BESS - Gỡ nút thắt cho năng lượng tái tạo

Những năm gần đây, Việt Nam đã vươn lên nhóm quốc gia tăng trưởng năng lượng tái tạo nhanh nhất khu vực. Tuy nhiên, tình trạng nguồn điện sạch vẫn bị bỏ phí cần được ngành điện nhận diện và tìm lời giải.

Tòa nhà PECC2 Innovation Hub tại Thành phố Hồ Chí Minh đã vận hành BESS công suất 750 kW.
Tòa nhà PECC2 Innovation Hub tại Thành phố Hồ Chí Minh đã vận hành BESS công suất 750 kW.

Theo thống kê, đến năm 2024, Việt Nam đã đạt công suất lắp đặt điện mặt trời khoảng 16,5 GW, chiếm 25% tổng công suất phát điện cả nước. Trong đó, có hơn 103.000 dự án điện mặt trời mái nhà với tổng công suất trên 9.500 MW.

Giải pháp cho những thời điểm quá tải

Việc trở thành một trong những thị trường tăng trưởng năng lượng tái tạo nhanh nhất khu vực cũng kéo theo hàng loạt vấn đề đối với hệ thống điện. Khi trời nắng to, công suất điện mặt trời thường bị cắt giảm nhiều nhất. Nhiều thời điểm, hàng triệu kWh điện mặt trời bị giảm phát vì mạng lưới quá tải hoặc không có khả năng hấp thụ. Đây cũng là tình trạng chung của năng lượng tái tạo.

Theo tính toán của các nhà khoa học, chỉ riêng khu vực Ninh Thuận, Bình Thuận trước đây (nay lần lượt thuộc các tỉnh Khánh Hòa và Lâm Đồng), "thủ phủ năng lượng tái tạo" của cả nước, đã cần đến hơn 2.100 MW công suất lưu trữ. Đây là giải pháp quan trọng giúp hệ thống điện đỡ quá tải, ít lãng phí điện sạch, và giảm áp lực cho đường dây truyền tải xuống phía nam, Hơn thế, còn giúp cho hệ thống điện quốc gia được vận hành an toàn, kinh tế hơn.

Khác với nhà máy nhiệt điện có thể điều chỉnh công suất theo nhu cầu, điện mặt trời và điện gió phụ thuộc hoàn toàn vào thời tiết. Năng lượng tái tạo phát mạnh vào ban ngày, giảm sâu vào buổi chiều tối đúng thời điểm nhu cầu sử dụng của người dân tăng cao. Lúc này, hệ thống pin lưu trữ năng lượng (BESS) sẽ trở thành "kho điện", giúp tích lũy lượng điện dư thừa để rồi sử dụng trong giờ cao điểm.

Theo các chuyên gia, BESS không chỉ là "cục pin lớn" mà còn là một "nhà máy phản ứng nhanh", có khả năng hấp thụ điện thừa, ổn định tần số, chống quá áp và khắc phục dao động của điện mặt trời. Thực tế, công nghệ BESS đã từng bước được ứng dụng ở Việt Nam từ năm 2019.

Tại Thành phố Hồ Chí Minh, tòa nhà PECC2 Innovation Hub đã vận hành hệ thống pin lithium-ion công suất 750 kW, dung lượng 2.557 kWh, kết hợp hơn 420 kWp điện mặt trời mái nhà. Mô hình này được lắp sau công-tơ (do doanh nghiệp quản lý), chủ yếu để tối ưu hóa tiêu thụ điện và giảm hóa đơn năng lượng.

Ở đảo Bạch Long Vĩ, thành phố Hải Phòng, nơi chưa có lưới điện quốc gia, hệ thống pin 630 - 2.000 kWh kết hợp với 504 kWp điện mặt trời và 1 MW điện gió giúp duy trì điện liên tục cho toàn đảo. Đây là ứng dụng BESS trong lưới điện độc lập, có ý nghĩa thiết thực với đời sống người dân.

Còn nhiều vướng mắc chưa được tháo gỡ

Theo Công ty cổ phần Tư vấn Xây dựng Điện 2, ngoài một số ít các hệ thống có công suất vừa (từ vài trăm kW) đã được lắp đặt sau công-tơ hoặc lưới điện nhỏ tách lưới như kể trên, các hệ thống BESS tại Việt Nam vẫn chủ yếu là các hệ thống nằm trong phân khúc công suất nhỏ (<100 kW), lắp tại các hộ gia đình có gắn điện mặt trời mái nhà.

Để xây dựng một môi trường thuận lợi cho việc phát triển BESS, Việt Nam cần xây dựng khung pháp lý rõ ràng cùng các hướng dẫn chi tiết để tạo thị trường ứng dụng BESS, đặc biệt là cơ chế giá có tính khuyến khích từ thị trường.

Cụ thể, Việt Nam chưa có khung chính sách cho việc ứng dụng BESS trước công-tơ (hệ thống pin lưu trữ được nối trực tiếp lên lưới điện quốc gia), bao gồm các quy định thị trường dịch vụ phụ trợ và cơ chế giá mua bán điện (năng lượng và công suất) với BESS. Mặc dù ý tưởng giá điện hai thành phần đã được Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) chính thức đề nghị triển khai thí điểm với một số nhóm khách hàng từ tháng 11/2024, và dự kiến mở rộng vào năm 2025, nhưng vẫn chưa có bước triển khai cụ thể để BESS có thể hưởng lợi từ giá công suất.

Bên cạnh đó, hiệu quả đầu tư cũng là rào cản lớn. Các hệ thống BESS trước công-tơ, trong đó bao gồm các hệ thống BESS quy mô lớn trên lưới điện, có yêu cầu cao hơn về hạ tầng lưới điện, hạ tầng viễn thông, đất đai và ràng buộc điều độ. Với một hệ thống BESS quy mô 50 MW lắp đặt năm 2024 và vận hành năm 2025, ứng với giá điện tự dùng trung bình xấp xỉ 3.000 VNĐ/kWh, mức chênh lệch giá bán và mua điện để có khả năng sinh lời theo tỷ suất kỳ vọng thông thường rơi vào khoảng từ 4.000 VNĐ/kWh xuống đến 3.000 VNĐ/kWh, tùy vào số giờ sạc/xả tối đa (khoảng một đến hai giờ trong ngày). Như vậy, chênh lệch giá điện giờ cao điểm và thấp điểm theo cấu trúc giá điện hiện tại, nếu áp dụng cho BESS, không đủ sức hấp dẫn để thuyết phục các nhà đầu tư.

Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 sẽ phát triển các nguồn lưu trữ 10.000 - 16.300 MW (chiếm tỷ lệ 5,5 - 6,9 %). Đây là một bước đi lớn, nhưng hành lang pháp lý hiện nay mới chỉ ban hành 15 tiêu chuẩn quốc gia liên quan đến hệ thống lưu trữ năng lượng. Con số này còn quá ít để hỗ trợ triển khai một loại hình công nghệ mới, phức tạp và đòi hỏi mức độ an toàn cao ■

BESS có thể được vận hành đa mục tiêu, từ tối ưu chi phí cho hệ thống điện, tăng khả năng dự phòng cục bộ đến ổn định lưới điện khu vực. Để thu hút nguồn vốn tư nhân xây dựng hàng chục nghìn MW lưu trữ, điều quan trọng là phải xác định rõ ràng vai trò của BESS trong toàn hệ thống.

Có thể bạn quan tâm

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Trước đòi hỏi đáp ứng mục tiêu tăng trưởng cao cùng những áp lực ngày một gia tăng bởi biến đổi khí hậu và những biến động địa chính trị trên toàn cầu, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam không chỉ đẩy mạnh xử lý các dự án chậm tiến độ mà quan trọng hơn, cần đến cuộc “đại phẫu” giàu tính chiến lược và khoa học cho ngành quan trọng này. Tốc độ hoàn thiện thể chế chính là yếu tố quyết định liệu chúng ta có về đích - bổ sung 90.000 MW còn thiếu cho hệ thống trong chưa đầy 5 năm tới hay không?

Công nhân EVNHANOI kiểm tra vận hành Hệ thống thiết bị đóng cắt hợp bộ tại trạm biến áp. Ảnh: Thành Đạt

Phát triển hạ tầng nguồn điện cho tăng trưởng hai con số

Trong tiến trình hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng là vấn đề tiên quyết. “Điện đi trước một bước” và càng phải “đi” nhanh hơn, trong quá trình chuyển dịch năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu.

TS Đỗ Minh Thắng. Ảnh: NVCC

“Quy hoạch dài hạn, dự báo chính xác và chuẩn bị nguồn lực từ sớm”

Những cảnh báo về nguy cơ xuất hiện Siêu El Niño vào thời gian tới đặt ra yêu cầu cấp bách về bảo đảm đủ điện cho sản xuất và đời sống. Song, bảo đảm cung ứng điện không chỉ là chuyện của một mùa. Để góp phần tìm lời giải cho những thách thức mang tính cấu trúc của ngành điện, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trò chuyện với TS Đỗ Minh Thắng, Trưởng bộ phận năng lượng, Công ty Meteodyn (Pháp).

Ngành điện Cao Bằng chủ động các biện pháp phòng ngừa để đồng hành doanh nghiệp trong mùa cao điểm thiếu điện. Ảnh: Hoàng Yến

Đối phó thiếu hụt cung ứng điện mùa khô

Năm 2026 được dự báo có mùa khô hạn khốc liệt, nguy cơ thiếu điện sản xuất là rất lớn. Thay vì bị động ứng phó tình thế, cơ quan quản lý, ngành điện và các doanh nghiệp hiện nay đã chuyển sang tư duy quản trị rủi ro từ sớm bằng hàng loạt giải pháp thực tế.

VINASOL triển khai nâng cấp Hệ thống BESS lưu trữ 260 kWh cho một nhà máy ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Những khoảng cách cần sớm thu hẹp

Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đến nay, hơn 23.000 MW điện gió và điện mặt trời đã được triển khai trong nước, chiếm khoảng 27% tổng công suất toàn hệ thống. Nếu so tổng công suất pin lưu trữ năng lượng (BESS) dự kiến hoàn thành trong năm 2026 trên cả nước ước đạt 900 MW sẽ thấy sự chênh lệch lớn giữa nhu cầu thực tế trước mắt và mục tiêu dài hạn về công suất lắp đặt hệ thống BESS tại Việt Nam.

Trung tâm dữ liệu DayOne tại Bang Johor (Malaysia) hoạt động với công suất 478 MW.

Chấp nhận trả giá trước hay sau?

Câu chuyện về nguồn cung năng lượng tại hai nước láng giềng Đông Nam Á của Việt Nam là Thái Lan và Malaysia có thể gợi lên nhiều điểm đáng lưu tâm.

Đọc sâu và thấu hiểu là một thách thức với giới trẻ ngày nay. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Ươm mầm văn hóa đọc trong thời đại số

Công nghệ số đang làm thay đổi căn bản cách con người tiếp cận tri thức. Chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi cá nhân đều có thể tìm kiếm gần như mọi thông tin cần thiết trong vài giây.

Các không gian đọc cộng đồng cần được quan tâm đầu tư thành những điểm hẹn văn hóa. Ảnh: TRANG PHI

Con đường đầu tư cho tương lai

Hình ảnh người ngồi đọc sách ở các địa điểm công cộng ngày càng trở nên hiếm gặp, song sẽ là phiến diện nếu cho rằng người Việt đang quay lưng với sách. Thực tế cho thấy nhu cầu đọc vẫn tồn tại dưới nhiều dạng thức. Mối bận tâm về văn hóa đọc, do đó, không phải là cộng đồng “có đọc hay không”, mà là chúng ta nên “đọc gì, đọc như thế nào và dành bao nhiêu thời gian cho việc đọc sâu”.

PGS, TS Nguyễn Văn Tùng

Từ phong trào đến tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục

Nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành văn hóa đọc, bởi đây là môi trường giáo dục nền tảng, nơi hình thành thói quen, nhân cách và phương pháp học tập của mỗi con người. PGS, TS Nguyễn Văn Tùng, thành viên Hội đồng thành viên, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về các giải pháp phát triển văn hóa đọc cho học sinh.

TS Nguyễn Mạnh Hùng (người ngồi bên trái) trò chuyện với kỹ sư Lê Thanh Hải. Ảnh: Tuyết Minh

Một cánh cửa mới

Từ trước đến nay, khi nói đến văn hóa đọc, chúng ta thường nghĩ đến việc đọc sách. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, đọc không chỉ là đọc chữ. Đọc còn là đọc con người, đọc cuộc đời, đọc thiên nhiên, đọc xã hội và cuối cùng là đọc chính mình.

Diễn giả Nguyễn Quốc Vương trong một lần chia sẻ về văn hóa đọc với các em học sinh. Ảnh: NVCC

Như mạch nước kiên trì lan tỏa

Năm nay đánh dấu 10 năm tôi theo đuổi con đường khuyến đọc. Trong 10 năm đó, tất cả công việc của tôi đều tập trung vào hoạt động khuyến đọc bao gồm viết, đọc, nói (diễn thuyết). Và thật sự, con đường này vẫn vô cùng gian nan.

Không ít bạn trẻ lướt mạng thay vì đọc sâu. Ảnh: VĂN HỌC

Dừng lại, suy ngẫm và chuyển hóa

Khi sự chú ý liên tục bị phân tán bởi các luồng thông tin ngắn, phản hồi tức thời, việc dành thời gian cho một cuốn sách, ý tưởng hay quá trình suy tư ngày càng trở nên khó khăn.

Mục tiêu không chỉ là sản xuất nhiều gạo hơn mà là sản xuất gạo chất lượng cao hơn, giảm phát thải hơn. Trong ảnh: Cánh đồng lúa chất lượng cao ở xã Gia Hòa, thành phố Cần Thơ. Ảnh: Phương Bằng

Nông nghiệp với ngã rẽ chuyển đổi tư duy

Biến đổi khí hậu cùng với các yêu cầu mới của thị trường toàn cầu về giảm phát thải khí nhà kính, sản xuất xanh và phát triển bền vững đang trở thành những tiêu chuẩn bắt buộc, để nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải chuyển đổi tư duy sản xuất, tập trung vào chất lượng, hiệu quả và khả năng thích ứng.

Châu thổ Cửu Long.

Kiến tạo động lực tăng trưởng bền vững

Trước câu hỏi, đâu là mô hình tăng trưởng phù hợp để vừa phát huy những lợi thế sẵn có vừa giữ gìn bản sắc văn hóa sông nước vùng châu thổ Cửu Long? Nhân Dân cuối tuần đã ghi lại những ý kiến trao đổi của lãnh đạo các địa phương.

Hàng loạt công trình hạ tầng giao thông trọng điểm quốc gia được đầu tư xây dựng, góp phần kiến tạo động lực để vùng Đồng bằng sông Cửu Long cất cánh. Trong ảnh: Thi công cao tốc trục ngang Châu Đốc - Trần Đề. Ảnh: Phương Bằng

Vận hội vươn mình trước làn sóng đầu tư

Sau nhiều thập niên là “vùng trũng” về hạ tầng giao thông và thu hút đầu tư, Đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước vận hội mới. Những tuyến cao tốc, trục dọc, đường ngang, đường vành đai ven biển, ven biên giới, nhiều cầu lớn vượt sông dần nên hình hài... góp phần vào việc thu hẹp khoảng cách kinh tế một cách nhanh chóng và tạo đà tăng trưởng mạnh mẽ.

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Du lịch trải nghiệm (Experiential travel) hay còn có cái tên khác là du lịch hòa nhập (Immersive travel) đã và đang hiện diện ngày càng rõ ràng hơn trong nhiều loại hình sản phẩm khác nhau ở Việt Nam, với một điểm chung: Yếu tố trải nghiệm luôn được ưu tiên ở vị trí số một.

Du khách trải nghiệm làm rối nước tại thôn Bàn Thạch (tên nôm là thôn Rạch), phường Hồng Quang, tỉnh Ninh Bình. Ảnh: LƯƠNG VĂN PHƯƠNG

Thước đo mới cho giá trị điểm đến

Là một xu hướng mới tại Việt Nam, đặc biệt từ sau đại dịch Covid-19, du lịch trải nghiệm khuyến khích du khách tối đa hóa các giá trị nhận lại từ điểm đến bằng cách hòa mình kết nối và trở thành một phần của đời sống, văn hóa địa phương, thay vì chỉ đóng vai trò quan sát, nhìn ngắm hời hợt.

Du khách học cách làm món đồ uống độc đáo cà-phê trứng của Hà Nội. (Nguồn ảnh: Dine With Locals)

Cách để “bán” câu chuyện cuộc sống

Truyền thống lịch sử lâu đời cùng địa lý đa dạng và nền văn hóa giàu bản sắc là nền tảng, điểm tựa để Việt Nam phát triển du lịch bền vững với phong phú yếu tố trải nghiệm. Chung quanh chủ đề này, Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số chuyên gia và người trực tiếp làm công tác quản lý, vận hành dịch vụ/ mô hình du lịch trải nghiệm ở Việt Nam.

Khách du lịch tham gia các hoạt động trải nghiệm trong tour Về làng học thêu tay. Ảnh: DÃ LIÊN

Tạo sức hút và năng lực cạnh tranh mới

Mô hình trải nghiệm làng nghề ở Hà Nội đã có từ lâu, như ở làng gốm Bát Tràng, song phần lớn đều dừng ở mức đơn giản, nặng tính “cưỡi ngựa xem hoa”, hoặc như một gia vị cho hoạt động tham quan. Thời gian gần đây, nhiều làng nghề đã đổi mới cách làm, từ đó tạo nên sức hút và năng lực cạnh tranh mới.

Trước mắt anh Phương Nam, Côn Đảo mở ra biết bao nhịp sống xanh, nguyên sơ, trong trẻo. Ảnh: MINH LÊ

Những “điểm chạm” nguyên sơ, trong trẻo

Côn Đảo lâu nay thường được nhắc đến như một vùng đất chứa đựng ký ức lịch sử bi tráng của dân tộc, với hệ thống nhà tù của thực dân và đế quốc cùng những trang sử đấu tranh của các chiến sĩ cách mạng. Nhưng đối với nhiều du khách, sau những “điểm chạm” vào thiên nhiên ở nơi này, Côn Đảo còn là biết bao nhịp xanh, nguyên sơ, trong trẻo.

Bên cạnh gia đình luôn là khoảng thời gian chất lượng để vun trồng một thế hệ hạnh phúc. Ảnh: UNICEF Việt Nam

Hôm nay, tôi đã lắng nghe con mình chưa?

Trong nhiều cuộc tiếp xúc với phụ huynh, rất nhiều cha mẹ chia sẻ với tôi một nguyện vọng rất thật: “Mong con được hạnh phúc”. Song, khi được hỏi: “Hạnh phúc là gì?”, nhiều người lại ngập ngừng.

Bà Nguyễn Phạm Duy Trang.

An toàn là nền móng của hạnh phúc!

Mùa hè không chỉ là khoảng thời gian nghỉ ngơi, vui chơi của trẻ em, mà còn là thời điểm đặt ra nhiều nỗi lo về an toàn, sức khỏe tinh thần và môi trường phát triển của các em trong bối cảnh xã hội hiện đại.