Trợ giúp xã hội trước yêu cầu mới

Những thay đổi về chính sách và nhu cầu chăm sóc ngày càng đa dạng đặt ra yêu cầu mở rộng phạm vi trợ giúp xã hội, đồng thời đổi mới hoạt động của các cơ sở theo hướng chuyên nghiệp, toàn diện và lấy người được trợ giúp làm trung tâm.

Các chính sách trợ giúp xã hội lấy đối tượng thụ hưởng làm trung tâm.
Các chính sách trợ giúp xã hội lấy đối tượng thụ hưởng làm trung tâm.

Mở rộng chính sách, đa dạng dịch vụ trợ giúp xã hội

Trong nhiều năm, các cơ sở trợ giúp xã hội là điểm tựa cho người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người khuyết tật nặng, trẻ em mất nguồn nuôi dưỡng, người cao tuổi không nơi nương tựa. Tuy nhiên, trước nhu cầu chăm sóc ngày càng đa dạng, mô hình trợ giúp truyền thống đang bộc lộ những giới hạn. Không phải ai gặp khó khăn cũng cần được nuôi dưỡng tập trung; nhiều người cần tư vấn tâm lý, phục hồi chức năng, hỗ trợ pháp lý, chăm sóc ban ngày hoặc kết nối việc làm.

Thực tế đó đòi hỏi chính sách trợ giúp xã hội phải mở rộng cả về đối tượng và phương thức cung cấp dịch vụ. Mục tiêu không chỉ là bảo đảm hỗ trợ vật chất mà còn giúp người yếu thế cải thiện chất lượng sống, phát huy khả năng tự lập và hòa nhập cộng đồng.

Ngày 21/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 335/2026/NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp xã hội. Theo đó, mức chuẩn trợ giúp xã hội được nâng từ 500.000 đồng lên 540.000 đồng/tháng. Nghị định có hiệu lực từ ngày 5/10/2026, trong đó mức trợ giúp mới được áp dụng chuyển tiếp từ ngày 1/7/2026. Các hình thức trợ giúp tiếp tục bao gồm trợ cấp thường xuyên tại cộng đồng, hỗ trợ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng, trợ giúp khẩn cấp và chăm sóc tại cơ sở trợ giúp xã hội. Đáng chú ý, địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội bảo đảm có thể trình cấp có thẩm quyền quyết định mức trợ giúp cao hơn hoặc bổ sung đối tượng khó khăn khác chưa được quy định trong chính sách chung.

Việc điều chỉnh mức chuẩn có ý nghĩa thiết thực trong bối cảnh chi phí sinh hoạt và chăm sóc sức khỏe ngày càng tăng. Tuy nhiên, đối với người khuyết tật đặc biệt nặng, người mắc bệnh tâm thần, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt hay người cao tuổi không còn khả năng tự chăm sóc, nhu cầu không dừng ở khoản hỗ trợ bằng tiền mà còn là các dịch vụ chăm sóc chuyên môn, phục hồi thể chất và tinh thần lâu dài.

Đáng chú ý, ngày 23/10/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 395/2026/NĐ-CP quy định về hoạt động và quản lý cơ sở trợ giúp xã hội, có hiệu lực từ ngày 7/12/2026. Văn bản này tạo cơ sở pháp lý cho việc phát triển các loại hình cơ sở và dịch vụ trợ giúp xã hội, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của người dân.

Theo quy định mới, cơ sở trợ giúp xã hội có chức năng phòng ngừa, chăm sóc, nuôi dưỡng, can thiệp, trị liệu, hỗ trợ phục hồi, phát triển và hòa nhập cộng đồng. Bên cạnh các cơ sở chăm sóc người cao tuổi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người khuyết tật, người tâm thần, Nghị định còn quy định các loại hình dịch vụ chăm sóc người cao tuổi dài hạn, ban ngày; hỗ trợ người khuyết tật dài hạn, ban ngày và trung tâm hỗ trợ người khuyết tật sống độc lập.

Điểm mới là cách tiếp cận trợ giúp xã hội linh hoạt hơn, lấy nhu cầu của từng nhóm đối tượng làm căn cứ tổ chức dịch vụ. Người cần chăm sóc dài hạn có thể được tiếp nhận tại cơ sở chuyên biệt; người vẫn có gia đình và khả năng sinh hoạt tại nhà có thể tiếp cận dịch vụ ban ngày; người khuyết tật có nhu cầu sống độc lập được hỗ trợ kỹ năng và điều kiện cần thiết để hòa nhập cộng đồng. Qua đó, cơ sở trợ giúp xã hội không chỉ là nơi tiếp nhận, nuôi dưỡng mà còn trở thành địa chỉ cung cấp các dịch vụ công tác xã hội chuyên nghiệp.

Đổi mới từ thực tiễn cơ sở

Thực tế, các trung tâm trợ giúp xã hội đang từng bước đa dạng hóa hoạt động, đáp ứng nhu cầu chăm sóc ngày càng phong phú. Tại Hà Nội, Trung tâm Chăm sóc người khuyết tật Hà Nội có nhiều năm kinh nghiệm tiếp nhận, quản lý, chăm sóc và nuôi dưỡng người khuyết tật không nơi nương tựa, trẻ em khuyết tật không có nguồn nuôi dưỡng.

Theo Sở Y tế Hà Nội, tháng 5/2026, Trung tâm có 119 viên chức, người lao động trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 318 người khuyết tật và trẻ em khuyết tật. Phần lớn là người khuyết tật đặc biệt nặng, trẻ em không còn gia đình hoặc không có người thân chăm sóc. Do tình trạng sức khỏe và mức độ khuyết tật khác nhau, mỗi trường hợp cần chế độ chăm sóc riêng, từ hỗ trợ sinh hoạt, theo dõi sức khỏe đến phục hồi chức năng và hỗ trợ tâm lý.

Theo ông Phùng Công Lợi, Giám đốc Trung tâm Chăm sóc người khuyết tật Hà Nội, phối hợp với các cơ sở y tế chuyên môn là giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng chăm sóc. Tháng 5/2026, Trung tâm đã phối hợp với Bệnh viện Phục hồi chức năng Hà Nội triển khai hoạt động chăm sóc sức khỏe, hướng tới xây dựng kế hoạch phối hợp chăm sóc, phục hồi chức năng và chuyển tuyến những trường hợp vượt quá khả năng chuyên môn.

Đánh giá về hướng tiếp cận này, ông Tô Đức, Cục trưởng Bảo trợ xã hội (Bộ Y tế) cho rằng, chăm sóc người khuyết tật, nhất là trẻ em, cần gắn với phục hồi chức năng, giáo dục và phát huy khả năng còn lại. Nếu chỉ dừng ở nuôi dưỡng, người được trợ giúp khó cải thiện khả năng tự lập và chất lượng sống lâu dài.

Trong khi đó, Trung tâm Phục hồi chức năng người khuyết tật Thụy An (xã Quảng Oai, Hà Nội) triển khai mô hình kết hợp phục hồi chức năng y học, giáo dục đặc biệt, giáo dục hòa nhập, hướng nghiệp, dạy nghề và công tác xã hội. Hiện trung tâm duy trì chăm sóc, điều trị và phục hồi chức năng thường xuyên cho khoảng 260-300 người khuyết tật, bệnh nhân. Cách tiếp cận này giúp người khuyết tật không chỉ được chăm sóc sức khỏe mà còn có cơ hội học tập, rèn luyện kỹ năng và phát triển khả năng tự lập.

Ở hướng khác, Trung tâm Công tác xã hội và Quỹ Bảo trợ trẻ em Hà Nội chú trọng tư vấn, tham vấn tâm lý cho người được chăm sóc, nuôi dưỡng. Tháng 1/2026, Trung tâm tổ chức tư vấn cho 10 trường hợp gồm trẻ em, người cao tuổi và người có hoàn cảnh khó khăn, gặp vướng mắc về nơi ở, việc làm và tâm lý. Hoạt động này cho thấy trợ giúp xã hội không chỉ là hỗ trợ vật chất mà còn cần lắng nghe, tháo gỡ khó khăn tinh thần, kết nối gia đình, việc làm và các dịch vụ cần thiết để giúp người yếu thế ổn định cuộc sống.

Nghị định số 395/2026/NĐ-CP quy định cơ sở trợ giúp xã hội thực hiện các nhiệm vụ phù hợp với chức năng, loại hình và đối tượng phục vụ, trong đó có tiếp nhận, bảo vệ khẩn cấp; đánh giá nhu cầu, sàng lọc, phân loại; tham vấn, trị liệu tâm lý; chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng; giáo dục, hướng nghiệp và hỗ trợ hòa nhập cộng đồng. Đáng chú ý, mỗi trường hợp phải được đánh giá nhu cầu, xây dựng kế hoạch chăm sóc, trợ giúp, theo dõi và điều chỉnh khi cần thiết.

Theo ông Tô Đức, yêu cầu này đòi hỏi các trung tâm phải đổi mới đội ngũ nhân lực, không chỉ có nhân viên chăm sóc mà cần bổ sung nhân viên công tác xã hội, chuyên gia tâm lý, nhân viên y tế, chuyên viên phục hồi chức năng và cán bộ hướng nghiệp. Các cơ sở cũng cần rà soát, nâng cao chất lượng nhân lực, bảo đảm người lao động được đào tạo kỹ năng phù hợp với từng nhóm đối tượng.

Cùng với nhân lực, việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị chuyên biệt và đẩy mạnh chuyển đổi số cũng rất cần thiết. Hồ sơ người được trợ giúp cần được cập nhật, quản lý xuyên suốt, theo dõi tình trạng sức khỏe, nhu cầu can thiệp và kết quả chăm sóc. Việc kết nối với các cơ sở y tế, giáo dục và chính quyền địa phương sẽ góp phần nâng cao hiệu quả phối hợp, hạn chế bỏ sót đối tượng.

Mở rộng phạm vi trợ giúp xã hội cũng đặt ra bài toán về nguồn lực tài chính. Ngân sách nhà nước là một trong những nguồn kinh phí quan trọng đối với các cơ sở công lập, song cần có thêm cơ chế khuyến khích doanh nghiệp, cơ sở y tế, giáo dục và các tổ chức xã hội tham gia cung cấp dịch vụ.

Nghị định 395/2026/NĐ-CP tạo cơ sở để các cơ sở trợ giúp xã hội huy động nguồn hỗ trợ hợp pháp trong và ngoài nước, đồng thời cung cấp dịch vụ sự nghiệp công và dịch vụ theo nhu cầu. Tuy nhiên, theo ý kiến của các chuyên gia, xã hội hóa phải đi đôi với kiểm soát chất lượng, bảo vệ quyền lợi người được chăm sóc và bảo đảm những người không có khả năng chi trả vẫn được tiếp cận các dịch vụ thiết yếu. Bên cạnh đó, cần tăng cường phối hợp giữa các trung tâm với chính quyền cấp xã, phường, cơ sở y tế, trường học và các tổ chức đoàn thể để kịp thời phát hiện, kết nối người có nhu cầu trợ giúp. Hiệu quả hoạt động cũng cần được đánh giá bằng kết quả chăm sóc, phục hồi chức năng, ổn định tâm lý và khả năng hòa nhập cộng đồng của từng đối tượng, thay vì chỉ tính số người được tiếp nhận hay số lượt hỗ trợ.

Có thể bạn quan tâm