhân hóa cao, đồng thời, tối ưu hóa quy trình phát hiện rủi ro và phòng ngừa gian lận, cải thiện quy trình vay và xử lý hồ sơ vay vốn, tăng cường khả năng dự đoán và phân tích thị trường.

Đến nay, nhiều tổ chức tín dụng đã triển khai các giải pháp cho phép khách hàng mở tài khoản thanh toán dựa trên xác thực dữ liệu dân cư; cho phép định danh, xác minh thông tin khách hàng bằng thẻ căn cước công dân gắn chíp hoặc ứng dụng VNeID; làm sạch thông tin khách hàng với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; tối ưu quá trình cho vay bằng các giải pháp chấm điểm tín dụng, xác thực thông tin đa chiều bằng dữ liệu dân cư…

Tính đến ngày 13/6/2025, ngành ngân hàng đã có hơn 117 triệu hồ sơ khách hàng (CIF) được đối chiếu sinh trắc học qua căn cước công dân gắn chip hoặc VNeID (đạt gần 100% tổng lượng tài khoản thanh toán cá nhân phát sinh giao dịch trên kênh số); hơn 927 nghìn hồ sơ khách hàng tổ chức đã được đối chiếu thông tin sinh trắc học (đạt hơn 70% tổng số lượng tài khoản thanh toán tổ chức phát sinh giao dịch trên kênh số).

Trung tâm Thông tin tín dụng quốc gia (CIC) đã phối hợp với C06, Bộ Công an hoàn thành 6 đợt đối chiếu, làm sạch dữ liệu khách hàng với khoảng 57 triệu lượt hồ sơ khách hàng theo phương thức offline.

63 tổ chức tín dụng đã triển khai ứng dụng thẻ căn cước công dân gắn chip qua thiết bị tại quầy; 57 tổ chức tín dụng và 39 tổ chức trung gian thanh toán đã triển khai ứng dụng thẻ căn cước công dân gắn chip qua ứng dụng Mobile app; 32 tổ chức tín dụng và 15 tổ chức trung gian thanh toán đang triển khai ứng dụng VneID.

TS Nguyễn Quốc Hùng nhấn mạnh sự kết hợp hài hòa giữa: Chiến lược-Dữ liệu-Công nghệ-Con người, đặt trên nền tảng quản trị rủi ro và tuân thủ chủ động. Từ đó hướng tới một hệ sinh thái ngân hàng số bền vững: đổi mới nhưng an toàn, nhanh nhưng chuẩn mực, cá nhân hóa nhưng bảo vệ quyền riêng tư, mở kết nối nhưng kiểm soát chặt chẽ rủi ro hệ thống.

Bước chuyển “Dữ liệu là nền tảng – Khách hàng là trung tâm” không đơn thuần là triển khai thêm vài hệ thống công nghệ. Đó là sự dịch chuyển tư duy quản trị: từ quản lý chức năng sang quản lý quy trình; từ báo cáo hậu kiểm sang phân tích dự báo; từ đo lường cục bộ sang tối ưu hóa tổng thể giá trị vòng đời khách hàng; từ “thu thập dữ liệu càng nhiều càng tốt” sang “dữ liệu đúng – sạch – được phép – có mục đích rõ ràng – tạo ra giá trị thực sự”.

Dữ liệu càng dùng, càng chia sẻ thì càng có nhiều giá trị

ong-pham-tien-dung.jpg
Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Tiến Dũng phát biểu.

Đồng tình với ông Nguyễn Quốc Hùng về việc thu thập và sử dụng dữ liệu, Phó Thống đốc Phạm Tiến Dũng cho biết, dữ liệu và khách hàng là độc lập, nhưng thực chất không hề tách rời. Không có khách hàng thì không có dữ liệu; và dữ liệu, nếu không được sử dụng, cũng không có giá trị. Đây chính là câu chuyện cốt lõi của ngành ngân hàng.

Về mặt pháp lý, Ngân hàng Nhà nước là một trong số ít các bộ, ngành ban hành hệ thống các Thông tư để điều chỉnh toàn bộ quá trình thu thập, tổng hợp, phân tích dữ liệu. Trong ngành ngân hàng, không có bất kỳ dữ liệu nào được thu thập ngoài khuôn khổ pháp lý này: từ hệ thống báo cáo thống kê, giám sát thông tin tín dụng, hệ thống CIC, phòng chống rửa tiền, đến tất cả các ứng dụng nghiệp vụ đều có Thông tư quy định, làm căn cứ pháp lý cho toàn ngành.

Theo Phó Thống đốc, bên cạnh phương châm “đúng-đủ-sạch-sống”, dữ liệu còn phải giải quyết được hai vấn đề then chốt, đó là: Thứ nhất, khai thác dữ liệu hiệu quả; thứ hai, xây dựng các ứng dụng tốt, tích hợp thông minh, tiện ích và thuận tiện cho người dùng.

Hiện nay, ngành ngân hàng đã tích hợp sâu với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Ngân hàng Nhà nước cũng là đơn vị đầu tiên ban hành Thông tư về Open API, cho phép các bên kết nối dữ liệu ngành ngân hàng.

Phó Thống đốc nhấn mạnh, dữ liệu là nền tảng, là tài nguyên quý giá. Tuy nhiên, khách hàng mới là trung tâm. Do đó, trong thời đại số hiện nay, ngành ngân hàng phải đáp ứng được 3 yếu tố, gồm: Tạo nên những ứng dụng tốt, thông minh cho khách hàng; hỗ trợ hiệu quả cho khách hàng; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng.

Phó Thống đốc cho rằng, ngành ngân hàng phải cung cấp những ứng dụng thật sự tốt, thông minh, dễ sử dụng, đồng thời bảo vệ khách hàng nhanh chóng, vừa bảo đảm an toàn vừa mang lại tiện ích. Khách hàng là trung tâm là phải đáp ứng từ khâu đào tạo, hướng dẫn cho đến vận hành, tất cả đều phải trơn tru, mượt mà.

Phó Thống đốc Phạm Tiến Dũng thông tin, Ngân hàng Nhà nước cũng xây dựng hành lang pháp lý tạo điều kiện cho các ngân hàng phát triển sản phẩm dịch vụ đạt chuẩn, tuân thủ các tiêu chuẩn, chuẩn mực quốc tế để phục vụ khách hàng. Đây là nền tảng quan trọng để ngành ngân hàng phát triển hoạt động trên không gian số, thúc đẩy tài chính toàn diện.

“Chỉ trong một ngày, hệ thống ngân hàng ghi nhận trên 30 triệu giao dịch, với tổng giá trị khoảng 900.000 tỷ đồng (tương đương khoảng 40 tỷ USD) thực hiện giao dịch liên chi nhánh. Đây là con số vô cùng lớn”, Phó Thống đốc cho biết thêm.

Với con số giao dịch khổng lồ như vậy, Phó Thống đốc Phạm Tiến Dũng cho biết, đảm bảo đảm an ninh ngân hàng, duy trì hoạt động an toàn, liên tục là vấn đề trọng yếu được ngành Ngân hàng quan tâm.

Ông Phạm Anh Tuấn, Vụ trưởng Vụ Thanh toán, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng cho biết, thách thức của ngành ngân hàng là dữ liệu thiếu tính liên thông. "Dữ liệu trong các cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin vẫn còn rời rạc, phân tán, trùng lặp, chưa có sự liên kết và thống nhất", ông Tuấn nói.

Theo ông Phạm Anh Tuấn, trong đỊnh hướng chiến lược giai đoạn 2026-2030, ngành ngân hàng tiếp tục nâng cấp, hoàn thiện hạ tầng cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số bảo đảm an ninh, an toàn, chú trọng việc xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu dùng chung ngành ngân hàng, tiến đến ra quyết định dựa trên dữ liệu.

Tiếp tục triển khai phối hợp liên ngành: tích hợp, kết nối, chia sẻ thông tin ngành ngân hàng với các ngành, lĩnh vực khác để mở rộng hệ sinh thái số và phát triển dịch vụ ngân hàng số, thanh toán số.

ong-can-van-luc-3666.jpg
Tiến sĩ Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ phát niểu.

Tiến sĩ Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ, cũng cho rằng: "Dữ liệu đã trở thành huyết mạch của nền kinh tế và ngành tài chính, chi phối từ chiến lược đầu tư đến quản lý rủi ro".

Theo ông Cấn Văn Lực, giá trị của dữ liệu không chỉ nằm ở khối lượng dữ liệu mà còn ở độ chính xác và chất lượng. Dữ liệu chính xác, phù hợp bảo đảm các định chế tài chính có thể đưa ra quyết định phù hợp và tối ưu hóa hoạt động.

"Thành công của việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) nói riêng và chuyển đổi số nói chung phụ thuộc vào nguồn dữ liệu cung cấp, Vì thế, phải đầu tư xây dựng, chuẩn hóa, làm giàu, làm sạch, làm sống dữ liệu:, ông Lực nói.

Có thể bạn quan tâm

Trình diễn giải pháp công nghệ cho an ninh, an toàn, cứu hộ tại Secutech+ Vietnam 2026

Trình diễn giải pháp công nghệ cho an ninh, an toàn, cứu hộ tại Secutech+ Vietnam 2026

Tại triển lãm Secutech+ Vietnam 2026, HTI Group giới thiệu hệ sinh thái các sản phẩm công nghệ được nghiên cứu, phát triển và làm chủ bởi đội ngũ kỹ sư Việt Nam, từ các giải pháp phục vụ an ninh, giám sát, phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ cứu nạn đến những ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và công nghệ số...

Từ những em bé thu mình vì mặc cảm, các em ở trường Hy Vọng dần hòa nhập với bạn bè, được ghi nhận bởi những thế mạnh riêng và tìm thấy vị trí của mình trong tập thể.

Có một ngôi trường nhân văn mang tên Hy Vọng

Giáo dục nhân văn ngoài truyền đạt kiến thức, còn cần môi trường để những đứa trẻ có xuất phát điểm khác nhau vẫn được học tập, trưởng thành và xây dựng tương lai. Ở Đà Nẵng có một ngôi trường như vậy - Trường Hy Vọng.

Tham quan Viện nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt. (Ảnh: Viện nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt)

Điện hạt nhân: Xây nhà máy chỉ là điểm khởi đầu

Việt Nam có thể nhập khẩu thiết bị và lựa chọn công nghệ, nhưng không thể nhập khẩu năng lực quốc gia để vận hành điện hạt nhân an toàn trong hàng chục năm. Bài toán thực sự không chỉ là xây dựng nhà máy, mà là chuẩn bị con người, hệ thống pháp quy và một hệ sinh thái đủ sức tiếp nhận, kiểm soát, từng bước làm chủ công nghệ.

Sở Khoa học-Công nghệ Hà Nội tổ chức diễn tập ứng phó y tế trong sự cố bức xạ và hạt nhân. (Ảnh: Thu Hằng)

Quản lý an toàn bức xạ trước yêu cầu mới

Ứng dụng bức xạ, đồng vị phóng xạ ngày càng mở rộng, trong khi Việt Nam chuẩn bị bước vào giai đoạn phát triển mới của năng lượng nguyên tử. Thực tế này đòi hỏi phương thức quản lý phải chuyển mạnh từ xử lý hồ sơ hành chính sang kiểm soát theo mức độ rủi ro, tăng cường phân cấp và ứng dụng dữ liệu số.

Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm áp dụng quy chuẩn kỹ thuật có liên quan. (Ảnh: Tô Hội)

Quy chuẩn kỹ thuật: “Hàng rào” bắt buộc bảo vệ người tiêu dùng

Quy chuẩn kỹ thuật không đơn thuần là những giới hạn, yêu cầu kỹ thuật đối với sản phẩm, hàng hóa. Đây là công cụ pháp lý bắt buộc giúp Nhà nước kiểm soát các nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe, môi trường, an ninh quốc gia và quyền lợi người tiêu dùng, đồng thời bảo đảm hoạt động sản xuất, kinh doanh diễn ra minh bạch, công bằng.

Đà Nẵng mở không gian tầm thấp: Từ thí điểm dịch vụ đến hạ tầng kinh tế mới.

Đà Nẵng mở không gian tầm thấp: Từ thí điểm dịch vụ đến hạ tầng kinh tế mới

Không chỉ dừng lại ở câu chuyện ứng dụng thiết bị bay không người lái (UAV) cho giao hàng hay cứu hộ, việc Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng khởi động Đề án “Thí điểm phát triển kinh tế không gian tầm thấp” cho thấy một bước đi mang tính chiến lược: Biến tầng không lưu thấp thành một lớp hạ tầng kinh tế kỹ thuật mới.

Nhiều doanh nghiệp đã đầu tư hệ thống điện mặt trời mái nhà để phục vụ sản xuất, góp phần giảm chi phí tiền điện. (Ảnh: LÊ CHI)

Bài toán sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả

Nhu cầu năng lượng ngày càng lớn đang đặt ra yêu cầu không chỉ bảo đảm đủ nguồn cung mà còn phải sử dụng hiệu quả từng đơn vị năng lượng. Trong bối cảnh đó, khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo đang mở ra cách tiếp cận mới: Đo lường chính xác mức tiêu thụ, nhận diện điểm lãng phí, tối ưu vận hành.

Hình ảnh hạt tiêu xanh, hạt tiêu đen, hạt tiêu trắng Tiên Phước. (Ảnh minh họa: Cục Sở hữu trí tuệ)

Những gốc tiêu 40 năm tuổi và “tấm căn cước” của vị cay xứ Tiên

Trên vùng đất gò đồi nhiều sỏi đá, những dây tiêu bản địa vẫn bám vào thân cây sống, len rễ sâu vào lòng đất và cho ra loại hạt nhỏ nhưng thơm, cay nồng. Chỉ dẫn địa lý “Tiên Phước” được bảo hộ mở ra cơ hội để sản vật lâu đời này vượt khỏi những phiên chợ địa phương, tiến đến thị trường rộng lớn hơn.

Dạy và học thế nào để người học thực sự "làm chủ" công nghệ trí tuệ nhân tạo. (Ảnh minh họa có sử dụng AI )

Giáo dục trong kỷ nguyên AI, từ sử dụng đến làm chủ công nghệ

Việc đưa trí tuệ nhân tạo (AI) vào trường học đã được thí điểm trong năm học 2025-2026 và định hướng triển khai đại trà từ năm học 2026–2027. Nhìn lại hành trình này, câu hỏi lớn nhất của ngành giáo dục đặt ra lúc này không còn là "có nên dạy AI hay không", mà là dạy và học thế nào để người học thực sự "làm chủ" công nghệ.

Người Viettel ở Natcom không rời đi khi thị trường khó khăn nhất. Ảnh: Viettel Global.

15 năm Viettel tại Haiti: Hành trình vượt qua nghịch cảnh để phát triển

Giữa một thị trường liên tục đối mặt với thiên tai, bất ổn và thiếu thốn, Natcom không chỉ vươn lên dẫn đầu viễn thông mà còn đang đưa kết nối trở thành nền tảng cho tài chính số và đời sống. Đó là câu chuyện về những “đóa hoa nở trong đá” - không sinh ra từ phép màu, mà từ sự bền bỉ ở lại và lớn lên trong nghịch cảnh.

Các sản phẩm chè Tủa Chùa ngày càng được chuẩn hóa bao bì, mở rộng thị trường tiêu thụ và nâng tầm giá trị. (Ảnh: Mỹ Linh)

Để sáng chế y dược không dừng lại trong phòng thí nghiệm

Nhiều kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực y dược có tiềm năng ứng dụng nhưng để đi từ phòng thí nghiệm đến thị trường, các nhà khoa học còn phải vượt qua khoảng cách lớn về bảo hộ, định giá, đàm phán và thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ.

Pháp và Việt Nam có tiềm năng hợp tác trong lĩnh vực công nghệ phục vụ chuyển đổi xanh. (Ảnh: Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam)

Tăng cường kết nối khoa học-công nghệ Việt Nam-Pháp

Mối quan hệ Việt Nam-Pháp có bề dày lịch sử hơn 50 năm, đã vượt qua những thách thức của khoảng cách địa lý và biến động tình hình khu vực, thế giới, ngày càng phát triển mạnh mẽ và mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước.