Nỗi buồn làng Nam Ô

Dọc làng biển Nam Ô (phường Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu, Đà Nẵng) đã quây rào sắt quy hoạch du lịch. Không còn bến để những chiếc thuyền nhỏ đánh cá của ngư dân neo đậu. Về làng Nam Ô trong những ngày này, ngổn ngang gạch vụn.

Ông Nguyễn On buồn vì không còn bến đậu thuyền.
Ông Nguyễn On buồn vì không còn bến đậu thuyền.

Nghề biển mất dần

Dọc làng Nam Ô đã quây hàng rào sắt. Phía trong, làng Nam Ô. Phía ngoài khu du lịch. Hàng rào vô hình trung sẽ đang và đóng lại ký ức của những người già một thời sống bám biển. Người còn theo nghề, vẫn có những chiếc thuyền, tay lưới, sinh kế dựa vào biển cũng chẳng còn mấy thời gian.

“30 triệu đồng mua ngư cụ, chúng tôi có thể kiếm ăn được trong 5 năm. Nuôi được người con, đứa cháu”, lược lại tay lưới của một buổi sáng đi biển, ngư dân Nguyễn On, 60 tuổi cho biết: “Hết nghề rồi. Họ mua thuyền 25 triệu đồng, mua máy 5 triệu đồng, lưới không mua”. Ông On sẽ đi đâu và làm gì? Một cái lắc đầu ngao ngán giống như câu chuyện bị cách li khỏi môi trường quen thuộc chuyển sang môi trường khác mà tuổi tác của ông không đủ thời gian để tập việc kiếm nghề mới. “30 triệu đồng, ăn được hai ba tháng là hết. Không có việc làm sinh ra rượu chè bê tha”, ông On lo lắng.

Làng biển Nam Ô có khoảng 40% dân số theo nghề biển, khai thác hải sản trong vịnh Đà Nẵng. Mùa lưới te, ngày trúng cũng được từ 1 - 2 triệu đồng. Ngày hẻo, cũng được từ ba đến 400 nghìn đồng, đi từ ba giờ sáng đến chín giờ sáng, về bến. Mùa hè, đi lặn ốc tai, mỗi cân bán được 40 nghìn đồng. Mỗi thuyền, hai người mỗi ngày cũng kiếm được khoảng 40 - 50 cân. Đến cuối năm, cả làng đi lấy mứt biển. Người Nam Ô xoay vòng với biển theo mùa, theo năm. Mặn cũng từ biển, ngọt cũng từ biển. Tất cả đều nhờ con thuyền ra khơi, hoặc len lỏi đến những ghềnh đá. Quy hoạch du lịch, không còn chỗ đậu thuyền, không còn đường lên lối xuống, hẳn sẽ khó khăn rất nhiều cho độ tuổi lao động từ 40 trở lên.

Ông Mai Nênh, 62 tuổi, ngư dân Nam Ô cho hay: “Lứa tuổi 40 trở lên không có nghề làm. Đi biển ni là nghề dạy nghề. Giờ thoát biển, không biết mần chi để có ăn?”. Làm gì để có ăn đang là câu hỏi lớn cho nhiều ngư dân ở đây. Hiện, làng Nam Ô có 150 chiếc thuyền, 300 người theo nghề đánh cá. Đây là con số thống kê của các cụ trong làng. Đi cùng với nghề đánh cá là việc chế biến thủy, hải sản, nghề làm nước mắm nức danh. Anh Thiết, 40 tuổi, ngư dân đánh cá lo âu rằng: “Tuổi của tôi liệu rồi có ai tuyển làm bảo vệ không? Hai đứa con còn nhỏ, một đứa học lớp 5, đứa học lớp 2 khi hai vợ chồng đều chỉ biết lưới thuyền”.

Nghề sắp mất, nhiều người thấy buồn. Buồn hơn là thành phố cùng doanh nghiệp nói rằng, nghề biển bẩn biển. “Họ nói rứa có nhẫn tâm không”, ông On buồn bã.

Nam Ô bên phố, bên biển

Làng Nam Ô được hình thành trên doi đất cửa sông Cu Đê. Không có đất trồng trọt, theo đó, người dân đã làm “nông nghiệp” trên mặt nước biển suốt bảy trăm năm qua. Nay, “cơn lốc” đầu tư du lịch resort của một tập đoàn đã và sẽ xóa sổ hoàn toàn làng Nam Ô.

Cách đây vài năm, từng có ý kiến rằng, cứ lấy hết các làng chài ven biển để làm làng resort thì khách du lịch cũng sẽ mất đi hứng thú về biển mà không được thăm thú làng chài. Nghĩ ngợi từ ý kiến đó về thực tiễn Đà Nẵng, thì Nam Ô là làng chài cuối cùng… lên đường! Bài toán resort nghỉ dưỡng, biêt thự liền kề xóa làng. Với một hàng rào sắt, ngổn ngang gạch vụn, trang web tập đoàn trên đang rao bán biệt thự Nam Ô.

Chiều nay, một buổi chiều không mưa, gió nhẹ. Cơn gió từ biển thổi vào làng Nam Ô vẫn vậy, vẫn của hôm nay và vẫn của nhiều năm xưa đã thổi. Nhưng “cơn gió” du lịch khiến người Nam Ô thất thần. Di tích, đền miếu, cảnh quan, kể cả rừng cấm mà người Nam Ô đã giữ gìn sẽ biến dạng.

Đi dạo một vòng trong làng Nam Ô cùng anh Thiết. Anh chỉ cho xem di tích đền miếu, những đóng góp tích lũy từ nhiều thế hệ cha ông dựng lên. Anh Thiết nằm trong lứa tuổi chưa già, cũng không còn trẻ nữa. Anh gắn bó với nghề biển nên không vui khi du lịch đến, bãi đậu thuyền của làng sẽ không còn được đậu. Anh mong có khoảng bãi biển nhỏ thôi trên bãi biển Nam Ô đó. Cho ngư dân đậu thuyền thúng, thuyền mủng đánh bắt ven bờ. Chị Liên, 45 tuổi chuyên làm mắm cá cơm, mắm ruốc phàn nàn: “Tuổi trên 40 rồi, đi làm công nhân cũng khó. Nhà tôi đi làm bảo vệ cũng khó. Tuổi trẻ còn bắt kịp công việc”. Xem lại những vại mắm đang chín dần trong âu, thạp, chị Liên thở dài: “Tuổi trên bốn mươi, học hành không tới đâu, chưng ra bằng cấp tối thiểu không có. Họ có giải quyết, bố trí việc làm không”?

Tuổi trẻ làng Nam Ô thì nghĩ khác. Dương, Lâm, Tú… đều ngoài 20, họ rằng, họ không thấy buồn khi làng mất nghề biển. Với họ, đã tìm được công việc không gắn với ngư cụ, cũng không gắn kinh tế với nghề mắm của làng. Họ mở quán ăn, làm đầu bếp trong các nhà hàng, người bán hàng, người chạy xe vận tải. Dương cho hay: “Vẫn gắn bó với phong tục tập quán ở đây. Lễ cúng, lễ cầu ngư… tồn tại đến khi mô thì chưa biết”. Nghề biển rõ ràng đang ngày một mai một. Lứa tuổi dưới 40 ở làng không ai bám biển. Nhưng nhìn các cụ đi nghề lưới về âu sầu không phải vì thu nhập kém đi mà thấy cảnh san ủi rào chắn quanh làng. Nếu cứ giữ nguyên hiện trạng thì sao: “Vài chục năm nữa sẽ chỉ còn lác đác thuyền dưới bến. Đa phần đều không thạo lưới, thạo thuyền”, Lâm nói.

Làng Nam Ô là địa chỉ văn hóa làng biển của thành phố Đà Nẵng. Từ một làng biển quy hoạch lên phường, lên phố nên có sự chuyển đổi thế hệ, trẻ học nghề nên hướng đi đã rõ ràng. Già, long đong phận biển, giờ “thoát biển” lại long đong. Họ chưa rõ sẽ làm gì và làm được gì khi không còn bến để xuống biển. Cái kết thế nào? Có hậu hay không của làng biển Nam Ô?

Tên gọi Nam Ô chính là cửa ô phía nam của Đại Việt thời ấy. Làng Nam Ô không chỉ đơn thuần tên của một làng mà còn có giá trị lịch sử của quốc gia, chứa đựng một đời sống tinh thần, tâm linh khá phong phú. Đó là hệ thống di tích lịch sử, văn hóa: dinh Âm hồn, lăng Cá Ông, miếu Bà Liễu Hạnh… Ở đây còn phát hiện nhiều dấu ấn văn hóa Chăm như giếng vuông, nhiều hiện vật trưng bày tại Bảo tàng văn hóa Champa khai quật từ Nam Ô.
Ghềnh Nam Ô xưa kia từng là ngư trường của ngư dân các quận, huyện lân cận. Trong ghềnh, nhiều rong tảo cung cấp một lượng thức ăn phong phú cho đủ loài cá khác nhau. Ghềnh Nam Ô chỉ rộng khoảng hơn 2 ha nhưng chứa đầy những huyền tích. Điều kỳ lạ là dân làng Nam Ô đang ở chen chúc nhau với mật độ dân cư rất cao, nhiều kiệt hẻm chỉ đủ cho một người đi nhưng dân cư không bao giờ lấn vào khu rừng thiêng hay chặt phát cây trong rừng. Chính vì vậy, ở ngay gần khu đô thị sầm uất, rừng Nam Ô vẫn giữ được vẻ nguyên sinh với mầu xanh bất tận như một lá phổi của cánh bắc quận Liên Chiểu. Du khách đến đây sẽ được chiêm ngưỡng tuyệt tác của thiên nhiên qua những dải đá ngầm phân bố dày đặc, có đá chồng lên đá, có nơi sâu khoảng vài mét tạo nên khung cảnh khá hoang sơ.