Áp lực từ thị trường, thách thức từ nội lực
Một doanh nghiệp may mặc nhận thêm đơn hàng xuất khẩu cho mùa mua sắm cuối năm. Tưởng chừng đây là cơ hội tăng doanh thu, nhưng khi tính toán lại chi phí nguyên liệu, vận chuyển và nhân công, phần lợi nhuận dự kiến không còn nhiều. Nhận đơn hàng đồng nghĩa phải tăng tốc sản xuất, song giữ được lợi nhuận mới là bài toán khó.
Câu chuyện này phản ánh áp lực mà nhiều doanh nghiệp xuất khẩu đang đối mặt trong những tháng cuối năm 2026. Khi nhu cầu tại các thị trường lớn phục hồi chưa đồng đều, giá nguyên liệu và chi phí logistics biến động, doanh nghiệp làm hàng xuất khẩu không chỉ phải bảo đảm tiến độ giao hàng mà còn phải tìm cách duy trì sức cạnh tranh.
Tại Thanh Hóa, nhiều doanh nghiệp đang tập trung nguồn lực đáp ứng các đơn hàng đã ký. Tuy nhiên, biến động giá nguyên liệu, chi phí vận tải và chính sách thuế quan tại các thị trường lớn khiến hoạt động xuất khẩu đối mặt không ít khó khăn. Bà Hoàng Thị Kim Dung, Phó Chủ tịch Hiệp hội Dệt may tỉnh Thanh Hóa cho biết, để giữ đơn hàng, doanh nghiệp phải tiết giảm chi phí, nâng năng suất và chủ động tổ chức sản xuất.
Trong khi đó, doanh nghiệp xuất khẩu các mặt hàng nông, lâm, thủy sản còn chịu áp lực từ các tiêu chuẩn chất lượng, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và yêu cầu ổn định nguồn cung. Ông Lê Quý Việt, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Xuất nhập khẩu Thủy sản Thanh Hóa cho rằng, nâng cao năng lực nội tại, hiệu quả sản xuất và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế là yếu tố quyết định để giữ thị trường, phát triển đơn hàng.
Những khó khăn trên phần nào phản ánh thách thức chung của hoạt động xuất khẩu Việt Nam, khi kim ngạch tiếp tục tăng nhưng sức ép chi phí và sự phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu ngày càng lớn.
Theo Cục Hải quan, trong 15 ngày đầu tháng 10/2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 56,68 tỷ USD, tăng 48,5% so với cùng kỳ. Lũy kế đến ngày 15/10, kim ngạch xuất nhập khẩu đã vượt 945 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 463,7 tỷ USD, nhập khẩu 481,36 tỷ USD.
Trước đó, chín tháng năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 888 tỷ USD, tăng 30,4%. Kim ngạch xuất khẩu đạt 434,3 tỷ USD, tăng 25,4%, trong khi kim ngạch nhập khẩu đạt 453,7 tỷ USD, tăng 36,7%.
Kim ngạch nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu khiến cán cân thương mại chuyển từ xuất siêu 16,87 tỷ USD cùng kỳ năm 2025 sang nhập siêu 19,4 tỷ USD.
Đáng chú ý, nhóm hàng điện tử đóng góp hơn 42% tổng kim ngạch xuất khẩu nhưng cũng là lĩnh vực nhập siêu lớn. Trong chín tháng, nhập khẩu máy tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 188,9 tỷ USD, tăng 71,7%, trong khi xuất khẩu đạt 123,6 tỷ USD, chênh lệch hơn 65 tỷ USD.
Lý giải nguyên nhân, bà Trịnh Thị Thu Hiền, Phó Cục trưởng Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương) cho biết, giá nguyên liệu phục vụ sản xuất điện tử, bán dẫn tăng mạnh, một số loại chip và ổ cứng SSD tăng giá tới 300-500%, đẩy trị giá nhập khẩu lên cao.
Cùng với đó, nhu cầu nguyên liệu phục vụ sản xuất các sản phẩm công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI), tăng nhanh khiến doanh nghiệp phải tăng nguyên liệu dự trữ. Có doanh nghiệp nâng thời gian dự trữ từ 6 lên 12 tuần, thậm chí giá trị hàng tồn kho của nhiều doanh nghiệp tăng từ 100 triệu USD lên 700 triệu USD.
Làn sóng mở rộng đầu tư của các tập đoàn như Samsung, Intel, BYD cũng kéo theo nhu cầu nhập khẩu máy móc, thiết bị và linh kiện phục vụ sản xuất.
Ở góc độ điều hành, ông Bùi Huy Sơn, Vụ trưởng Kế hoạch - Tài chính (Bộ Công thương) nhận định, sản xuất công nghiệp và xuất khẩu tiếp tục tăng trưởng tích cực nhưng chất lượng tăng trưởng chưa đồng đều.
Đáng chú ý, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chiếm tới 80,9% tổng kim ngạch xuất khẩu, tăng 29,2%, trong khi doanh nghiệp trong nước chỉ tăng 6,1%. Điều này cho thấy, tăng trưởng xuất khẩu vẫn phụ thuộc lớn vào khu vực FDI, trong khi năng lực tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp trong nước còn hạn chế.
Nâng giá trị nội địa để tăng trưởng bền vững
Theo bà Trịnh Thị Thu Hiền, để kéo giảm nhập siêu, trước hết phải duy trì đà tăng xuất khẩu. Tuy nhiên, nhập khẩu cũng cần được nhìn nhận trong mối quan hệ với nhu cầu nguyên liệu, máy móc và linh kiện phục vụ sản xuất.
Bộ Công thương đang triển khai các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng thị trường, thúc đẩy xuất khẩu, đồng thời nâng cao năng lực sản xuất trong nước, tăng tỷ lệ nội địa hóa và giá trị gia tăng trong chuỗi cung ứng.
Đây cũng là định hướng trọng tâm trong dự thảo Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Theo đó, giai đoạn 2026-2030, xuất khẩu phấn đấu tăng bình quân 15-16%/năm, nhập khẩu tăng 12-13%/năm, duy trì thặng dư thương mại bền vững ở mức 3-6% tổng kim ngạch xuất khẩu. Đến năm 2045, Việt Nam đặt mục tiêu nằm trong nhóm 10 quốc gia có kim ngạch xuất nhập khẩu lớn nhất thế giới, tỷ trọng xuất siêu đạt 7-10%.
Đáng chú ý, chiến lược hướng tới nâng tỷ trọng xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước lên 28-30% vào năm 2030 và 38-40% vào năm 2045. Tỷ trọng hàng chế biến hoặc đã tinh chế phấn đấu đạt 89-90% vào năm 2030 và hơn 92% vào năm 2045.
Về quy mô, dự thảo đưa ra ba kịch bản xuất khẩu đến năm 2030, từ 765 tỷ USD đến 1.041,1 tỷ USD.
Những mục tiêu này cho thấy, tăng trưởng xuất khẩu không thể chỉ dựa vào mở rộng thị trường hay gia tăng đơn hàng. Quan trọng hơn là phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước và tăng hàm lượng công nghệ trong sản phẩm.
Trong ngắn hạn, duy trì đà xuất khẩu sẽ góp phần cải thiện cán cân thương mại. Nhưng về dài hạn, giảm phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu, nâng tỷ trọng xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước và giữ lại nhiều giá trị hơn trong chuỗi cung ứng mới là nền tảng để xuất khẩu Việt Nam phát triển bền vững.