Bài 2: An ninh mạng – nền tảng của niềm tin số trong chuyển đổi số quốc gia

Bài 2: An ninh mạng – nền tảng của niềm tin số trong chuyển đổi số quốc gia

Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá chiến lược, mở ra không gian phát triển mới. Tuy nhiên, chuyển đổi số không chỉ là câu chuyện công nghệ hay hạ tầng, mà cốt lõi là xây dựng niềm tin số. Người dân chỉ sử dụng dịch vụ trực tuyến khi tin rằng thông tin được bảo vệ; doanh nghiệp chỉ chuyển dịch lên môi trường số khi bảo đảm an toàn dữ liệu và hệ thống. Vì vậy, an ninh mạng không còn là lớp bảo vệ bên ngoài, mà là nền tảng của niềm tin, điều kiện tiên quyết để chuyển đổi số phát triển đúng hướng, bền vững.

tit-phu-bao-cao-chinh-tri-8.png

Một trong những thay đổi căn bản mà chuyển đổi số mang lại là việc dịch chuyển gần như toàn bộ các hoạt động của đời sống kinh tế-xã hội lên môi trường mạng. Từ quan hệ giữa Nhà nước với người dân, doanh nghiệp với khách hàng, cho đến các giao dịch thường nhật, tất cả đều đang được số hóa với tốc độ ngày càng nhanh. Hồ sơ hành chính được nộp trực tuyến, thanh toán thực hiện qua ứng dụng ngân hàng, mua bán diễn ra trên các sàn thương mại điện tử, dữ liệu cá nhân được lưu trữ và xử lý trong các hệ thống số. Không gian mạng vì thế không còn là “kênh bổ trợ”, mà đang dần trở thành không gian sống chính của xã hội hiện đại.

Tuy nhiên, khác với hạ tầng kỹ thuật có thể nhìn thấy bằng hệ thống máy chủ, trung tâm dữ liệu hay nền tảng công nghệ, điều giữ cho toàn bộ không gian số vận hành ổn định lại nằm ở một yếu tố vô hình hơn: niềm tin của người sử dụng. Một người dân chỉ sẵn sàng thanh toán trực tuyến khi tin rằng tài khoản của mình được bảo vệ. Một doanh nghiệp chỉ mạnh dạn đưa dữ liệu và hoạt động vận hành lên môi trường số khi tin rằng hệ thống đủ an toàn. Một cơ quan chỉ có thể thúc đẩy quản trị số hiệu quả khi người dân cảm thấy yên tâm trong quá trình tương tác và chia sẻ dữ liệu.

trong-8-thang-nam-2025-viet-nam-ghi-nhan.png

Điều đó cho thấy, niềm tin số không phải khái niệm mang tính khẩu hiệu, mà là “hạ tầng mềm” quyết định mức độ vận hành thực chất của xã hội số. Một nền tảng có thể được đầu tư hiện đại, nhưng nếu người dùng luôn lo ngại nguy cơ lộ, lọt dữ liệu hoặc bị chiếm đoạt tài khoản, giá trị thực tế của chuyển đổi số cũng sẽ suy giảm.

Thực tế thời gian qua cho thấy, nguyên nhân lớn nhất làm suy giảm niềm tin số không phải do người dân “ngại công nghệ”, mà bởi họ chứng kiến quá nhiều rủi ro hiện hữu trong môi trường mạng. Những cuộc gọi giả danh cơ quan công an, viện kiểm sát, ngân hàng; các đường link giả mạo yêu cầu xác thực tài khoản; các vụ lừa đảo đầu tư, tuyển dụng, hoàn tiền; hay tình trạng lộ lọt dữ liệu cá nhân… đã không còn là hiện tượng cá biệt.

1-1759.jpg
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và các đại biểu tham quan trưng bày về kết quả chuyển đổi số của Quốc hội tại Hội nghị chuyên đề “Bình dân học vụ số-Quốc hội số: Khung kiến thức, kỹ năng số cho Quốc hội hiện đại”.

Đáng chú ý, các hình thức lừa đảo hiện nay thường đánh vào tâm lý và thói quen số của người dùng. Tin tặc không còn chỉ khai thác lỗ hổng kỹ thuật, mà khai thác chính sự mất cảnh giác, tâm lý hoang mang và niềm tin của con người. Nhiều người không bị đánh cắp tiền vì thiếu hiểu biết công nghệ, mà vì họ tin rằng mình đang làm việc với một cơ quan chức năng, một ngân hàng hay một người quen thật sự.

Trong giai đoạn 2024-2025, thống kê của Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (A05, Bộ Công an), phát hiện hơn 42 triệu cảnh báo tấn công mạng, 420.000 cảnh báo phát hiện mã độc nhắm vào các hệ thống thông tin.

Các cuộc tấn công mạng tại Việt Nam cũng đang có xu hướng gia tăng về mức độ tinh vi, tập trung vào các hệ thống thông tin của cơ quan nhà nước và các lĩnh vực trọng yếu như tài chính-ngân hàng, năng lượng, y tế, thương mại điện tử, truyền thông… Trong giai đoạn 2024-2025, thống kê của Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (A05, Bộ Công an), phát hiện hơn 42 triệu cảnh báo tấn công mạng, 420.000 cảnh báo phát hiện mã độc nhắm vào các hệ thống thông tin.

Chỉ riêng trong 8 tháng năm 2025, Việt Nam ghi nhận hơn 1.500 vụ lừa đảo qua mạng, tăng 65% so với cùng kỳ năm 2024, với thiệt hại ước tính hơn 1.660 tỷ đồng. Cùng với đó, Cục An ninh mạng và Phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (A05) phát hiện 4.532 tên miền độc hại, tăng gần 90%, phần lớn phục vụ các thủ đoạn tinh vi như deepfake, lừa đảo tiền ảo, chiếm đoạt mã OTP, giả danh ngân hàng hoặc cơ quan chức năng.

phuong-1-12.png

Điểm đáng lo hiện nay không chỉ nằm ở số lượng các cuộc tấn công, mà ở việc các mối đe dọa mạng đang “xâm nhập” ngày càng sâu vào đời sống thường nhật. Nếu trước đây, rủi ro mạng thường được nhìn như vấn đề của các chuyên gia công nghệ, thì hiện nay bất kỳ ai sử dụng điện thoại thông minh, tài khoản ngân hàng hay mạng xã hội đều có thể trở thành mục tiêu.

Mỗi vụ lừa đảo, mỗi sự cố mất an toàn thông tin không chỉ gây thiệt hại cho một cá nhân hay một tổ chức, mà còn trực tiếp bào mòn niềm tin xã hội đối với môi trường số. Khi người dân không cảm thấy an toàn, họ sẽ hạn chế sử dụng các nền tảng số; khi doanh nghiệp lo ngại rủi ro dữ liệu, họ sẽ chậm đầu tư và chậm chuyển đổi. Hệ quả không dừng lại ở từng trường hợp riêng lẻ, mà lan rộng ra toàn bộ hệ sinh thái, làm giảm hiệu quả của cả quá trình chuyển đổi số.

Câu hỏi đặt ra không còn là có hay không các rủi ro, mà là làm thế nào để niềm tin được xây dựng, được gìn giữ và phát triển bền vững trong môi trường số.

Đại tá Nguyễn Hồng Quân, Phó Cục trưởng Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (A05, Bộ Công an)

Phát biểu tại hội nghị toàn thể Liên minh Niềm tin số (Digital Trust Alliance - DTA) lần thứ I diễn ra tại Hà Nội vào tháng 1/2026, Đại tá Nguyễn Hồng Quân, Phó Cục trưởng Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (A05, Bộ Công an) cho rằng, chưa bao giờ vấn đề niềm tin trong không gian số lại trở nên cấp bách như hiện nay. Chỉ trong vài giây, một thông tin sai lệch có thể lan truyền tới hàng triệu người. Chỉ với một cú nhấp chuột, một cá nhân có thể trở thành nạn nhân của lừa đảo, bị tổn thương hoặc đánh mất cảm giác an toàn ngay trên môi trường mà họ gắn bó mỗi ngày. Theo ông, câu hỏi đặt ra không còn là có hay không các rủi ro, mà là làm thế nào để niềm tin được xây dựng, được gìn giữ và phát triển bền vững trong môi trường số.

Nhìn từ tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW có thể thấy, chuyển đổi số không chỉ là phát triển nền tảng hay gia tăng ứng dụng công nghệ, mà sâu xa hơn là xây dựng được một môi trường số an toàn, đáng tin cậy để người dân và doanh nghiệp yên tâm tham gia. Nếu chưa tạo dựng được nền tảng niềm tin đó, chuyển đổi số rất dễ rơi vào tình trạng phát triển hình thức: nền tảng được đầu tư nhiều hơn nhưng mức độ sử dụng thực chất lại không tương xứng.

tit-phu-bao-cao-chinh-tri-9.png

Nếu niềm tin là điều kiện để xã hội bước vào không gian số, thì an ninh mạng chính là điều kiện để không gian số có thể vận hành ổn định và bền vững. Tuy nhiên, một trong những hạn chế phổ biến hiện nay là cách tiếp cận còn tách rời giữa “xây dựng” và “bảo vệ”. Nhiều hệ thống được triển khai nhanh nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển, nhưng các yếu tố an toàn thông tin lại chưa được thiết kế đồng bộ ngay từ đầu.

Điều này tạo ra một nghịch lý: hệ thống càng mở rộng, càng phục vụ nhiều người, càng kết nối nhiều dữ liệu thì rủi ro tiềm ẩn càng lớn nếu nền tảng an ninh không theo kịp. Không ít cơ quan, doanh nghiệp đầu tư mạnh cho chuyển đổi số nhưng lại xem an ninh mạng như “phần phụ trợ”, chỉ được chú ý khi sự cố đã xảy ra.

Đặc trưng của hệ thống số hiện đại là tính liên thông và phụ thuộc lẫn nhau rất cao. Một lỗ hổng nhỏ cũng có thể trở thành “điểm mở” để tấn công lan rộng sang nhiều hệ thống khác. Khi dữ liệu, nền tảng và dịch vụ ngày càng kết nối sâu, hậu quả của một sự cố an ninh mạng cũng không còn dừng lại ở phạm vi cục bộ.

Trong môi trường số, chỉ một sự cố nghiêm trọng cũng có thể kéo theo hàng loạt hệ lụy dây chuyền: dịch vụ bị gián đoạn, dữ liệu bị mã hóa, giao dịch bị đình trệ, người dùng mất niềm tin… Khi đó, thiệt hại không chỉ nằm ở kinh tế, mà còn ảnh hưởng trực tiếp tới uy tín tổ chức và mức độ ổn định của toàn bộ hệ sinh thái số.

Điểm nguy hiểm nhất hiện nay không nằm ở việc hệ thống bị tấn công, mà ở chỗ nhiều cơ quan, tổ chức chỉ phát hiện sự cố khi dữ liệu đã bị đánh cắp hoặc hệ thống đã bị kiểm soát từ trước đó.

Điểm nguy hiểm nhất hiện nay không nằm ở việc hệ thống bị tấn công, mà ở chỗ nhiều cơ quan, tổ chức chỉ phát hiện sự cố khi dữ liệu đã bị đánh cắp hoặc hệ thống đã bị kiểm soát từ trước đó.

Chính vì vậy, cách tiếp cận đối với an ninh mạng buộc phải thay đổi. Không thể tiếp tục coi đây là “việc của bộ phận công nghệ thông tin” hay chỉ xử lý khi sự cố xảy ra. An ninh mạng phải trở thành yêu cầu bắt buộc trong toàn bộ vòng đời của hệ thống số – từ thiết kế, xây dựng, thử nghiệm đến vận hành và giám sát. Nếu trước đây, nhiều tổ chức xem đầu tư cho an ninh mạng là “chi phí bảo vệ”, thì hiện nay cần nhìn nhận đó là khoản đầu tư cho sự tồn tại và phát triển bền vững của hệ thống số. Một nền tảng có thể phát triển rất nhanh, nhưng sẽ khó duy trì lâu dài nếu không đủ năng lực bảo vệ dữ liệu và người dùng.

phuong-1-13.png

Đặt trong tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW, yêu cầu này càng trở nên rõ ràng. Chuyển đổi số không chỉ nhằm tạo ra nhiều nền tảng hơn, mà phải tạo ra những hệ thống có khả năng vận hành ổn định, an toàn và có sức chống chịu trước rủi ro. Nếu không bảo đảm được điều đó, chính các nền tảng số có thể trở thành điểm yếu, làm chậm lại tiến trình phát triển.

Trong kỷ nguyên số, an ninh mạng không còn là “lớp bảo vệ phía sau” của hệ thống, mà đã trở thành một phần cấu thành của phát triển. Khi niềm tin số ngày càng trở thành điều kiện để xã hội vận hành trên môi trường mạng, bảo đảm an ninh mạng cũng đồng nghĩa với bảo vệ nền tảng phát triển của quốc gia trong tương lai.

Có thể bạn quan tâm

Cán bộ hướng dẫn người dân làm thủ tục hành chính tại Điểm phục vụ hành chính công phường Đống Đa (Thành phố Hà Nội). (Ảnh: THẾ ĐẠI)

Phát huy nguồn lực dữ liệu trong đổi mới mô hình tăng trưởng

Sự bùng nổ của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI) và các nền tảng liên quan đã khiến dữ liệu trở thành một nguồn lực chiến lược. Khi nước ta chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, dữ liệu giữ vai trò trung tâm, kết nối công nghệ, tri thức và quản trị.

Đội thi Trung tâm 186 tham gia cuộc thi Chiến binh mạng đa quốc gia tại Thái Lan.

Khi tri thức trở thành sức mạnh chiến đấu

Tại Bộ Tư lệnh Tác chiến không gian mạng, những đề tài nghiên cứu không nằm yên trên giá sách. Chúng được đưa thẳng vào huấn luyện, vào thực chiến và đang dần trở thành một thứ vũ khí thật sự, mở ra một hướng phát triển mới trong xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.

Sản xuất AI Camera của MK Vision tại Khu công nghiệp Thăng Long Vĩnh Phúc, Bình Xuyên, tỉnh Phú Thọ.

Khơi thông nguồn lực thúc đẩy công nghệ chiến lược

Nghị quyết số 57-NQ/TW đang tạo động lực thúc đẩy phát triển các công nghệ chiến lược, với nhiều lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo (AI), robot, thiết bị bay không người lái (UAV) hay công nghệ sinh học đã sẵn sàng bước vào giai đoạn ứng dụng. Song để tạo đột phá, Việt Nam vẫn cần khơi thông các nút thắt về thể chế...

Nhân viên Công ty cổ phần Truyền thông Luật Việt Nam sử dụng nền tảng ứng dụng AI hỗ trợ tra cứu, phân tích và rà soát pháp lý.

AI hỗ trợ rà soát pháp lý

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong rà soát pháp lý đang trở thành xu hướng tại nhiều cơ quan, doanh nghiệp. Không chỉ giúp rút ngắn thời gian tra cứu, đối chiếu, công nghệ này còn hỗ trợ phát hiện sớm những nội dung mâu thuẫn, chồng chéo, nâng cao chất lượng văn bản và hiệu quả tuân thủ pháp luật.

Sử dụng drone phun thuốc bảo vệ thực vật cho lúa tại Công ty cổ phần thiết bị bay AgriDrone Việt Nam. (Ảnh AgriDrone Việt Nam)

Tối ưu hóa hiệu quả thiết bị không người lái trong nông nghiệp

Việc ứng dụng thiết bị không người lái (drone/UAV) trong sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam đang có bước phát triển nhanh, từng bước chuyển từ thí điểm sang ứng dụng thực tiễn trên diện rộng. Điều này đặt ra yêu cầu xây dựng một giải pháp đồng bộ giữa sản phẩm, thiết bị và quy trình sử dụng nhằm tối ưu hóa hiệu quả của drone.

Hệ thống phòng thí nghiệm hiện đại của Trường đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội) phục vụ đào tạo và nghiên cứu công nghệ bán dẫn. (Ảnh VNU)

Khoa học cơ bản và năng lực tự chủ quốc gia

Trong cuộc cạnh tranh công nghệ toàn cầu, khoa học cơ bản ngày càng trở thành nền tảng của công nghệ lõi và năng lực tự chủ quốc gia. Tuy nhiên, để tri thức khoa học thật sự chuyển hóa thành sức cạnh tranh, yêu cầu đặt ra là xây dựng một hệ sinh thái nghiên cứu có chiều sâu...

Sản phẩm nghi vấn giả mạo nhãn hiệu nổi tiếng của Công ty trách nhiệm hữu hạn Thương mại và xuất nhập khẩu Lộc Thành bị Hải quan cửa khẩu quốc tế Bình Hiệp (tỉnh Tây Ninh) thu giữ.

Ngăn chặn các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

Công tác chống xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hiện nay không còn đơn thuần chỉ bảo vệ một nhãn hiệu mà là câu chuyện bảo vệ năng lực cạnh tranh quốc gia, an ninh kinh tế trong thời đại mà giá trị của nền kinh tế tập trung ở trí tuệ, dữ liệu và sáng tạo.

Lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa cùng lãnh đạo Tổng Công ty Bưu điện Việt Nam thực hiện nghi thức ký kết thỏa thuận hợp tác. (ảnh: NGUYỄN TRUNG)

Phát huy hạ tầng bưu chính, tạo động lực mới cho chuyển đổi số, cải cách hành chính ở Khánh Hòa

Ngày 10/7, tại Nha Trang, Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa và Tổng Công ty Bưu điện Việt Nam đã ký kết thỏa thuận hợp tác giai đoạn 2026-2030, mở ra bước phát triển mới trong việc khai thác đồng bộ hạ tầng bưu chính phục vụ cải cách hành chính, chuyển đổi số, thương mại điện tử, logistics và các dịch vụ công ích trên địa bàn tỉnh.

Toàn cảnh hội thảo. (Ảnh: BÍCH LIÊN)

Đề xuất đãi ngộ 300 triệu đồng/tháng cho Tổng công trình sư

Dự thảo Thông tư quy định cơ chế tài chính đối với nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược đề xuất mức thu nhập tối đa 300 triệu đồng/tháng đối với Tổng công trình sư. Đây được xem là bước đi đột phá nhằm xây dựng cơ chế đãi ngộ đủ sức cạnh tranh để thu hút, giữ chân nhân tài, từng bước làm chủ các công nghệ chiến lược.

Các học viên thực hành khai thác và phân tích dữ liệu mở của NASA dưới sự hướng dẫn của cố vấn.

Khơi dậy tư duy khoa học cho học sinh từ dữ liệu mở của NASA

Ngày 8/7, Trại hè Khám phá dữ liệu mở 2026 (NASA Open Data Camp 2026) khai mạc tại Trung tâm Hoa Kỳ Hà Nội, mang đến cơ hội để 80 học sinh từ 14 đến 17 tuổi tiếp cận với nguồndữ liệu mở của Cơ quan hàng không và vũ trụ Hoa Kỳ (NASA), đồng thời rèn luyện tư duy khoa học và kỹ năng giải quyết vấn đề dựa trên dữ liệu.

Các đại biểu tham quan tại VCCA 2025. (Ảnh: Ban Tổ chức cung cấp)

Robot, AI và drone Make in Vietnam trước cơ hội bứt phá

Không chỉ là diễn đàn khoa học, Hội nghị khoa học và Triển lãm quốc tế về Điều khiển và tự động hóa lần thứ 8 (VCCA 2026) hướng tới mục tiêu kết nối nhà khoa học với doanh nghiệp, thúc đẩy thương mại hóa các công nghệ chiến lược như robot, AI, drone và tự động hóa thông minh.

Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm 6 tháng triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW.

Khơi thông nguồn lực thể chế để khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực bứt phá

Trong kỷ nguyên phát triển dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, yêu cầu cấp thiết đặt ra là xây dựng một hệ thống pháp luật thực sự kiến tạo phát triển, nơi thể chế không còn là điểm nghẽn mà trở thành động lực giải phóng mọi nguồn lực, khơi dậy và phát huy tối đa tiềm năng sáng tạo của con người Việt Nam.

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng phát biểu chỉ đạo tại Lễ kỷ niệm.

Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam và sứ mệnh dẫn dắt ngành hạt nhân Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Sáng 7/7, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam (VinAtom) tổ chức Lễ kỷ niệm 50 năm thành lập (26/4/1976-26/4/2026), đánh dấu chặng đường nửa thế kỷ xây dựng, phát triển và cống hiến cho ngành năng lượng nguyên tử Việt Nam. Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đến dự và phát biểu chỉ đạo tại Lễ kỷ niệm.