ĐƯA NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIV VÀO CUỘC SỐNG

Hợp tác quốc tế gắn với phát triển nguồn nhân lực

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định yêu cầu xây dựng nền giáo dục hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới, đẩy mạnh hội nhập quốc tế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao. Cụ thể hóa định hướng đó, Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu mở rộng hợp tác với các đại học uy tín, thúc đẩy đào tạo, nghiên cứu chung.

Ngày 23/10, Đại học Bách khoa Hà Nội khánh thành Trung tâm hợp tác AU - HUST. Ảnh: ĐHBK HN cung cấp
Ngày 23/10, Đại học Bách khoa Hà Nội khánh thành Trung tâm hợp tác AU - HUST. Ảnh: ĐHBK HN cung cấp

Từ Trung tâm hợp tác AU - HUST tại Đại học Bách khoa Hà Nội đến mạng lưới liên kết của Đại học Quốc gia Hà Nội, vấn đề đặt ra là làm thế nào chuyển các cam kết hợp tác thành giá trị thực chất cho người học và năng lực nghiên cứu trong nước.

Những mô hình hợp tác mới

Ngày 23/10, Đại học Bách khoa Hà Nội khánh thành Trung tâm hợp tác AU - HUST tại tòa nhà Tạ Quang Bửu, đánh dấu bước phát triển mới trong quan hệ hợp tác với Đại học Adelaide (Australia). Trung tâm hướng tới ba trụ cột: Giảng dạy, nghiên cứu và kết nối doanh nghiệp.

Phát biểu tại buổi lễ, GS Lê Anh Tuấn, Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội, nhấn mạnh thế mạnh về chuyên môn, năng lực nghiên cứu và tầm nhìn quốc tế của Đại học Adelaide sẽ bổ sung cho năng lực của Bách khoa Hà Nội trong các lĩnh vực kỹ thuật, khoa học và công nghệ. Ông kỳ vọng trung tâm trở thành minh chứng cho quan hệ hợp tác lâu dài, với sự tham gia của giảng viên, sinh viên, doanh nghiệp và sự hỗ trợ của Chính phủ hai nước.

Theo GS Nicola Phillips, Hiệu trưởng kiêm Chủ tịch Đại học Adelaide, trung tâm ra mắt trong bối cảnh quan hệ Việt Nam - Australia phát triển, đặc biệt trong giáo dục đại học, nghiên cứu, khoa học và công nghệ. Bà đánh giá đây là một thí dụ cụ thể về quan hệ đối tác giữa hai nước.

Từ năm 2019, hai trường đã triển khai các hoạt động hợp tác như trao đổi sinh viên, công nhận tín chỉ ở một số ngành kỹ thuật và nghiên cứu trong lĩnh vực bán dẫn, trí tuệ nhân tạo. Trung tâm tạo điều kiện kết nối các hoạt động này trong khuôn khổ dài hạn hơn, hướng tới phát triển chương trình đào tạo chung, dự án nghiên cứu và hợp tác với doanh nghiệp.

Tháng 8/2026, Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Adelaide và Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã trao đổi về cơ hội hợp tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực và nghiên cứu khoa học, tập trung vào chuyển dịch năng lượng, khử carbon, an ninh năng lượng, lưới điện tương lai, trí tuệ nhân tạo và an ninh mạng. Đây là hướng hợp tác có thể đưa các bài toán thực tiễn của doanh nghiệp vào hoạt động nghiên cứu, đào tạo, đồng thời giúp sinh viên tiếp cận nhu cầu nhân lực của thị trường lao động.

Bà Renée Deschamps, Đại biện lâm thời Đại sứ quán Australia tại Việt Nam cho rằng, thế mạnh của hai trường có tính bổ trợ, tạo cơ hội phát triển các quan hệ đối tác nghiên cứu, tăng cường đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

Tại buổi lễ, PGS Nguyễn Thu Thủy, Cục trưởng Hợp tác quốc tế (Bộ Giáo dục và Đào tạo), nhấn mạnh hợp tác quốc tế không nên chỉ dừng ở các thỏa thuận và trao đổi mà cần chuyển hóa thành kết quả hữu hình trong giảng dạy, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực.

Định hướng này phù hợp với Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Nghị quyết yêu cầu mở rộng, đa dạng hóa hợp tác quốc tế trong giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học; khuyến khích các trường đại học Việt Nam liên kết với đại học uy tín, doanh nghiệp lớn ở nước ngoài, nhất là trong lĩnh vực trọng điểm và công nghệ mới nổi. Việc hình thành các đơn vị đào tạo, viện nghiên cứu chung cũng được đặt ra nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu và chất lượng đào tạo.

Không chỉ Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) cũng mở rộng hợp tác với các cơ sở giáo dục đại học hàng đầu thế giới, kết nối đào tạo, nghiên cứu và phát triển nhân tài.

Một trong những đối tác đáng chú ý là Đại học Thanh Hoa (Trung Quốc). Hai đại học thiết lập quan hệ từ năm 2006, từng bước mở rộng hợp tác nghiên cứu, trao đổi giảng viên, nghiên cứu viên, sinh viên và tổ chức hội thảo học thuật. Năm 2025, hai bên ký thỏa thuận trao đổi sinh viên, đồng thời thúc đẩy sáng lập Mạng lưới Đại học Việt Nam - Trung Quốc và tăng cường hợp tác về giáo dục kỹ thuật số.

Bên cạnh đó, ĐHQGHN duy trì quan hệ với nhiều đại học uy tín như Đại học Bắc Kinh, Đại học Quốc gia Seoul, Đại học Quốc gia Singapore, Đại học Công nghệ Nanyang, Đại học Tokyo và Đại học Paris-Saclay. Giai đoạn 2020-2024, đơn vị thu hút 1.418 chuyên gia, giảng viên quốc tế đến nghiên cứu, giảng dạy và tiếp nhận 6.326 sinh viên nước ngoài đến học tập.

Các chương trình trao đổi giúp sinh viên trải nghiệm môi trường giáo dục khác nhau, rèn luyện ngoại ngữ, phương pháp nghiên cứu và khả năng thích ứng. Tô Khánh Vân, sinh viên ngành Phân tích dữ liệu kinh doanh, Trường Quốc tế (ĐHQGHN), tham gia chương trình trao đổi tại Đại học Kyoto (Nhật Bản) từ tháng 10/2025 đến tháng 2/2026. Chương trình cho phép sinh viên tham gia các học phần bằng tiếng Anh và được miễn học phí tại trường tiếp nhận. “Tôi rất hào hứng tham gia chương trình trao đổi vì bản thân mong muốn tiếp thu kiến thức mới, tìm hiểu văn hóa thông qua trải nghiệm học tập, sinh sống tại Nhật Bản. Những trải nghiệm như vậy giúp người học mở rộng tầm nhìn, tiếp cận cách tổ chức đào tạo, nghiên cứu và làm việc trong môi trường quốc tế”, Vân chia sẻ.

Còn với các nhà trường, hợp tác quốc tế góp phần nâng cao năng lực quản trị, phát triển đội ngũ giảng viên, mở rộng mạng lưới học thuật và tiếp cận các chuẩn mực quốc tế. Khi giảng viên được làm việc với chuyên gia nước ngoài, tham gia dự án chung và công bố kết quả nghiên cứu trên các diễn đàn quốc tế, chất lượng đào tạo và năng lực nghiên cứu có điều kiện cải thiện.

Tránh nguy cơ hình thức

Dù mở ra nhiều cơ hội, hợp tác quốc tế giữa các trường đại học Việt Nam vẫn đối mặt không ít khó khăn. Theo ý kiến đóng góp của các chuyên gia, trước hết là sự chênh lệch về nguồn lực, cơ sở vật chất, năng lực nghiên cứu và kinh nghiệm quản trị. Những trường có đội ngũ mạnh, phòng thí nghiệm hiện đại và nguồn lực tài chính ổn định thường thuận lợi hơn trong thu hút đối tác uy tín, triển khai dự án quy mô lớn. Ngược lại, các trường còn hạn chế về nhân lực và hạ tầng có thể gặp khó khi chuyển từ ký kết thỏa thuận sang triển khai thực tế.

Kinh phí cũng là rào cản đáng kể. Các chương trình trao đổi, nghiên cứu chung và đồng tổ chức đào tạo phát sinh chi phí đi lại, lưu trú, thiết bị và quản lý dự án. Ngay cả khi được miễn học phí tại trường đối tác, sinh viên vẫn có thể phải tự chi trả vé máy bay, bảo hiểm và sinh hoạt…

Năng lực ngoại ngữ và khả năng làm việc trong môi trường quốc tế cũng cần được chú trọng. PGS, TS Nguyễn Vũ Quỳnh, Phó Hiệu trưởng Trường đại học Lạc Hồng chỉ ra: “Giảng viên, sinh viên phải có khả năng trao đổi chuyên môn, viết báo cáo khoa học và trình bày kết quả nghiên cứu bằng ngoại ngữ. Nếu thiếu chuẩn bị, cơ hội hợp tác có thể chỉ tập trung vào một nhóm nhỏ, chưa tạo được tác động rộng rãi”.

Bên cạnh đó, việc công nhận tín chỉ, thống nhất chuẩn đầu ra, xây dựng chương trình chung, phân chia quyền sở hữu trí tuệ và quản lý dữ liệu nghiên cứu cần được xử lý từ sớm. Khác biệt về quy định, lịch học, thủ tục phê duyệt và cơ chế tài chính giữa các quốc gia có thể kéo dài thời gian triển khai. Với nghiên cứu khoa học, các bên còn phải thống nhất mục tiêu, nguồn lực đóng góp, quyền sử dụng kết quả và trách nhiệm duy trì dự án sau khi kết thúc tài trợ.

Một thách thức khác là nguy cơ hợp tác thiên về hình thức. Ký kết nhiều biên bản ghi nhớ chưa đồng nghĩa với hiệu quả thực chất nếu thiếu kế hoạch hành động, đầu mối chịu trách nhiệm và cơ chế đánh giá. Hợp tác cũng khó bền vững nếu phụ thuộc vào quan hệ cá nhân hoặc dự án ngắn hạn, không gắn với chiến lược phát triển của nhà trường.

Từ thực tiễn triển khai, ông Nguyễn Tiến Dũng, Phó Cục trưởng Hợp tác quốc tế (Bộ Giáo dục và Đào tạo) cho rằng, các trường cần chuyển trọng tâm từ mở rộng số lượng đối tác sang nâng cao chất lượng hợp tác; ưu tiên nguồn lực cho lĩnh vực có thế mạnh, xây dựng nhóm nghiên cứu đủ năng lực, hỗ trợ tài chính cho sinh viên và phát triển đội ngũ giảng viên có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế. Cơ quan quản lý cần tiếp tục hoàn thiện quy định, tháo gỡ vướng mắc về thủ tục, công nhận kết quả học tập và nghiên cứu, tạo điều kiện để các mô hình hợp tác vận hành ổn định.

Hội nhập quốc tế trong giáo dục đại học không chỉ nhằm đưa sinh viên ra nước ngoài hoặc thu hút chuyên gia quốc tế đến Việt Nam. Mục tiêu sâu xa là nâng cao năng lực của các trường trong nước, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và từng bước làm chủ tri thức, công nghệ. Khi cam kết hợp tác được chuyển hóa thành kết quả cụ thể trong đào tạo, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo, hội nhập mới thật sự trở thành động lực phát triển của giáo dục đại học Việt Nam.

Có thể bạn quan tâm