Bắt đúng “bệnh” để trị ngập hiệu quả

Chống ngập không thể mãi chạy theo từng điểm ngập. Khi mưa lớn, triều cường, sụt lún và đô thị hóa cùng gia tăng sức ép, Thành phố Hồ Chí Minh cần thay đổi cách ứng phó với bài toán đã kéo dài nhiều năm.

Hoàn thiện cống Cây Khô, một trong sáu công trình thuộc dự án ngăn triều, chống ngập 10 nghìn tỷ đồng của Thành phố Hồ Chí Minh.
Hoàn thiện cống Cây Khô, một trong sáu công trình thuộc dự án ngăn triều, chống ngập 10 nghìn tỷ đồng của Thành phố Hồ Chí Minh.

Những trận mưa lớn trong tháng 9 tiếp tục cho thấy áp lực ngập úng tại Thành phố Hồ Chí Minh. Các chuyên gia cho rằng, thay vì xử lý từng khu vực ngập riêng lẻ, cần quản lý toàn lưu vực, kết nối thoát nước đô thị với sông rạch, công trình thủy lợi, không gian trữ nước và hệ thống điều hành dữ liệu.

Không thể xử lý từng “rốn ngập”

Các yếu tố gây ngập đang gia tăng rõ rệt cả về tần suất và mức độ. Theo Viện Khoa học Thủy lợi miền nam, trong 40 năm từ 1962-2001, toàn khu vực ghi nhận 9 trận mưa trên 100 mm trong 3 giờ; 23 năm tiếp theo, từ 2002-2025, đã có 10 trận. Cùng với mưa lớn xuất hiện thường xuyên hơn, mực nước triều cao nhất tại các trạm Phú An và Nhà Bè đã tăng khoảng 40 cm trong 35 năm qua. Sức ép càng lớn khi mặt đất tiếp tục hạ thấp. Khoảng 239 km² thuộc Thành phố Hồ Chí Minh trước mở rộng đã lún hơn 10 cm trong 10 năm; một số khu vực phía tây nam ghi nhận tốc độ lún 4-7 cm/năm trong thời kỳ quan trắc. Sau mở rộng địa giới, thành phố hiện xác định 159 điểm ngập.

Cùng với rà soát hệ thống thủy lợi, tiêu thoát nước và không gian thoát lũ trên địa bàn mới, năm 2026, thành phố triển khai 9 dự án với tổng mức đầu tư hơn 7.150 tỷ đồng, hướng tới giải quyết 3/50 vị trí ngập sâu trên 30 cm, kéo dài quá 30 phút. Việc nạo vét cống, kênh rạch, vận hành trạm bơm, mở hướng thoát nước cũng tiếp tục được thực hiện.

Tuy nhiên, 159 điểm ngập không đồng nghĩa với 159 bài toán riêng biệt. Từ góc độ quy hoạch và khoa học thủy lợi, PGS, TS Nguyễn Phú Quỳnh, Phó Viện trưởng Khoa học Thủy lợi miền nam cho rằng với mỗi điểm ngập phải xác định được lưu vực, nguồn nước đổ về, vị trí dòng chảy bị cản và hướng thoát. Điểm ngập có thể xuất hiện ở một nơi nhưng nguyên nhân lại nằm ở vị trí khác trong cùng lưu vực. Bởi vậy, nếu chỉ mở rộng một tuyến cống, nâng một đoạn đường hay xử lý một điểm trũng, dòng nước có thể dồn sang khu vực khác.

Đặc điểm của hệ thống sông Sài Gòn-Đồng Nai càng khiến cách xử lý riêng lẻ bộc lộ hạn chế. Nước từ thượng nguồn đổ về trong khi triều từ hạ du dâng lên; nếu gặp mưa lớn, khả năng tiêu thoát càng bị thu hẹp. Do đó, theo ông Nguyễn Đức Vũ, Chi cục trưởng Thủy lợi, Sở Nông nghiệp và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh, bài toán chống ngập phải được tính trên toàn lưu vực, trong mối liên hệ giữa hệ thống sông rạch, công trình thủy lợi, cống kiểm soát triều, hồ chứa và mạng lưới thoát nước đô thị.

"Địa bàn mới vẫn còn những công trình chưa khép kín, việc đầu tư, nâng cấp và duy tu chưa đồng bộ, trong khi đô thị hóa tiếp tục làm thay đổi không gian tiêu thoát nước. Thành phố đang rà soát toàn bộ hệ thống để từng bước kết nối các công trình và nâng khả năng điều tiết nước theo lưu vực", ông Nguyễn Đức Vũ cho biết.

PGS, TS Nguyễn Phú Quỳnh cho rằng, số điểm ngập được xóa chưa phản ánh đầy đủ hiệu quả chống ngập. Quan trọng hơn là độ sâu, diện tích, thời gian ngập và thiệt hại thực tế giảm được bao nhiêu. Nếu một điểm hết ngập nhưng dòng nước lại dồn sang khu vực khác, hoặc mức độ ngập trên toàn lưu vực không giảm, thì bài toán xử lý ngập mới chỉ được dịch chuyển chứ chưa được giải quyết.

Chủ động quan trắc, cảnh báo từ xa

Nếu công trình là nền tảng, dữ liệu ngày càng quyết định khả năng vận hành công trình đúng thời điểm. Thực tế, hiệu quả chống ngập đang phụ thuộc nhiều hơn vào khả năng biết trước nước sẽ đến đâu, vào thời điểm nào và hệ thống còn bao nhiêu khả năng tiêu thoát, trữ nước. Đặc biệt, khi dữ liệu về mưa, mực nước sông, triều, hồ chứa và trạng thái các công trình được kết nối, cơ quan quản lý có thêm cơ sở để lựa chọn phương án vận hành phù hợp trước khi nước dâng.

Ông Nguyễn Đức Vũ cho biết, Thành phố Hồ Chí Minh đang từng bước kết nối dữ liệu thủy lợi, phòng, chống thiên tai với hệ thống quan trắc và cảnh báo từ xa, đồng thời ứng dụng GIS để theo dõi công trình, không gian thủy lợi. Khi dữ liệu được cập nhật và xử lý theo thời gian thực, việc điều hành có thể đi trước diễn biến mưa, triều, thay vì chờ ngập xảy ra mới ứng phó.

Các chuyên gia từ Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam cũng cho rằng, dữ liệu về mưa, triều, mực nước sông, hồ chứa và hoạt động của các công trình cần được kết nối với dự báo khí tượng thủy văn để xác định sớm nguy cơ ngập. Khi dự báo đi trước một bước, thành phố sẽ chủ động vận hành công trình, cảnh báo người dân. Đó cũng là bước chuyển cần thiết từ chạy theo từng điểm ngập sang quản lý rủi ro trên toàn lưu vực.