50 năm văn học từ 1975 thành tựu và xu thế

Ngày 27/11, tại Hà Nội, Hội đồng Lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương phối hợp Hội nhà văn Việt Nam, Nhà Xuất bản Giáo dục Việt Nam tổ chức Hội nghị Lý luận phê bình văn học lần thứ 5 với chủ đề "50 năm văn học Việt Nam từ 1975: thành tựu và xu thế".
Toàn cảnh hội nghị.
Toàn cảnh hội nghị.

Hội nghị diễn ra trong một ngày, quy tụ đông đảo giới nghiên cứu lý luận phê bình văn học nghệ thuật, đội ngũ văn nghệ sĩ. Kỷ yếu hội nghị tập hợp 43 báo cáo, tham luận tập trung làm rõ thành tựu rực rỡ của văn học Việt Nam từ 1975 đến nay, đồng thời nhìn nhận về xu thế phát triển cũng như những hạn chế và giải pháp cụ thể. Trong số đó, nhiều tham luận được trình bày trực tiếp tại hội nghị.

Đông đảo các nhà nghiên cứu, văn nghệ sĩ tham dự hội nghị.

Đông đảo các nhà nghiên cứu, văn nghệ sĩ tham dự hội nghị.

Phát biểu khai mạc hội nghị, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam Nguyễn Quang Thiều nhấn mạnh: Chặng đường 50 năm qua là một chặng đường có những bước ngoặt lớn của đất nước đã tác động rất lớn vào sự phát triển văn học Việt Nam. Bước ngoặt thứ nhất bắt đầu từ sau ngày 30/4/1975, khi cuộc chiến tranh kết thúc và đất nước được thống nhất. Đấy là giai đoạn văn học được viết trong thời bình, được biết bởi các nhà văn Việt Nam trên cùng một mảnh đất từng bị chia cắt. Cho dù các nhà văn chưa bắt kịp nhịp đi của lịch sử thì đấy vẫn là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử đất nước và trong tâm khảm của những người cầm bút.

Kể từ khi chiến tranh kết thúc, các nhà văn vẫn tiếp tục viết về chiến tranh. Nhưng trong một cách tiếp cận mới và một thi pháp mới, bởi vậy đề tài về chiến tranh được khai thác từ nhiều góc độ, nhiều cung bậc, mang lại một cái nhìn đa chiều về chiến tranh nhưng vẫn tập trung vào sự hi sinh, khát vọng lớn lao của một dân tộc cho độc lập tự do, thống nhất đất nước. Bên cạnh các nhà văn quen thuộc viết về chiến tranh, là một thế hệ các nhà văn trẻ không trải qua chiến tranh nhưng mang đến một cái nhìn trung thực và đầy nhân văn về chiến tranh.

Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam Nguyễn Quang Thiều phát biểu khai mạc.
Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam Nguyễn Quang Thiều phát biểu khai mạc.

Bước ngoặt thứ hai là một bước ngoặt vô cùng quan trọng đối với đất nước Việt Nam, đặc biệt với nền văn học Việt Nam. Đó là công cuộc đổi mới của Đảng được tiến hành trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Công cuộc đổi mới đã tác động sâu sắc vào sự sáng tạo của các nhà văn Việt Nam, nó mở ra một biên độ rất rộng về đề tài, về đối tượng, về thi pháp và tư tưởng. Bởi thế những tác giả, tác phẩm đích thực của nền văn học Việt Nam đã được công bố, tái công bố, khẳng định và tôn vinh.

Bước ngoặt thứ ba được mở ra khi đời sống chính trị của Việt Nam hòa nhập vào đời sống chính trị chung của thế giới. Lúc này văn học có thể nói đã trở lại đầy đủ với bản chất nguyên vẹn của nó, đây là giai đoạn những vấn đề của nội dung, của thi pháp, của tư tưởng tác phẩm đã có những bước đi chung trong dòng chảy của văn chương thế giới. Và cũng từ đó, một xu thế mới của văn học Việt Nam đã xuất hiện.

Hội nghị mang tới một cái nhìn khoa học, có tính lịch sử, có tính tổng kết cũng như phác thảo một diện mạo văn học Việt Nam trong những thập kỷ tới của đất nước; một lần nữa khẳng định và tôn vinh những giá trị đã có của văn học 50 năm qua, đồng thời cũng là sự chào đón một thời đại mới như chúng ta từng chờ đợi. - Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam Nguyễn Quang Thiều.

Trong báo cáo đề dẫn với chủ đề "Văn học đồng hành cùng dân tộc và khát vọng của nhân dân", PGS,TS Nguyễn Đăng Điệp, nguyên Viện trưởng Viện Văn học Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Lý luận phê bình văn học Hội Nhà văn Việt Nam nhấn mạnh: Cùng với sự chuyển mình, phát triển mạnh mẽ của đất nước trong suốt 50 năm qua, văn học Việt Nam sau 1975 đã thu được nhiều thành tựu quan trọng. Nhìn tổng thể, phần lớn đội ngũ cầm bút là những nghệ sĩ giàu lòng yêu nước, sẵn sàng chấp nhận gian khổ, gắn bó máu thịt với Tổ quốc và nhân dân. Đó là những nghệ sĩ - chiến sĩ vượt lên mọi thử thách, hy sinh để "Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân". Rồi chiến tranh đi qua, mang trong mình những chấn thương dai dẳng, họ vẫn tiếp tục cầm bút. Không chỉ các nhà văn trong nước mà nhiều nhà văn người Việt ở nước ngoài cũng thể hiện tinh thần dân tộc sâu sắc bằng những trang viết nặng tình quê hương, xứ sở.

Tại hội nghị, PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp nêu lên ba nhóm giải pháp cơ bản để thảo luận: Vì sao đã 50 năm trôi qua, chúng ta vẫn ít có những kết tinh nghệ thuật xứng tầm kiệt tác?; nhiệm vụ tăng cường mở rộng giao lưu văn hóa quốc tế để mạnh đẩy mạnh hơn nữa tiến trình hội nhập, đưa văn học Việt Nam nhanh chóng bắt kịp tư duy, nhịp điệu của nghệ thuật hiện đại thế giới; đẩy mạnh sự phát triển của lý luận, phê bình văn học vì lý luận, phê bình chính là sự tự ý thức của văn học về chính nó.

Bên cạnh những nỗ lực và thành tựu đã đạt được, lý luận phê bình văn học sau 1975 vẫn bộc lộ nhiều hạn chế, như: Hoạt động còn lạc hậu; lý luận văn nghệ và mỹ học mác-xít chưa được nghiên cứu và phát huy tương xứng với vai trò và giá trị; chất lượng khoa học, tính chuyên nghiệp bị xem nhẹ... - PGS, TS Nguyễn Thế Kỷ, Chủ tịch Hội đồng Lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương.

Một số giải pháp cơ bản được PGS, TS Nguyễn Thế Kỷ đưa ra, gồm: Tăng cường đổi mới nhận thức về bản chất, đặc trưng của văn học nghệ thuật, vai trò, sứ mệnh của lý luận, phê bình văn học trên nền tảng mỹ học Mác Lênin, đường lối văn nghệ của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời kết hợp hài hòa việc kế thừa tinh hoa văn học dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.

PGS, TS Nguyễn Thế Kỷ, Chủ tịch Hội đồng Lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương phát biểu tham luận.

PGS, TS Nguyễn Thế Kỷ, Chủ tịch Hội đồng Lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương phát biểu tham luận.

Bên cạnh đó, cần chăm lo phát triển, bồi dưỡng đội ngũ, chú trọng phát hiện tài năng, tôn trọng quyền tự do sáng tạo, khuyến khích sự tìm tòi, đổi mới của các nhà lý luận, phê bình. Phải coi việc không ngừng nâng cao chất lượng của đội ngũ lý luận, phê bình là yếu tố cốt tử để có được những công trình khoa học xuất sắc, tầm cỡ.

Ngoài ra, cần tăng cường giao lưu hợp tác quốc tế, chú trọng "đầu vào" và “đầu ra” trong tiếp nhận và quảng bá văn học; tăng cường tính dân chủ trong sinh hoạt học thuật, làm lành mạnh văn hóa tranh luận, nâng cao ý thức trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp của các cây bút lý luận, phê bình; đổi mới thể chế quản lý văn hoá nghệ thuật, nâng cao trình độ và năng lực của đội ngũ quản lý, kịp thời ban hành các chủ trương, chính sách liên quan đến văn nghệ, có chính sách đầu tư thích đáng đối với những công trình khoa học trọng điểm song song với việc đẩy mạnh xã hội hóa nghệ thuật.

Giáo sư Phong Lê trong tham luận "Văn học trước hiện thực mới hôm nay qua các thế hệ viết" bày tỏ mong mỏi có những đổi thay lớn trong tương lai văn học nghệ thuật nước nhà đang chuyển sang vai các thế hệ trẻ - là sản phẩm và là chủ thể của chính cái thời chúng ta đang sống hôm nay. Được đồng hành với họ, nếu chưa bị thay thế cũng đã là hạnh phúc lớn.

"Một đội ngũ viết hùng hậu, ở nhiều lứa tuổi, ai cũng muốn viết đến tận cùng những trải nghiệm và ao ước của mình; ai cũng mong đến được với cái riêng của mình - đó là điều tự nhiên; nhưng dẫu sự theo đuổi cái riêng là ráo riết đến mấy thì trước hiện thực hôm nay, tất cả các thế hệ viết đều có một mẫu số chung cho sự tìm kiếm: đó là cảnh ngộ và số phận chung của dân và nước - hai khái niệm đã được đặt ra trong tính khẩn thiết của nó, ngay từ đầu thế kỷ 20, và đã được chứng nghiệm cực kỳ sâu sắc trong Cách mạng tháng Tám và hơn hai cuộc chiến tranh", Giáo sư Phong Lê nhận định.

Trong tham luận "Tư duy lý luận văn học ở Việt Nam sau 1975: Sự chuyển đổi từ hệ hình tiền hiện đại sang hiện đại, hậu hiện đại", PGS, TS Phan Tuấn Anh đặt vấn đề: Trên thực tế, việc môn văn trong nhà trường thời gian gần đây bị học sinh đối phó, không dành sự chú tâm học tập có căn nguyên cơ bản từ phương pháp của hệ thống giáo dục.

Thay vì phát huy tính sáng tạo, hướng dẫn cảm nhận với cái đẹp hình thức của tác phẩm, người dạy lại hoàn toàn chú tâm vào những sự kiện xã hội học và lịch sử văn học, hay các nội dung tư tưởng, chính trị có tính duy lý, áp đặt lấn át sự cảm nhận tinh tế, chủ quan của người đọc về tính thẩm mỹ của tác phẩm. Tình hình nghiên cứu văn học chuyên nghiệp cũng tương tự, nhà nghiên cứu chủ yếu khảo cứu lịch sử tinh thần tác giả, những bối cảnh lịch sử của tác phẩm hơn là đi sâu vào nghiên cứu mặt hình thức hay cảm nhận của người đọc".

Có thể bạn quan tâm

Bà Phan Cẩm Tú (thứ 3 từ trái sang) tại buổi tọa đàm về bản quyền do Báo Nhân Dân tổ chức. (Ảnh: HỒNG QUÂN)

Bảo vệ bản quyền tác giả: Nỗi niềm người làm điện ảnh

Là người có nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ bản quyền điện ảnh, bà Phan Cẩm Tú (Ủy viên Ban Thường vụ Hiệp hội Xúc tiến phát triển điện ảnh Việt Nam, chuyên gia tư vấn, Hiệp hội Điện ảnh Hoa Kỳ) chia sẻ những nỗi niềm của những người làm sáng tạo trước thực trạng vi phạm bản quyền hiện nay.

Du khách tham quan nhà người Hà Nhì tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam. (Ảnh: THANH DUNG)

Giữ gốc, nối nghề trong nhịp sống số

Trước nguồn nguyên vật liệu tự nhiên khan hiếm, đội ngũ thợ am hiểu kỹ thuật dựng nhà ngày càng thưa vắng, nhiều ngôi nhà truyền thống của các dân tộc thiểu số ở nước ta đã không còn giữ được hình thái ban đầu… 

Quần thể di tích Cố đô Huế, không gian di sản tiêu biểu trong hành trình “Hộ chiếu du lịch”. (Ảnh: Sở Du lịch thành phố Huế)

Đổi mới cách tiếp cận di sản

Bảo vệ và phát huy giá trị di sản không chỉ là gìn giữ nguyên trạng, mà còn đòi hỏi những phương thức tiếp cận phù hợp với bối cảnh mới.

Đại diện lãnh đạo thành phố Hà Nội trao Bằng công nhận di tích lịch sử - văn hóa cấp thành phố cho di tích Nhà thờ họ Hoàng và Công bộ Viên ngoại lang Hoàng Viết Bàn.

Hà Nội trao bằng xếp hạng cấp thành phố cho di tích văn hóa lịch sử làng La Xuyên, xã Cổ Đô

Nhân dân thôn La Xuyên, xã Cổ Đô, thành phố Hà Nội vừa tổ chức Lễ đón nhận Bằng xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp thành phố Nhà thờ họ Hoàng và Công bộ Viên ngoại lang Hoàng Viết Bàn. Buổi lễ có sự tham dự của đại diện lãnh đạo Cục Di sản (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), Sở Dân tộc và Tôn giáo, Sở Nội vụ Hà Nội.

Bìa tác phẩm "Đời như tiểu thuyết" của tác giả Trương Đức Minh Tứ.

Những phận người không hư cấu trong Đời như tiểu thuyết

"Đời như tiểu thuyết" của Trương Đức Minh Tứ không phải là cuốn sách để tìm một cốt truyện theo nghĩa thông thường. Ở đó là những con người cụ thể, những đời sống đã diễn ra, với đủ biến cố, chia ly, lựa chọn, day dứt, hy sinh và cả những cuộc kiếm tìm kéo dài đến tận cuối đời. 

Các đồng chí lãnh đạo tỉnh cùng đông đảo cựu chiến binh, chiến sĩ Điện Biên tham quan triển lãm "Từ ký họa chiến trường đến sắc màu đương đại".

Đặc sắc triển lãm “Từ ký họa chiến trường đến sắc màu đương đại” tại Điện Biên

Nhân kỷ niệm 72 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/2026), Bảo tàng Chiến thắng Điện Biên Phủ (Điện Biên) tổ chức trưng bày, triển lãm 28 tác phẩm ký họa tiêu biểu về Chiến dịch Điện Biên Phủ của các họa sĩ Ngô Mạnh Lân, Phạm Thanh Tâm và Dương Hướng Minh với chủ đề “Từ ký họa chiến trường đến sắc màu đương đại”.

Nghệ nhân Nguyễn Công Đạt thực hiện in liễn làng Chuồn trong không gian Ngự Hà Viên, Huế. (Ảnh: MẠNH HÀO)

Những di sản sống của làng nghề

Có những làng nghề không mất đi hẳn nhưng lặng lẽ rút khỏi đời sống, chỉ còn lại trong ký ức của một vài người già hay trong những dấu vết mờ nhạt đâu đó.

Trần Ngọc Vàng và nghệ sĩ Thanh Thủy trong phim. (Ảnh: Galaxy Studio)

“Heo Năm Móng” đạt top 1 phòng vé điện ảnh mùa lễ 30/4

“Heo Năm Móng” nhanh chóng trở thành hiện tượng trên các diễn đàn điện ảnh và mạng xã hội, không chỉ nhờ chiến lược truyền thông hiệu quả, mà còn bởi hiệu ứng lan tỏa sau công chiếu. Sau 6 ngày ra mắt, phim chạm mốc 50 tỷ đồng, trở thành phim có doanh thu Top 1 phòng vé trong thời điểm ra mắt.

Nhà báo Hữu Việt và các diễn giả Phạm Thị Kim Oanh, Phan Cẩm Tú tại buổi tọa đàm. (Ảnh: HỒNG QUÂN)

Bảo vệ bản quyền từ góc nhìn của lĩnh vực điện ảnh

Trong các lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, điện ảnh là một trong số những loại hình bị vi phạm bản quyền nhiều nhất. Ở kỷ nguyên số, công nghệ và trí tuệ nhân tạo là sự tiến bộ nhưng cũng là những công cụ đắc lực để sao chép và phát tán sản phẩm điện ảnh, gây ảnh hưởng nặng nề nhiều mặt.

Phối cảnh công trình biểu tượng bông lúa Cà Mau.

Giá trị văn hóa từ "Biểu tượng bông lúa" ở Cà Mau

Sự phát triển của một địa phương trong kỷ nguyên mới không chỉ được đong đếm một cách cơ học bằng những con đường rải nhựa, hay những cây cầu bê-tông nối nhịp đôi bờ. Tầm vóc và sức sống của một vùng đất còn được khắc họa đậm nét qua những biểu tượng văn hóa mang tầm nhìn chiến lược.

Cảnh trong vở kịch ngắn “Chuyện nhà chị Tín” của Nhà hát Kịch Việt Nam biểu diễn tại Bảo tàng Hồ Chí Minh. (Ảnh: THƯƠNG NGUYỄN)

Mở lối để sân khấu tiếp cận công chúng

Không thiếu những cuộc thi, liên hoan được tổ chức rầm rộ, những vở diễn mới liên tục ra mắt mỗi năm, nhưng sân khấu nước ta vẫn đang loay hoay đi tìm khán giả. Lý do tình trạng này là bởi các đơn vị chức năng chưa xây được nhịp cầu đủ mạnh để kết nối với công chúng trong môi trường truyền thông đang thay đổi từng ngày.

Các văn nghệ sĩ trong chuyến đi thực tế tại mỏ than ở Quảng Ninh vào dịp Ngày Thơ Việt Nam năm 2026. (Ảnh: THIÊN AN)

Chuyển động mới của văn học viết về công nhân

Trong dòng chảy của văn học đương đại, đề tài công nhân từng là mạch nguồn quan trọng, được khai thác nhiều, nhưng cũng có giai đoạn gần như vắng bóng. Vài năm trở lại đây, mảng đề tài này được quan tâm hơn, không còn bó hẹp trong khuôn mẫu cũ mà thể hiện góc nhìn đa chiều, gắn với nhịp vận động của xã hội hiện đại.