Tại Hải Phòng, SmartLog - nền tảng cơ sở dữ liệu dùng chung về hàng hóa-logistics, kết nối thông tin từ cảng, kho bãi, hãng tàu, vận tải với cơ quan quản lý và doanh nghiệp đang phát huy hiệu quả. Không tạo thêm một phần mềm riêng lẻ, mô hình hướng tới nối những nguồn dữ liệu đang phân tán trên một nền tảng chung, phục vụ quản lý và giảm chi phí logistics.
Xây dựng hạ tầng dùng chung
Là cửa ngõ ra biển của vùng Bắc Bộ, Hải Phòng có khả năng kết nối đồng thời năm phương thức vận tải trên hai hành lang kinh tế xuyên biên giới quan trọng giữa Việt Nam với Trung Quốc. Thành phố hiện có hơn 50 bến cảng, khoảng 5.700 doanh nghiệp logistics cùng hệ thống kho bãi trải rộng trên địa bàn. Quy mô đó tạo lợi thế lớn về lưu chuyển hàng hóa, đồng thời đặt ra yêu cầu quản trị ngày càng phức tạp.
Mỗi ngày, lượng dữ liệu lớn được tạo ra tại cảng biển, hãng tàu, kho bãi, doanh nghiệp vận tải và các cơ quan quản lý. Trong khi các chủ thể vận hành những hệ thống nghiệp vụ riêng, thông tin về cùng một dòng hàng lại bị chia cắt qua nhiều khâu. Nền tảng SmartLog được Hải Phòng triển khai để xử lý khoảng trống này. Sau giai đoạn đầu, hệ thống đã tích hợp dữ liệu khai thác của bốn cảng biển, dữ liệu vận tải đường bộ, đường thủy; kết nối hệ thống lệnh giao hàng điện tử của 80 hãng tàu trong và ngoài nước, chia sẻ tới các cơ quan quản lý phục vụ điều hành.
Ông Tạ Minh Vang, Ủy viên Hội đồng tư vấn Khoa học và Công nghệ TP Hải Phòng, Chủ tịch Công ty cổ phần Công nghệ CEH, cho biết: “SmartLog không phải một phần mềm, một ứng dụng hay một nền tảng công nghệ đơn lập. Điều chúng tôi hướng tới là hình thành cơ sở dữ liệu hàng hóa-logistics của địa phương, tích hợp dữ liệu kho bãi, cảng, vận tải để cùng phục vụ quản lý nhà nước và hoạt động của doanh nghiệp”.
Điểm khác biệt của SmartLog là không thay thế các phần mềm nghiệp vụ đang vận hành, mà đứng ở tầng kết nối để chuẩn hóa và chia sẻ dữ liệu. Chẳng hạn, thông tin về lệnh giao hàng, container qua cổng, vị trí tại bãi, tờ khai thông quan hay phương tiện vận chuyển vốn nằm ở nhiều hệ thống khác nhau. Khi được liên thông, hải quan có thể khai thác dữ liệu qua cổng, cầu tàu, bãi container và tờ khai để giám sát; cơ quan quản lý hàng hải, đường thủy sử dụng dữ liệu về sà-lan, hàng nguy hiểm; Sở Công thương khai thác phục vụ báo cáo, thống kê hàng hóa; Sở Khoa học và Công nghệ tiếp nhận tại hệ thống giám sát tích hợp... Nền dữ liệu chung cũng được mở có kiểm soát cho khu vực doanh nghiệp. Khi được chia sẻ đúng thẩm quyền, dữ liệu đã xác thực có thể trở thành đầu vào cho các dịch vụ vận tải, thanh toán, tài chính và những giải pháp logistics khác.
Phá những “ốc đảo dữ liệu”
Từ thực tiễn Hải Phòng bài toán dữ liệu hiện rõ hơn khi đặt trong quy mô toàn ngành. Ông Lê Hồng Giang, Phó Giám đốc Sở Công thương TP Quảng Ninh cho biết, hệ sinh thái ngành Công thương đã hình thành hơn 35 cơ sở dữ liệu quốc gia và chuyên ngành, nhưng nhiều hệ thống vẫn phân tán, hoạt động độc lập, có chức năng chồng chéo. Khoảng cách giữa số hóa và quản trị bằng dữ liệu có thể thấy ngay từ một giấy phép điện tử. Hồ sơ đã được xử lý trên môi trường số nhưng kết quả vẫn có thể chỉ tồn tại dưới dạng tệp PDF. Nếu thông tin không được bóc tách thành các trường dữ liệu có cấu trúc, cơ quan quản lý vẫn khó sử dụng ngay cho thống kê, giám sát hay phân tích.
“Các cơ sở dữ liệu cần được tổ chức trên một nền tảng quản trị lõi, trong đó kết quả giải quyết thủ tục hành chính được tái sử dụng, dữ liệu được chuẩn hóa và làm sạch để phục vụ điều hành”, ông Lê Hồng Giang nhấn mạnh.
Các “ốc đảo dữ liệu” không chỉ hình thành do các hệ thống công nghệ tách rời, mà còn bắt nguồn từ khoảng trống trong cơ chế quản trị: Đâu là nguồn dữ liệu chuẩn, ai chịu trách nhiệm cập nhật, cơ quan nào được khai thác và phạm vi chia sẻ đến đâu. Vì vậy, liên thông dữ liệu không chỉ là bài toán kỹ thuật, mà trước hết là bài toán về thể chế và trách nhiệm. Yêu cầu này đã bắt đầu được đưa vào thiết kế chính sách. Dự thảo Nghị quyết của TP Hồ Chí Minh về phát triển hạ tầng cảng biển, đường thủy nội địa và khu cảng mở yêu cầu các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu phải được kết nối để chia sẻ, khai thác và tái sử dụng. Phạm vi dữ liệu trải từ quy hoạch, đất đai, hạ tầng logistics, dự án đầu tư đến doanh nghiệp, thương mại, xuất nhập khẩu, môi trường, lao động; đồng thời xác định trách nhiệm cung cấp, cập nhật, khai thác dữ liệu theo phân quyền và yêu cầu bảo mật.
Dù mới ở dạng dự thảo, cách thiết kế này cho thấy quản trị dữ liệu đang dần được cụ thể hóa bằng những yêu cầu rõ về chất lượng, trách nhiệm và quyền khai thác. Chuyển động tại các đầu tàu kinh tế cũng cho thấy chỉ khi dữ liệu được chuẩn hóa, liên thông, tái sử dụng và trở thành căn cứ trực tiếp cho điều hành, chuyển đổi số mới thật sự tạo ra năng lực quản trị.