Cần tiếp cận hiệu quả lợi ích của kỷ nguyên số

“Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) có thể thúc đẩy GDP Việt Nam tăng thêm 28,5 - 62,1 tỷ USD, tương đương mức tăng 7-16% GDP đến năm 2030, trong đó, nhiều ngành kinh tế dự báo sẽ tăng thêm giá trị gia tăng hàng tỷ USD”, báo cáo của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế T.Ư (CIEM) nêu rõ.

Ngành sản xuất thiết bị robot - trí tuệ nhân tạo được dự báo là động lực tăng trưởng chính của Việt Nam.
Ngành sản xuất thiết bị robot - trí tuệ nhân tạo được dự báo là động lực tăng trưởng chính của Việt Nam.

Cũng theo báo cáo của CIEM, GDP bình quân đầu người sẽ tăng thêm 315 USD - 640 USD/người vào năm 2030 nhờ tăng năng suất và tăng việc làm… Các ngành truyền thống của Việt Nam dự báo sẽ tăng thêm giá trị gia tăng nếu thực hiện CMCN 4.0. Đơn cử, ngành chế tạo sẽ tăng thêm 7-14 tỷ USD tùy mức độ ứng dụng. Ngành nông nghiệp truyền thống tăng thêm 4,9 tỷ USD nhờ tiết kiệm chi phí, nâng cao năng suất. Ngành tài chính sẽ tăng thêm 3,5 tỷ USD nhờ có thêm sản phẩm, dịch vụ và tiết kiệm chi phí. Ngành thông tin và truyền thông sẽ tăng thêm 2,5 tỷ USD, tăng 77% so trường hợp không thực hiện CMCN 4.0…

Ngoài các ngành, lĩnh vực truyền thống, CMCN 4.0 sẽ phát triển những ngành, lĩnh vực mới là động lực tăng trưởng chính của Việt Nam như: internet vạn vật, media, kinh tế số… Dự báo các ngành này sẽ có doanh thu năm 2030 rất cao như thương mại điện tử đạt 40 tỷ USD, sản xuất thiết bị robot - trí tuệ nhân tạo (AI) hơn 420 triệu USD, phân tích dữ liệu: 730 triệu USD, điện toán đám mây: 2,2 tỷ USD, gọi xe công nghệ: 2,2 tỷ USD, Fintech: 1,5 tỷ USD, nông nghiệp thông minh: 1,7 tỷ USD…

Tuy vậy, báo cáo trên cũng cho biết năng lực khoa học công nghệ (KHCN) của Việt Nam còn rất khiêm tốn so các nước trên thế giới. Theo xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế thế giới, Việt Nam xếp thứ 84/100 xét về đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) nhưng xếp thứ 74/100 xét về số lượng công bố khoa học chia cho GDP. Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Việt Nam vẫn còn nhiều điểm yếu: nhỏ lẻ, phân tán; thiếu cơ sở hạ tầng cần thiết cho các doanh nghiệp (DN) khởi nghiệp như kết nối internet, phòng thí nghiệm R&D, trung tâm dữ liệu để truy cập thông tin ở Việt Nam và trên toàn cầu.

Bên cạnh đó, Việt Nam chỉ có chín trung tâm dữ liệu chuyên dụng cho các DN, ít hơn rất nhiều so các nước Đông - Nam Á như: Singapore và Indonesia. Đặc biệt, đại đa số DN có trình độ công nghệ thấp và chưa quan tâm ứng dụng công nghệ mới. Vốn đầu tư cho công nghệ có tăng nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu; thiếu quy mô và khả năng kết nối cung-cầu. Hiện nay, không có DN lớn nào trên thị trường tạo ra tác động lớn.

Tuy môi trường có nhiều cải thiện trong những năm gần đây nhờ nỗ lực cải cách của Chính phủ, nhưng thực tế cho thấy môi trường kinh doanh của Việt Nam còn nhiều khó khăn. Thể chế kinh tế thị trường nhìn chung chưa phù hợp đổi mới sáng tạo; pháp luật về kinh doanh chậm thay đổi trước các xu hướng công nghệ và thị trường. Bởi vậy, khảo sát của Bộ Công thương mới đây cho thấy phần lớn DN sản xuất công nghiệp đang có mức độ tiếp cận thấp với cuộc CMCN 4.0, trong đó những trụ cột có mức độ tiếp cận thấp nhất là chiến lược tổ chức và sản phẩm thông minh.

Theo Chủ tịch Tập đoàn FPT Trương Gia Bình, thời gian qua, Việt Nam nói nhiều về CMCN 4.0 nhưng kết quả vẫn còn hạn chế, dù có nhiều tiềm năng. Vấn đề lớn nhất của Việt Nam hiện nay là dữ liệu. Nói tới CMCN 4.0 phải nói tới startup, nhưng khi làm việc, vấn đề mà các DN vướng nhất là cơ chế “xin – cho”. Thực tế, là một quốc gia nhỏ bé vùng biển Baltic không có hạ tầng công nghiệp, không có khoáng sản, nhưng Estonia vươn lên hàng đầu về CMCN 4.0. Họ có dữ liệu mở để DN, người dân khai thác. Hiện nay, Việt Nam không phải không có dữ liệu nhưng dữ liệu bị cát cứ, người dân, DN không thể dùng.

Trước thực trạng này, Viện trưởng CIEM Nguyễn Đình Cung cho rằng, CMCN 4.0 là cơ hội lớn, nếu không nắm được sẽ bị tụt hậu. Nhà nước cần có thái độ tích cực về công nghệ và sáng tạo, chấp nhận các công nghệ mới, mô hình kinh doanh mới trong giai đoạn phát triển ban đầu; Coi công nghệ và sáng tạo là cơ hội để giải quyết các vấn đề phát triển, do đó cần tạo điều kiện tốt nhất để khuyến khích công nghệ và sáng tạo. Cụ thể, Nhà nước cần rà soát, sửa đổi thể chế quản lý kinh doanh, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh trên nền tảng số; tạo không gian thể chế cho các thử nghiệm công nghệ; rà soát, sửa đổi, bổ sung thể chế cho các ngành công nghiệp mới xuất hiện. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cần rà soát, sửa đổi các quy định về thúc đẩy R&D và chuyển giao công nghệ cho DN, thay các chính sách khuyến khích hiện hành (như Quỹ phát triển KHCN trong DN) bằng các chính sách hiệu quả hơn. Thí dụ như dùng ngân sách hỗ trợ hoạt động R&D công nghệ của các cơ sở nghiên cứu, đào tạo nhân lực của DN…

Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam Ousmane Dione cũng khuyến cáo, CMCN 4.0 không phải đang gõ cửa mà đã hiện diện trong nhà của chúng ta rồi. Điều đầu tiên mà Việt Nam phải làm là làm sao thúc đẩy được khối DN tư nhân trong nước phát triển trên nền tảng KHCN, tạo đột phá về cơ sở hạ tầng và đầu tư vào nguồn nhân lực cho phù hợp thế kỷ 21.

Theo Vụ trưởng KH&CN (Bộ Công thương) Trần Việt Hòa, để có được những định hướng, chính sách phát triển phù hợp, giải pháp cụ thể hỗ trợ, thúc đẩy DN tiếp cận, tham gia cuộc CMCN 4.0, cần phải hiểu các DN đang đứng ở đâu so các yêu cầu của một nền sản xuất hiện đại thông minh trong tương lai.

Còn theo Tổng Thư ký Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam Nguyễn Quang Vinh, trong kỷ nguyên số, nếu không sẵn sàng, có năng lực, nhận thức, tư duy và từ đó đưa ra những chiến lược, hành động cụ thể để nắm bắt được cơ hội từ CMCN 4.0, DN không thể nâng cao năng lực cạnh tranh, năng suất và sẽ bị bỏ lại phía sau trong cuộc chơi này.