Nhà thơ Vũ Thúy Hồng:
Đam mê và chấp nhận cả thiệt thòi
Tôi đã cộng tác với nhiều báo, tạp chí ở trung ương và địa phương. Nói đến nghề báo bằng một từ, tôi nghĩ đó là “đam mê”. Đó là điều kiện đầu tiên để người ta có thể đi lâu dài trên con đường sáng tạo văn chương cũng như làm báo đầy nhọc nhằn, vất vả, đòi hỏi rất nhiều năng lượng, thời gian, công sức, sự kiên trì và cả những hy sinh thầm lặng. Mỗi người sinh ra có một cái tên. Một trong những điều rất quý giá mà nghề viết cho mình mà một người bình thường không dễ có được, đó là khi đã gieo được một dấu ấn, một ấn tượng nào đó trong bạn đọc, thì người ta nhớ đến cái tên của mình. Đó là một niềm hạnh phúc.
Đằng sau mỗi tác phẩm văn chương, báo chí, người làm văn, làm báo phải mất rất nhiều thời gian cho việc đọc, ghi chép, quan sát và suy ngẫm. Nhưng với những người phụ nữ làm báo theo đuổi văn chương, để tập trung trọn vẹn cho nghề nghiệp, công việc không phải lúc nào cũng dễ dàng. Người phụ nữ còn phải thực hiện trách nhiệm của một người mẹ, người vợ, người con trong gia đình nhiều khi khiến chúng ta không thể dành toàn bộ thời gian cho công việc. Điều đó khiến gia đình cũng có những thiệt thòi nhất định. Vì thế, chúng tôi phải biết cân đối, sắp xếp đểhoàn thành công việc.
Bản thân tôi, là vợ của một nhà báo từng nhiều năm làm ở mảng phóng sự, điều tra. Nói như vậy cũng để chia sẻ những nỗi niềm, những lo lắng khi người thân của mình nhiều khi đi công tác, tác nghiệp với không ít nguy cơ trong đời sống xã hội có những phức tạp hay tiêu cực.
Nhà văn, nhà báo Đặng Thị Thúy, Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Hải Phòng:
Không thể ngồi trong phòng máy lạnh lấy thông tin
Bên cạnh đam mê, tôi nghĩ có một từ nữa, đó là “dấn thân”. Nhà báo hay nhà văn đều phải dấn thân vào cuộc sống. Chúng ta không thể ngồi trong phòng máy lạnh để lấy thông tin, tìm kiếm tư liệu, mà phải đi, trải nghiệm, tiếp xúc với con người, các sự kiện nóng hổi đang diễn ra…
Nhìn vào những vất vả của nghề viết, nghề báo thì bất cứ người nào cũng có thể kể ra rất nhiều điều phải đánh đổi. Đó có thể là thời gian dành cho gia đình, những chuyến đi thực tế kéo dài, những đêm thức trắng với trang giấy hay màn hình máy tính, cũng như hàng trăm công việc khác. Tuy nhiên, những điều nhận lại lớn hơn rất nhiều những cái mất. Nhờ văn chương, báo chí, tôi có cơ hội được đi nhiều nơi, gặp nhiều người, được sống nhiều cuộc đời khác nhau thông qua những số phận mà tôi tiếp xúc. Cũng có khi là cơ hội được chứng kiến sự đổi thay của đất nước, được ghi lại những câu chuyện đẹp của con người và được góp một phần tiếng nói của mình vào xã hội. Nghề báo và nghề văn mang đến cho người cầm bút như tôi một đời sống tinh thần phong phú mà không phải nghề nào cũng có được. Chính vì thế, nếu nói về được và mất, tôi thấy mình được nhiều hơn mất.
Nghệ sĩ nhiếp ảnh, nhà báo Vũ Dũng:
Tuổi 74 vẫn cộng tác với báo và đào tạo phóng viên trẻ
Tôi cũng là người lính, từng hai lần cầm súng. Chính những năm tháng ấy đã góp phần rèn luyện con người để bền bỉ với nghệ thuật, với nghề báo sau này khi nhiều năm làm phóng viên ảnh báo Hải Phòng. Không có sự đam mê và dấn thân, tôi sẽ chẳng thể chụp được hàng nghìn bức ảnh đẹp, sinh động, bám sát đời sống và hơi thở của cuộc sống, để nhận về hơn 400 giải thưởng trong nước và quốc tế; cũng như được là một trong những người đầu tiên được Hội NSNA Việt Nam phong tước hiệu “Nghệ sĩ Nhiếp ảnh đặc biệt xuất sắc - EVAPA/GOLD” năm 2011, được Liên đoàn Nghệ thuật nhiếp ảnh quốc tế phong tước hiệu AFIAP năm 2012. Tôi có nhiều tác phẩm về người lính và nhiều tác phẩm được giải của tôi, nhân vật người lính lại chính là những người Hải Phòng.
Đến giờ, dù đã 74 tuổi, nhưng tôi vẫn luôn say mê con người và phong cảnh quê hương. Ngay cả những lần bị ốm nặng, vừa hồi phục tôi lại đi hiện trường để “săn ảnh”. Hiện nay tôi vẫn hăng hái cộng tác với các cơ quan báo chí, tham gia triển lãm, chấm giải, đào tạo phóng viên ảnh trẻ và đồng hành với các hoạt động nhiếp ảnh của thành phố Hải Phòng.
Nhà văn Nguyễn Quốc Hùng, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Hải Phòng:
Nợ chiến trường, nợ những người công nhân
Có thể nói, báo chí là cái đi trước để truyền tải kịp thời hơi thở cuộc sống. Còn văn chương thì đi những bước tiếp theo để khai phá những tầng sâu trong tâm hồn con người. Văn chương, báo chí đã cho tôi một chút “quyền của nhà văn, nhà báo”, để có thể dấn thân vào cuộc sống, đôi khi khai thác thông tin được thuận lợi hơn. Tôi vừa tham gia thực tế sáng tác với các đồng nghiệp trong chuyến đi do tạp chí Văn nghệ quân đội tổ chức, được đến nơi từng là chiến trường tại tỉnh Lào Cai, thấy vẫn còn nhiều điều để trăn trở, để viết lắm. Còn phải viết nhiều cho những vùng đất ấy, cho những người đồng đội năm xưa. Là người từng cầm súng tham gia chiến đấu bảo vệ biên giới phía bắc tại mặt trận Vị Xuyên (Hà Giang, nay là tỉnh Tuyên Quang), chúng tôi vẫn thường quan tâm thực hiện trách nhiệm của những người được trở về với những đồng đội đã ngã xuống.
Tôi còn có nhiều năm làm công nhân lái cần trục tại bến cảng - một trải nghiệm sống sâu sắc và trở thành chất liệu quý giá cho công việc sáng tác. Tôi cảm thấy mình mắc nợ những người công nhân - những con người “ngửi mùi mồ hôi của nhau còn nhiều hơn ngửi mùi mồ hôi của vợ”. Điều đó đã khiến tôi luôn mong mỏi khắc họa sâu sắc hình ảnh những con người lao động bình dị mà giàu nhân nghĩa.
Nhà thơ Hoài Khánh, nguyên Trưởng ban văn nghệ Đài truyền hình Hải Phòng:
Chất hiệp sĩ của Hải Phòng đi vào thơ, vào báo
Nói đến Báo Nhân Dân, tôi lại nhớ những kỷ niệm khi gặp gỡ nhà thơ Nguyễn Sĩ Đại, được gặp gỡ, trò chuyện với nhà báo Đinh Thế Huynh. Mùa hè năm 1983, khi mới 20 tuổi, tôi có bài thơ đầu tiên được đăng trên Báo Nhân Dân. Và sau đó, nhiều tác phẩm được đăng trên các báo khác như Tiền Phong, Đại đoàn kết, Văn nghệ, tạp chí Văn nghệ Quân đội… Chính những tờ báo ấy đã nuôi dưỡng, khích lệ đam mê sáng tác và tạo điều kiện để tôi dấn thân, trưởng thành. Đó cũng là động lực để tôi rẽ từ ngành học sư phạm sang sáng tác thơ và làm báo.
Nếu để cảm nhận về những nét tính cách của con người, miền đất Hải Phòng có tác động đến hoạt động sáng tác, làm báo, tôi nghĩ rằng đó là tính “hiệp sĩ” của người Hải Phòng. Đó là sự quyết đoán, yêu ra yêu, ghét ra ghét nhưng cũng mơ mộng, đắm say. Đây cũng là nét tính cách được hình thành từ lịch sử của một thành phố cảng luôn mở cửa giao thương, từng trải qua chiến tranh, thiên tai và nhiều biến động nhưng vẫn giữ được tinh thần mạnh mẽ, phóng khoáng.