Kỳ 1: Những khoản nợ khó đòi
Chậm quyết toán, xác định giá trị phần vốn nhà nước
Theo Báo cáo tài chính hợp nhất năm 2017 của ACV, vốn chủ sở hữu tại thời điểm ngày 31-12-2017 là hơn 27.384 tỷ đồng, trong đó, vốn góp của chủ sở hữu là hơn 21.771 tỷ đồng. Cơ cấu vốn của ACV khi thực hiện cổ phần hóa (CPH) là 22.430,98 tỷ đồng, đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1710/QĐ-TTg ngày 6-10-2015, theo phương án CPH vừa bán bớt một phần vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp (DN), vừa phát hành thêm cổ phiếu (CP) để tăng vốn điều lệ. Cụ thể, vốn Nhà nước theo giá trị DN đã xác định là 20.769,43 tỷ đồng; phát hành thêm CP để tăng vốn điều lệ là 1.661,55 tỷ đồng.
Sau khi ACV thực hiện bán đấu giá cổ phần lần đầu ra công chúng (IPO), người lao động (NLĐ), tổ chức công đoàn được mua 100.230.225 cổ phần (tương ứng hơn 1.002,3 tỷ đồng theo mệnh giá). Đây được xác định là phần phát hành để tăng vốn điều lệ. Số cổ phần còn lại chưa phát hành là 65.925.268,77 cổ phần (tương ứng hơn 659,2 tỷ đồng theo mệnh giá), trong đó phát hành cho cổ đông (CĐ) chiến lược là 448.619.701 cổ phần theo phương án CPH.
Trên cơ sở CP bán đấu giá thực tế thành công, Bộ Giao thông vận tải (GTVT) đã phê duyệt điều chỉnh vốn điều lệ và cơ cấu vốn điều lệ cho ACV (Quyết định số 59/QĐ-BGTVT ngày 14-3-2016) làm cơ sở tiến hành đại hội CĐ lần đầu với vốn điều lệ là hơn 21.771,7 tỷ đồng, tương ứng 2.177.173.236 cổ phần theo mệnh giá (trong đó Nhà nước nắm giữ 2.076.943.011 cổ phần, chiếm 95,39% vốn điều lệ; các CĐ khác là 100.230.225 cổ phần, chiếm 4,61% vốn điều lệ) và các CĐ đã góp đủ vốn theo giấy chứng nhận đăng ký DN số 0311638525 thay đổi lần thứ bảy ngày 12-9-2016 do Sở Kế hoạch và Đầu tư TP Hồ Chí Minh cấp.
Theo báo cáo của ACV, đến thời điểm tháng 8-2018, ACV chưa thực hiện xong công tác quyết toán, xác định giá trị phần vốn Nhà nước tại thời điểm chính thức chuyển thành công ty cổ phần (CTCP), từ ngày 30-6-2014 đến ngày 1-4-2016, và các tồn tại về tài chính cần tiếp tục xử lý theo quyết định tại khoản 3, Điều 1 Nghị định số 116/2015/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 59/2011/NĐ-CP của Chính phủ về chuyển DN 100% vốn nhà nước thành CTCP.
Riêng về việc quản lý nợ phải thu tại ACV, theo báo cáo tài chính hợp nhất năm 2017 của ACV, tổng số nợ phải thu tại thời điểm ngày 31-12-2017 là hơn 7.310,5 tỷ đồng. Bao gồm: Nợ phải thu hồi khách hàng là hơn 2.043 tỷ đồng; trả trước cho người bán là hơn 1.373,4 tỷ đồng; Các khoản phải thu khác là hơn 3.924 tỷ đồng. Tại năm DN được thanh tra, nợ phải thu tại thời điểm ngày 31-12-2017 là hơn 8.020 tỷ đồng, trong đó nợ ngắn hạn là hơn 7.504 tỷ đồng; nợ dài hạn hơn 858,8 tỷ đồng, dự phòng nợ phải thu khó đòi là hơn 342,5 tỷ đồng.
Về nợ phải trả, theo Báo cáo tài chính hợp nhất năm 2017 của ACV, tại thời điểm ngày 31-12-2017 là hơn 21.778,4 tỷ đồng. Bao gồm: nợ phải trả ngắn hạn là hơn 7.354 tỷ đồng (trong đó: Phải trả cho người bán là 1.124,6 tỷ đồng; người mua trả tiền trước là hơn 20,7 tỷ đồng; thuế và các khoản phải nộp ngân sách Nhà nước (NSNN) là hơn 238,6 tỷ đồng; phải trả NLĐ là hơn 1.080,9 tỷ đồng; chi phí phải trả ngắn hạn 923,7 tỷ đồng; doanh thu chưa thực hiện 19,3 tỷ đồng; phải trả ngắn hạn khác hơn 3.538,7 tỷ đồng; vay ngắn hạn số tiền 148,2 tỷ đồng; quỹ khen thưởng phúc lợi số tiền hơn 259 tỷ đồng). Nợ dài hạn là hơn 14.424,3 tỷ đồng. Tại năm DN được thanh tra, nợ phải trả tại thời điểm ngày 31-12-2017 là hơn 22.743,5 tỷ đồng, trong đó nợ phải trả ngắn hạn là 2,1 tỷ đồng.
NSNN có bị thất thoát?
Liên quan các khoản nợ phải thu, đã có 4/5 DN đến cuối năm 2017 chưa thực hiện đối chiếu, xác nhận đầy đủ nợ phải thu với số tiền hơn 943,3 tỷ đồng (chiếm 11,8% tổng nợ phải thu). Nguyên nhân được xác định chủ yếu là do các đơn vị đã gửi bản xác nhận nợ nhưng đến thời điểm ngày 31-12-2017 các khách nợ chưa gửi lại cho các đơn vị, một số khách hàng (chủ yếu là các hãng hàng không nước ngoài) đã gửi biên bản xác nhận nợ nhưng các hãng này không gửi lại hoặc không thể liên hệ được với khách hàng do đã thay đổi địa chỉ đăng ký kinh doanh…
Riêng công ty mẹ - Tổng công ty đã chưa kịp thời xử lý để thu hồi hơn 16 tỷ đồng là khoản tiền đã ứng và thanh toán cho các nhà thầu của một số hạng mục đã dừng thi công của các đối tượng như: Công ty TNHH phát triển công nghệ BTK chưa thu hồi số tiền hơn một tỷ đồng.
Theo báo cáo của ACV, chưa xử lý được số nợ của Công ty TNHH phát triển công nghệ BTK là do nhà thầu thi công hai gói thầu phát sinh từ năm 2011 và năm 2012, gồm: công trình cung cấp và lắp đặt hệ thống cơ điện Nhà ga hành khách Phú Quốc và cung cấp và lắp đặt hệ thống cơ điện Nhà ga Buôn Mê Thuột, đã hoàn thành và đưa vào sử dụng trước năm 2017 và được ACV quyết toán trong tháng 8-2017. Tuy nhiên, căn cứ kết luận của Kiểm toán Nhà nước (KTNN) thì ACV phải thu hồi hơn một tỷ đồng là số tiền do KTNN xuất toán theo thông báo kết quả thực hiện của Biên bản KTNN năm 2015 số 20/TB-KTNN ngày 11-01-2016 và số 119/KTNN-TH ngày 23-01-2017. Thực tế, tháng 7-2017, ACV đã đôn đốc, đối chiếu xác nhận công nợ, lập hồ sơ quyết toán, nhưng nhà thầu đã không còn hoạt động tại địa chỉ làm việc, do đó khoản công nợ này khó có khả năng thu hồi.
Khoản nợ phải thu hơn 8,8 tỷ đồng tại Công ty CP Công trình và Thương mại GTVT chưa thu hồi được cho là do còn hai hạng mục công trình chưa nghiệm thu và đã dừng thi công, vì: mặt bằng phục vụ thi công bị các hộ dân tái lấn chiếm, địa phương không giải phóng được mặt bằng, nên chưa thực hiện thanh quyết toán với nhà thầu, một số hạng mục của dự án đã đưa vào sử dụng còn một số hạng mục còn dở dang. Theo hợp đồng ban đầu thì giá trị là hơn 143,4 tỷ đồng, đến thời điểm tháng 7-2018, giá trị khối lượng tạm nghiệm thu quyết toán theo hợp đồng điều chỉnh sau khi dừng DA là hơn 100 tỷ đồng, nhưng giá trị ACV đã tạm ứng thanh toán là hơn 108,9 tỷ đồng. Cùng liên quan khoản nợ tạm ứng phải thu trong thi công DA là số tiền 6,2 tỷ đồng do Công ty CP Đầu tư phát triển nhà Hà Nội số 30 ứng để thực hiện thi công DA “Xây dựng hệ thống tường rào, đường công vụ - Cảng hàng không Vinh” phát sinh từ năm 2012 và đến thời điểm thanh tra DA chưa triển khai, đang tạm dừng thi công.
Nguy cơ thất thoát hàng chục tỷ đồng còn xảy ra tại Công ty CP phục vụ mặt đất Sài Gòn (SAGS) (Công ty mẹ - Tổng công ty nắm giữ 48% vốn điều lệ) khi thực hiện xóa nợ đã chưa thực hiện đúng quy định phải thu nợ khó đòi số tiền hơn 26,1 tỷ đồng. Trong đó, tại Công ty cho thuê Tài chính II - Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam (ALC II) là 20,6 tỷ đồng, nguyên nhân được xác định khi xử lý xóa nợ, trên cơ sở Biên bản họp hội đồng xử lý nợ phải thu khó đòi ngày 22-2-2017, nhưng tại Biên bản cuộc họp của Công ty chưa xác định nguyên nhân để xử lý trách nhiệm trong việc để xảy ra khoản nợ không có khả năng thu hồi.
Tương tự, với số tiền 5,5 tỷ đồng tại Công ty CP hàng không Meekong (P8), Công ty thực hiện xóa nợ chỉ căn cứ vào nội dung của Quyết định số 22/QĐ-BGTVT ngày 6-1-2015 của Bộ GTVT về việc hủy bỏ giấy phép kinh doanh vận chuyển hàng không của P8. Quyết định này chỉ là giấy phép con dừng hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh vận chuyển hàng không nên chưa đủ điều kiện để thực hiện xóa nợ theo quy định tại khoản 4, Điều 6 Thông tư 228/TT-BTC của Bộ Tài chính. Hay việc Công ty CP Dịch vụ hàng không Sân bay Tân Sơn Nhất (SASCO) đã trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi tăng không đúng quy định với số tiền hơn 2,3 tỷ đồng.
(Còn nữa)