Những trải nghiệm khó quên
Mấy năm nay, đường vào đến Vạn Ninh đã đẹp lắm. Nhưng đoạn trải nhựa chỉ đến đúng mấy khu resort đang xây dở, ra đến gần bãi Môn là hết, trước mặt vẫn là một trảng cát mênh mông. Để ra tới Mũi Đôi, hoặc phải vượt qua trảng cát độ dài tám cây số đó, hoặc đi ghe gần hai giờ đồng hồ, rồi tiếp tục “nhảy đá” qua bốn cây số. Ông Nguyễn Văn Hai, người đón khách có thâm niên nhất ở khu vực Đầm Môn thường vẽ một cung đường truyền thống là vượt trảng cát cắm trại qua đêm ở Bãi Gió, sáng sớm mới ra đến Mũi Đôi ngắm bình minh và quay về bằng ghe.
Nghĩa, người dẫn đường cho chúng tôi, bảo mùa này không phải ai cũng đủ sức trekking như vậy. Mấy năm trước, đã từng có người bỏ mạng giữa đồi cát nắng như nung này. Mới dẫn khách hơn một năm, nhưng Nghĩa đã bảo không biết bao nhiêu lần phải cấp cứu những vị khách kiệt sức. “Có đoàn mang cả trẻ con sáu - bảy tuổi đi, nói sao họ cũng không nghe. Đi được một lúc là không chịu được”. Từ giữa đồi cát, để ra được đến khu vực có ghe cấp cứu cũng phải nửa giờ đi bộ. Mà ghe về đến bờ cũng mất thêm tầm hơn một giờ. “Có lúc em phải cho người ta vào cáng kéo đi trên cát”, Nghĩa kể.
Cái sức hút của một điểm đến hoang sơ khiến thanh niên trai tráng đi nhiều, nhưng những người hiếu kỳ không biết lượng sức cũng lắm. Chí Bình, một hướng dẫn viên chuyên các tour mạo hiểm bảo, tour này vất vả nên anh phải có yêu cầu sức khỏe từ đầu với khách du lịch. Nơi này, hẳn nhiên không dành cho những người yếu sức.
Vượt đồi cát, hay đi ghe, ngồi thuyền thúng liên tục suốt hai ngày trong cái nóng lên tới 40 độ miền trung không phải là một trải nghiệm dễ dàng. Nhưng đó là một trải nghiệm xứng đáng. Bởi chỉ khi phải chạy đuổi miệt mài trên những mỏm đá, để cho kịp giờ mặt trời lên, hay vội vã leo qua những quả đồi cát cao ngất, để kịp giờ thủy triều còn ngắm những bãi san hô, mới biết giới hạn sức chịu đựng của mình ở đâu, mới thấy hóa ra vẫn còn những nơi gần như tách biệt với thế giới đến như vậy. Hầu như không bóng người, không một chút gợn của những khu xây dựng, những thói tranh giành khách, chỉ có trời và biển.
Một góc Đầm Môn.
Những người ở Đầm Môn
Ông Nguyễn Văn Hai có thể xem như người đầu tiên khai phá chỗ này. Ông ra đây từ những năm cuối thập niên 80 thế kỷ trước. Lúc đó quanh khu này chẳng có ai, không có đường vào, chỉ có những trảng cát hun hút, kể cả đi ghe cũng vòng vèo tầm vài giờ đồng hồ. Ông Hai thủng thẳng: “Đi vì vỡ nợ”. Người đàn ông ngoài 50 này từng là một trong những hướng dẫn viên du lịch đầu tiên ở Khánh Hòa, như ông tự nhận, vào thời kỳ mà Khánh Hòa vẫn đang là một điểm đến xếp vào dạng tiềm năng. Rồi chẳng hiểu làm ăn ra sao, ông mắc nợ 150 triệu đồng - con số 20 năm trước, như ông nói chẳng có cách nào trả được.
Vậy là bán nhà bán đất, trả nợ xong tay trắng, hai vợ chồng kéo nhau tìm đến một chỗ không ai đến được để làm lại từ đầu. “Lúc ấy vẫn còn nợ một ít, chủ nợ đến tìm suốt, ra đây để yên ổn làm ăn, mà chẳng ai tìm thấy”, ông Hai lý giải cho việc lựa chọn ra một vùng đất hẻo lánh bậc nhất Khánh Hòa của mình. Hai ông bà dựng một cái nhà lá ở Bãi Rạng (Rạn). Người ta bảo khu vực ấy có tên như vậy là vì có nhiều rạn san hô, lâu dần, tên đó gọi chệch thành Rạng. Còn ông Hai thì đơn giản là có chỗ dừng chân, làm ngư dân kiếm tiền làm lại. Hỏi ông đã trả xong nợ chưa, ông đập bàn: “Xong rồi chứ, ở chục năm là tao trả xong, tao còn mua được đất ngoài đất liền nữa”.
Hồi Mũi Đôi có tiếng, máu nghề trỗi dậy, ông Hai đứng ra nhận khách. Tính ra đến giờ, ông Hai đón khách đã bảy - tám năm, “Bốn - 5 năm nay chỗ này mới đông khách. Ngày nào cũng có người gọi, có người mùa biển động cũng đòi đi, nói sao họ cũng không chịu”. Dịch vụ của ông Hai vẫn đang được xem là chuyên nghiệp nhất khu vực ấy. Khách đến Đầm Môn là có người đưa đón, có ngay một ly nước chanh mát lạnh, một bữa cơm trưa ngon lành đón chờ.
Nghĩa cũng từ một ngư dân chuyển sang làm hướng dẫn viên. Cậu bảo nghề này cho cậu thu nhập ổn định hơn nghề cá. Bởi lâu nay, vịnh Vân Phong cũng không còn nhiều cá để đánh bắt gần bờ cho những ngư dân thuần túy như cậu.
Tối trên bãi Gió, Nghĩa chỉ tay ra chấm đỏ phía xa, bảo đó là ghe của ông Dũng. Khu vực này nằm dưới hai mỏm núi, sóng điện thoại phập phù. Ông Dũng có nhà ở Đầm Môn, nhưng ông sống trên ghe nhiều hơn ở nhà. Lên ghe ông Dũng mới thấy cái ghe bé xíu nhưng là một thế giới. Ông Dũng không quên giắt trên mái ghe mấy chai rượu, thế là đủ để ông một mình lênh đênh ở đó. Ông Dũng bảo giờ ít cá ít mực rồi, đi câu cho vui. Thi thoảng đưa khách du lịch ra bãi Gió, giúp ông có một thu nhập cố định. Để đỡ nhớ những ngày đánh cá, ông lại lên thuyền thúng đi vòng vòng mỗi tối. Thi thoảng, ông rủ khách du lịch ở lại tắm biển, uống với ông một vài chén rượu, đi ngắm san hô. “Chỗ này nó đẹp, chớ ra ngoài kia hỏng hết rồi, người ta xây dựng nhiều quá”, người đàn ông giải thích cho lý do cứ xa dần đất liền để vào tít trong này.
Người ở Đầm Môn, dần dần chuyển sang đón khách du lịch. Từ khi có đường vào, người Đầm Môn rời làng cũng nhiều. Có người chuyển sang nuôi bè cá, có người đi làm các khu resort. Người ở lại cùng những ánh mặt trời đầu tiên cũng ít dần đi. Người lạ đến, nhưng là vì một vài dự án đã khởi động. Từ trong Đầm Môn, cách vài cây số trảng cát, đã nghe thấy tiếng máy ủi, tiếng xây sửa. Chẳng mấy chốc, những dự án sẽ lan đến đây thôi.
Nghĩa bảo Nghĩa sống ở đây đơn giản suốt cả tuổi thơ, cả thời kỳ bẻ gãy sừng trâu lênh đênh trên thuyền, trên ghe, tối nằm đếm sao bãi Gió, đêm chèo thúng ra câu mực. “Vậy mới thích, chứ đi chơi rồi chui vào khách sạn nó bí bách gì đâu”, cậu cười hồn nhiên. Đôi khi, anh chàng ngoài 20 không hiểu sao người ta cứ phải thích ăn những món mực xào, ghẹ rang me, rồi tẩm ướp nhiều gia vị. Bởi cậu chỉ biết một “tuyệt chiêu” nướng lụi, mà cậu bảo phải nướng kiểu như cậu mới đậm, mới ngọt, mới thấy hết cái tươi của hải sản Đầm Môn. Cậu cứ nhẩn nha nướng, mặc kệ đám chúng tôi đói ngấu, giữa bốn bề gió lộng.
Nửa đêm ở Mũi Đôi nghe tiếng gió rít đập vách núi rờn rợn, nằm trong lều thấy giật mình. Nhưng Nghĩa cứ nằm trên tảng đá giữa trời, cậu bảo như vậy mới là hạnh phúc.