Bức tranh của người thợ cắt tóc

Tôi bị cầm chân ở cái thị trấn miền núi này đã ba hôm vì lũ rừng. Thị trấn bị cô lập, không điện, không sóng di động, lối lên với các bản du dịch homestay bị lở. Chủ nhà mỗi ngày đãi tôi hai bữa cơm lạc rang và canh bầu. Tôi hết ăn lại nằm cho móng chân, móng tay cáu bẩn dài nghều.

Minh họa: NGUYỄN MINH
Minh họa: NGUYỄN MINH

Tôi bị cầm chân ở cái thị trấn miền núi này đã ba hôm vì lũ rừng. Thị trấn bị cô lập, không điện, không sóng di động, lối lên với các bản du dịch homestay bị lở. Chủ nhà mỗi ngày đãi tôi hai bữa cơm lạc rang và canh bầu. Tôi hết ăn lại nằm cho móng chân, móng tay cáu bẩn dài nghều.

Đêm thứ ba, mưa vẫn chưa dứt và nước vẫn chưa rút, tôi thức dậy bởi tiếng sấm. Ánh chớp lóe qua cửa sổ căn phòng làm tôi nhận ra một bức tranh cũ treo trên tường phòng mình. Bức tranh vẽ một khu phố cũ. Trong thời khắc ngắn ngủi ấy, tôi thấy có một nét vẽ rất quen. Nhưng tôi đâu sành hội họa, tôi lại thiếp đi trong đêm mưa sâu thẳm miền sơn cước.

Có lẽ người ta không nên ngủ trong cơn chuyển mình đầy thịnh nộ của đất trời. Trong mê man, tôi thấy mình mê mẩn đi theo nét cọ rồi lạc vào bức vẽ. Tôi cứ loanh quanh không thể thoát được ra khỏi con đường nhỏ. Cái cây xà cừ ấy cứ nhoài ra phía đường. Bao lần bị bão vặn vẹo, bị người ta đốn cành, cái cây vẫn không chịu quay vào che bóng mát cho quán bia mới mở. Nó cứ nhoài ra con đường rõ chật hẹp và lồi lõm. Lớp bụi từ đất mượn cứ nắng lên lại nhao theo mỗi cái xe như đám ma chơi rồi quay lại bu đầy trên cái ghế của người thợ cắt tóc.

Đợi trời sáng mờ, gỡ bức tranh xuống, tôi nhận ra mọi thứ được vẽ thật giống với quang cảnh ngày xưa ở khu phố của mình. Tôi không nhớ, từ khi nào mình đã không qua con đường ấy nữa. Cái xí nghiệp cũ như chiếc bánh đa gặp lửa giờ vỡ ra thành nhiều mảng. Những đường ngang dọc đèn xanh, đèn đỏ làm người ta quên mất con đường cũ kỹ kia. Chẳng có hàng nước nào dám mở ở đấy, mấy gã đàn ông phố tôi thì cứ chiều đến lại ngồi nhìn ra đó cũng như ngắm một bức họa cũ trên tường.

Tôi đem thắc mắc ấy xuống kể với cô chủ nhà:

- Bức tranh vẽ nguyên trạng khu phố nhà tôi ngày trước.

- Ở cách đây đến cả trăm cây số - cô trả lời.

Rồi như vừa nhớ ra điều gì, cô nhắc tôi:

- Khi nào anh trả phòng nhớ báo trước nhé? Bọn em đang tính phải sửa sang lại những chỗ bị mưa ẩm mốc vì mưa gió, phải hẹn trước đám thợ sơn.

Sau một tuần tôi trở về nhà, hậu quả của trận lụt đã được những người trong gia đình tôi dọn dẹp và mọi người không quên trách móc người đàn ông đã biến mất không đúng lúc như thế. Một hôm, trời cũng sụt sùi mưa, tôi nhận được một cuộc gọi từ số điện thoại lạ:

- Chào anh… Anh thuê phòng nghỉ nhà em tháng trước đúng không, đúng đợt lũ lụt ấy. À! Vợ chồng em đang chuyển đồ để nhượng lại cho chủ khác, có bức tranh, anh có nhã hứng không?

Tôi vét sạch tiền trong ví để trả cho nhân viên bưu điện. Bức tranh được gói khá cẩn thận như một họa phẩm nổi tiếng. Cũng phải mấy tháng sau, tôi mới có dịp mở ra. Cái khung gỗ bắt đầu mọt, kính bắt đầu vỡ. Bức tranh được vẽ trên giấy giống một chiếc bản đồ, có những đường chỉ kẻ ô tỷ lệ, vài con số được viết rất bé. Người vẽ là một tay không chuyên, có vẻ giống dân đo đạc hơn.

Một lần, ngồi ngắm kỹ lại con đường phía nhà tôi nhìn ra, lục lọi trong ký ức của 20 năm trước khi đi xa nơi này, tôi nhớ ra con đường trên bức tranh có một cái chấm nhỏ ở chỗ cong nhất. Tôi đã được cha tôi đưa đến đó cắt đi lọn tóc năm lên sáu tuổi. Cái ghế gỗ được làm từ một cành xà cừ bị gãy trong bão. Cái tán cây mẹ cứ rủ xuống che bóng mát cho anh thợ cắt tóc hay muốn cúi xuống phía đứa con nay đã hóa một kiếp khác. Thớ gỗ nhẵn thín lên nước để những cái gáy tựa vào đó cho người thợ tỉa tóc, để nghe người ta rủ rỉ những chuyện gần chuyện xa… Ấy là chỗ của “anh Quán”, nhưng đấy cũng chỉ là cái tên do những người khách hàng quen gọi. Tôi đi học, lên những lớp trên, thân hình cao lớn, tính nết khác đi nhiều, khuôn mặt có nhiều mụn “trứng cá”. Có lúc ưa lầm lì, lúc sôi nổi theo chúng bạn, lúc thích một nghề kỹ thuật, lúc lại muốn làm công việc được bay nhảy, vậy mà riêng mái tóc vẫn do tay anh cắt. Vẫn cái ngôi hơi lệch, lúc nào giọng nói của anh cũng hơi run khi bắt đầu cầm chiếc kéo đưa những đường đầu tiên và bắt đầu một câu chuyện.

Một ngày chủ nhật, tôi đã vĩnh viễn không quay lại quán ấy nữa. Hai mươi sáu tuổi, tôi tự chọn cho mình kiểu tóc cắt cao, những cô bạn gái bằng tuổi đã khích lệ tôi như thế. Tôi đã hết “lạc loài” với mái tóc “cán bộ”, tôi hòa theo đám thanh niên ở phố khoe cái đầu nhẵn thín mỗi lần phóng xe bụi mù con đường. “Anh Quán” lần nào cũng ngẩn ngơ đứng nhìn theo. Tôi không ghét anh, nhưng khi ấy thấy thích thú với cái trò mới ấy. Vậy mà cũng đã hai mươi năm rồi…

Một lần, khi công việc trong tháng đã xong xuôi, tôi định đem bức tranh ấy ra bo lại và kiếm cho nó một cái khung mới. Bóc lớp vải bo phía sau, tôi phát hiện ra đằng sau bức tranh là một lá thư. Chữ viết bớt nét khó đọc, người viết kể lể không rõ ràng nhưng đúng là tâm sự của một ông bố. Ông kể thật nhiều về cuộc đời, về quãng thời gian ông và người vợ ly hôn phải sống xa nhau. Đứa con gái hẳn đã rất bướng bỉnh… Có những đoạn vòng vèo, trùng lặp nhưng đúng là cuộc đời ông gắn bó với con đường này, với cái quán cắt tóc. Là “Anh Quán”, tôi bàng hoàng. Đúng là, những năm cuối tôi ra cắt tóc, anh đã già, anh lại muốn được nghe tôi khuyên anh về cuộc sống. Suốt hai mươi năm, từng ấy lần nghe anh kể chuyện, tôi chưa hề biết gì về gia đình anh, nhưng luôn thấy anh muốn hỏi tôi về những câu chuyện thật khó trả lời trên những quyển tạp chí “Hạnh phúc gia đình” mà anh đã đọc đến nhàu nát.

Anh đã từng làm một người đo đạc, phải rồi! Giờ thì nơi gốc xà cừ chỉ còn cái đinh hay treo gương đã ngập lút vào lớp vỏ xù xì. Hình như, tôi đã từng gặp đôi mắt của cô chủ nhà nghỉ cũng dài và nhỏ giống đôi mắt anh. Trong lá thư có nhiều lần anh nhắc sẽ nhờ một người khách trẻ tuổi, con của người lái chiếc xe tải hay chạy lên thị trấn xa xôi ấy cho anh gửi hộ một chiếc ghế. “Nhưng rồi, cậu ấy đã không còn đến cắt tóc nữa. Bố cảm thấy xấu hổ vì suốt những năm tháng ấy bố thật sự vô tâm với con. Có thể ngay cả cậu ấy cũng đã cảm nhận được quá khứ của bố chẳng hạn. Suốt những năm còn bé, mỗi sáng, con đã ao ước được giữ chiếc ghế đó ở nhà để con chơi. Nhưng bố đã không thể chấp nhận ở nhà để nhận lương hưu và chơi với con. Bố mang nó đi để thỏa cái thú giao du với bạn bè của người về nghỉ hưu sớm. Có lần, con đã khóc và cố giữ lại, con bị bập môi vào thành ghế…”.

Vậy là, cô gái đã bán cho tôi bức tranh của cha cô, tôi đã phải trả cái giá của một người đã trót đi vào câu chuyện. Chẳng rõ giờ hai cha con họ ở đâu, nhưng bức tranh sau này vẫn được treo ở phòng tôi. Quả thật, sẽ chẳng biết phải bắt đầu kể như thế nào nếu có ai đó chợt hỏi tôi một câu đại loại:

- Này cậu, bức tranh ấy vẽ gì?