Mục tiêu là chấm dứt tình trạng dàn trải, lãng phí nguồn lực kéo dài nhiều năm. Tuy nhiên, để đạt được điều này, việc sắp xếp không thể làm cơ học, mà đòi hỏi những giải pháp phù hợp với thực tiễn từng địa phương.
Mạng lưới giáo dục còn cồng kềnh, chồng chéo
Trong nhiều năm, hệ thống giáo dục, đặc biệt là giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học, phát triển theo hướng mở rộng số lượng hơn là chú trọng chất lượng. Không ít địa phương có tới hàng chục cơ sở đào tạo nghề, trung cấp, cao đẳng với quy mô nhỏ, tuyển sinh khó khăn, cơ sở vật chất xuống cấp, đội ngũ giảng viên thiếu ổn định.
Thí dụ, tại Quảng Ngãi, Trường cao đẳng Kỹ nghệ Dung Quất vốn được đầu tư quy mô lớn trong Khu kinh tế Dung Quất nhằm đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật phục vụ các dự án công nghiệp nặng. Với hệ thống xưởng thực hành, thiết bị đào tạo khá hiện đại từng được kỳ vọng là trung tâm đào tạo nghề chất lượng cao của khu vực. Khu xưởng thực hành cơ khí rộng hàng nghìn mét vuông, được đầu tư với hệ thống máy tiện, máy phay hiện đại, nhiều thời điểm chỉ có vài học viên thực hành. Có ngành tuyển sinh chưa đến 10 người, phải ghép lớp hoặc tạm dừng đào tạo. Trong khi đó, không ít phòng học, ký túc xá vẫn đóng cửa phần lớn thời gian, phản ánh rõ sự lãng phí nguồn lực nếu không kịp thời điều chỉnh.
Hay tại Đà Nẵng, Trường đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông Việt - Hàn được xây dựng trên nền tảng hợp nhất nhiều cơ sở đào tạo dù được kỳ vọng trở thành trung tâm đào tạo nhân lực công nghệ cao cho khu vực miền trung - Tây Nguyên, song trong giai đoạn đầu, quy mô tuyển sinh và sức hút chưa tương xứng với tiềm năng.
Ở khu vực phía bắc, Trường cao đẳng Việt - Hàn Quảng Ninh, một trong những cơ sở giáo dục nghề nghiệp được đầu tư bằng nguồn vốn ODA của Chính phủ Hàn Quốc với hệ thống xưởng thực hành, ký túc xá, thiết bị hiện đại nhập khẩu đồng bộ. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác tuyển sinh của nhà trường trong nhiều năm gặp không ít khó khăn, quy mô đào tạo chưa tương xứng với năng lực cơ sở vật chất…
Các chuyên gia đã chỉ ra, nguyên nhân không chỉ nằm ở công tác tuyển sinh, mà sâu xa hơn là sự thiếu gắn kết giữa quy hoạch mạng lưới đào tạo với nhu cầu thị trường lao động; giữa đầu tư cơ sở vật chất với chiến lược phát triển ngành nghề; giữa kỳ vọng chính sách với thực tiễn triển khai tại địa phương. Trong không ít trường hợp, việc đầu tư đi trước, nhưng dự báo nhu cầu nhân lực chưa sát, dẫn đến tình trạng “cung vượt cầu”, trong khi một số lĩnh vực khác lại thiếu hụt lao động có tay nghề.
Không chỉ ở giáo dục nghề nghiệp, một số cơ sở giáo dục đại học địa phương cũng rơi vào tình trạng tương tự: Quy mô đào tạo thấp, thiếu ngành mũi nhọn, chưa gắn với nhu cầu thị trường lao động. Tại Phú Thọ, Trường đại học Hùng Vương liên tục gặp nhiều khó khăn trong tuyển sinh. Có những năm, số lượng thí sinh nhập học không đạt chỉ tiêu, nhiều ngành phải dừng tuyển hoặc ghép lớp. Quy mô đào tạo vì thế bị thu hẹp, ảnh hưởng đến việc khai thác cơ sở vật chất và ổn định đội ngũ giảng viên.
Tương tự, Trường đại học Hạ Long được thành lập trên cơ sở sáp nhập các cơ sở đào tạo cũng phải đối mặt với áp lực tuyển sinh. Dù có lợi thế về cơ sở vật chất và định hướng đào tạo gắn với du lịch - dịch vụ, song trong giai đoạn đầu, quy mô sinh viên chưa tương xứng với năng lực đào tạo, đặt ra yêu cầu phải tái cấu trúc ngành nghề và nâng cao sức hút.
Ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, Trường đại học Bạc Liêu cũng đối diện với tình trạng tương tự khi nhiều năm tuyển sinh không đạt chỉ tiêu, quy mô đào tạo nhỏ, trong khi nhu cầu nhân lực chất lượng cao tại địa phương vẫn chưa được đáp ứng đầy đủ.
Thực tế này cho thấy, việc tiếp tục duy trì một hệ thống giáo dục dàn trải, manh mún không chỉ làm phân tán nguồn lực mà còn kìm hãm khả năng nâng cao chất lượng đào tạo. Chính vì vậy, chủ trương sắp xếp lại mạng lưới các cơ sở giáo dục theo hướng tinh gọn, tập trung, như Nghị quyết 105 đã đề ra, là yêu cầu tất yếu.
Quyết liệt nhưng cần thận trọng
Theo định hướng mới, mỗi tỉnh, thành phố chỉ duy trì nhiều nhất 3 trường cao đẳng (không tính các trường tự chủ tài chính). Đây là một bước đi mạnh mẽ nhằm tập trung nguồn lực, xây dựng các cơ sở đào tạo nghề chất lượng cao, có khả năng đào tạo liên thông và thực hành.
Tuy nhiên, khi nhìn vào thực tế, việc “cắt giảm” số lượng không đơn giản chỉ là bài toán sáp nhập cơ học. Một lãnh đạo ngành giáo dục tại địa phương phía bắc cho biết: “Việc giảm số lượng trường là cần thiết, nhưng nếu không có lộ trình rõ ràng và giải pháp đồng bộ, sẽ phát sinh nhiều vấn đề như dư thừa cán bộ, giảng viên, khó khăn trong bố trí việc làm, thậm chí ảnh hưởng đến tâm lý người học”.
Ở nhiều nơi, mỗi trường nghề lại có thế mạnh riêng, phục vụ những nhóm ngành khác nhau. Nếu sáp nhập không hợp lý, có thể dẫn đến mất đi những ngành đào tạo đặc thù, trong khi chưa chắc đã hình thành được một cơ sở mạnh hơn. Chẳng hạn, một trường chuyên đào tạo nghề cơ khí có thể không phù hợp khi sáp nhập với một trường thiên về du lịch - dịch vụ. Sự khác biệt về chương trình, đội ngũ, cơ sở vật chất sẽ khiến quá trình hợp nhất trở nên phức tạp, thậm chí làm giảm hiệu quả đào tạo trong ngắn hạn.
Tương tự như vậy, việc giải thể một trường đại học không chỉ là vấn đề tổ chức, mà còn liên quan đến hàng nghìn sinh viên, giảng viên, cán bộ. Một chuyên gia giáo dục nhận định: “Nếu xử lý không khéo, việc giải thể có thể gây xáo trộn lớn, đặc biệt là với sinh viên đang theo học. Cần có phương án chuyển tiếp rõ ràng, bảo đảm quyền lợi người học, tránh tạo ra “khoảng trống” trong đào tạo”.
Bên cạnh đó, cũng cần phân biệt rõ giữa “không đạt chuẩn” và “chưa có điều kiện phát triển”. Có những trường ở vùng khó khăn, quy mô nhỏ nhưng vẫn đóng vai trò quan trọng trong đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ. Nếu áp dụng tiêu chí cứng nhắc, có thể dẫn đến mất đi những “hạt nhân” giáo dục ở địa phương.
Một điểm mới đáng chú ý trong Nghị quyết là định hướng hợp nhất các trung tâm giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên để hình thành trường trung học nghề tương đương cấp THPT. Đây được xem là bước đi nhằm phân luồng học sinh sau THCS, tạo ra con đường học nghề sớm, gắn đào tạo với nhu cầu thị trường lao động.
Thực tế, ở một số địa phương như Đồng Nai hay TP Hồ Chí Minh, mô hình kết hợp giữa học văn hóa và học nghề đã bước đầu cho thấy hiệu quả: Học sinh vừa hoàn thành chương trình phổ thông, vừa có tay nghề, dễ dàng tham gia thị trường lao động hoặc học tiếp lên cao. Để mô hình này thành công, cần có sự đầu tư bài bản về chương trình, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, cũng như thay đổi nhận thức xã hội về giáo dục nghề nghiệp.
Nếu được triển khai đồng bộ và hợp lý, việc tinh gọn mạng lưới trường học sẽ mang lại nhiều lợi ích rõ rệt như tập trung nguồn lực, nâng cao hiệu quả quản lý và gắn đào tạo với nhu cầu thực tiễn. Tuy nhiên, những tác động tích cực này chỉ đạt được khi quá trình sắp xếp được thực hiện một cách khoa học, có lộ trình, tránh nóng vội. Mỗi tỉnh, thành phố có điều kiện kinh tế - xã hội, quy mô dân số, đặc điểm địa lý khác nhau. Vì vậy, việc sắp xếp cần dựa trên khảo sát thực tế, đánh giá toàn diện, thay vì chỉ căn cứ vào con số.
Bên cạnh đó, cần đặc biệt quan tâm đến yếu tố con người - đội ngũ giáo viên, giảng viên, cán bộ quản lý. Đây là lực lượng trực tiếp quyết định chất lượng giáo dục. Nếu không có chính sách hỗ trợ hợp lý, việc sáp nhập, giải thể có thể gây tâm lý bất ổn, ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy.
Nghị quyết 105 đã đặt ra một khung định hướng quan trọng. Vấn đề còn lại là tổ chức thực hiện như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất. Theo các chuyên gia, cần xây dựng lộ trình cụ thể theo từng giai đoạn, tránh triển khai dồn dập. Đồng thời, tăng cường đối thoại với các cơ sở giáo dục, lắng nghe ý kiến của giáo viên, phụ huynh và người học để tạo sự đồng thuận. Cùng với đó, cần có cơ chế giám sát chặt chẽ, đánh giá định kỳ để kịp thời điều chỉnh những bất cập phát sinh.