"Ba bước" để hoàn thành mục tiêu
Kể từ thời điểm ban hành Quyết định số 4714/QĐ-UBND, Thành phố Hồ Chí Minh đã xác định mục tiêu chuyển đổi thành đô thị thông minh và phát triển bền vững theo mô hình tăng trưởng xanh. Trong đó, sáu nhóm giải pháp trụ cột xây dựng đô thị thông minh tập trung toàn diện vào việc tối ưu hóa quản trị dựa trên dữ liệu và nâng cao chất lượng sống số.
Lộ trình triển khai được chia làm ba giai đoạn từ nay đến năm 2030. Giai đoạn đầu (2026-2027) tập trung hoàn thiện thể chế và thí điểm công nghệ nền tảng như trí tuệ nhân tạo (AI) hay bản sao số. Giai đoạn hai (2028-2029) đẩy mạnh kết nối, liên thông dữ liệu diện rộng và vận hành hoàn chỉnh Trung tâm điều hành thông minh. Giai đoạn cuối tiến hành tinh chỉnh, đồng bộ hóa và đánh giá toàn diện mức độ trưởng thành số vào năm 2030.
Như khẳng định của Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Mạnh Cường, địa phương hướng tới mục tiêu lọt top 50 đô thị thông minh thế giới vào năm 2030 và trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo hàng đầu khu vực châu Á -
Thái Bình Dương vào năm 2045. Nguyên tắc cốt lõi xuyên suốt được nhắc đến, chính là lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, lấy dữ liệu làm nền tảng.
Để thực hiện điều này, tư duy "ứng dụng công nghệ" cần được chuyển đổi thành tư duy "quản trị dựa trên dữ liệu". Yêu cầu ấy đồng nghĩa dữ liệu chính là một dạng hạ tầng thiết yếu của đô thị. Công nghệ, trí tuệ nhân tạo (AI) hay bản sao số chỉ là công cụ hỗ trợ. Hiệu quả cuối cùng phải được đo bằng chất lượng sống của người dân và sự thuận lợi của doanh nghiệp, chứ không phải số lượng thiết bị công nghệ được lắp đặt.
Đầu tư cơ sở hạ tầng liên thông, đồng bộ
Với mục tiêu quản trị dựa trên dữ liệu, Thành phố Hồ Chí Minh đã triển khai Trung tâm điều hành thông minh (IOC) từ năm 2017, tích hợp hệ thống camera giám sát, cảm biến đo chất lượng không khí, cảm biến đo mực nước, kết nối dữ liệu thời gian thực về một đầu mối. Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố cũng đề xuất chương trình quan trắc năm 2026 với mạng lưới 157 điểm đo chất lượng không khí, kế thừa và tích hợp mạng lưới của ba địa phương trước khi hợp nhất, gồm Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Dương và Thành phố Hồ Chí Minh.
Hiện tại, công nghệ xanh cũng đang len lỏi vào đời sống. Mẫu trụ dừng xe buýt T04 tích hợp pin năng lượng mặt trời cấp điện cho đèn và bảng thông tin, dự kiến nhân rộng ra 1.500 trụ dừng và 160 nhà chờ đến cuối năm 2026. Phân nửa trong hơn 2.200 xe buýt của thành phố đã chuyển sang chạy điện hoặc khí nén, đi kèm hệ thống vé điện tử liên thông với metro. Điện mặt trời áp mái cũng đang được lắp tại các trụ sở cơ quan nhà nước.
Theo thông tin của Sở Khoa học và Công nghệ thành phố, trong 5 tháng đầu năm 2026, địa phương đã hoàn thành 18 trên 34 nhiệm vụ chuyển đổi số trọng tâm, đạt 53% kế hoạch năm. Song song, thành phố đặt mục tiêu xây dựng một trung tâm dữ liệu siêu quy mô, làm nền tảng cho AI và các trụ cột chính quyền số, kinh tế số, xã hội số.
Dẫu vậy, sở hữu nhiều cảm biến và hệ thống dữ liệu khổng lồ không tự động tạo nên một đô thị xanh-thông minh. Như khẳng định của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Trần Vũ, Phó Hiệu trưởng Trường đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh, một đô thị thông minh cần được vận hành trên một nền tảng điều hành thống nhất, còn gọi là hệ điều hành đô thị. Nếu các ứng dụng giao thông, y tế, năng lượng phát triển rời rạc, Thành phố có thể có nhiều công cụ thông minh nhưng lại thiếu năng lực điều hành thống nhất. Đây chính là khoảng cách giữa việc lắp đặt thiết bị và quản trị bằng dữ liệu đích thực.
Chú trọng nguồn nhân lực công nghệ
Cảm biến, trung tâm dữ liệu, hệ điều hành đô thị, tất cả đều cần tới số lượng lớn nhân tài đủ năng lực vận hành, phân tích và ra quyết định. Thành phố Hồ Chí Minh cũng từng bước tháo gỡ khó khăn ở nút thắt này.
Trong chiến lược phổ cập AI (2026-2027), thành phố đặt mục tiêu đào tạo tối thiểu 100 nghìn người mỗi năm, về cả những kỹ năng số nói chung, chứ không riêng AI. Chiến lược chuyển đổi số đến năm 2030 cũng xác định phát triển nhân lực số là một trụ cột, tập trung đào tạo cán bộ, công chức về phân tích dữ liệu, AI và an toàn thông tin. Bên cạnh đó, địa phương cũng đang ráo riết đào tạo gần 10 nghìn nhân tài nhằm phục vụ mục tiêu phát triển ngành bán dẫn.
Những con số trên, khi đặt cạnh quy mô đô thị 14 triệu dân, chắc chắn chưa thể đáp ứng hoàn toàn yêu cầu. Chưa kể, đô thị thông minh cần phải vận hành bằng dữ liệu thời gian thực trên mọi lĩnh vực từ giao thông, môi trường đến y tế... Đội ngũ nhân sự không chỉ phải nắm rõ công nghệ, cũng như khả năng phân tích dữ liệu, mà còn phải hiểu sâu về hệ thống để chuyển kết quả phân tích thành quyết định điều hành. Do đó, bài toán đào tạo chuyên gia đủ trình độ để xử lý các bài toán điều hành đô thị thông minh cũng cần được chú trọng và giải quyết sớm, chứ không thể trông chờ vào các chương trình phổ cập công nghệ ngắn hạn.
Cuối cùng, một đô thị thông minh chưa bao giờ được đo đếm bằng số lượng cảm biến đã lắp đặt, hay khối lượng dữ liệu thu về, mà phải nhờ tới đội ngũ những nhà quản trị đích thực, với khả năng phân tích dữ liệu, để rồi đưa ra những quyết định nhằm cải thiện chất lượng đời sống nhân dân.
Xây dựng đô thị xanh - thông minh