Tháo gỡ khó khăn cho xuất khẩu

Bộ trưởng Công thương Nguyễn Hồng Diên nhận định thẳng thắn: Việt Nam đã ký các hiệp định thương mại song phương, đa phương nhằm thuận lợi hóa thương mại để thúc đẩy sản xuất trong nước. Tuy nhiên, một số nước phát triển đã dựng lên các rào cản kỹ thuật như chuyển đổi năng lượng xanh sạch, sản xuất carbon thấp… Tất cả những chính sách này mới nghe có vẻ rất nhân văn nhưng đây là “luật chơi mới” trong cuộc đua không cân sức, bởi những nước phát triển đã đi trước chúng ta rất xa, có điều kiện hơn chúng ta rất nhiều. Ông cho rằng, nếu chúng ta không kịp thời tìm những giải pháp để tháo gỡ khó khăn, thì khó có thể đạt được mục tiêu xuất khẩu cho năm nay và cho cả chu kỳ 5 năm, 10 năm tiếp theo.
Giới thiệu các sản phẩm may mặc tại hội chợ hàng Việt Nam. Ảnh: HẢI NAM
Giới thiệu các sản phẩm may mặc tại hội chợ hàng Việt Nam. Ảnh: HẢI NAM

Xuất khẩu đang gặp khó

Báo cáo của Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương) cho thấy, kết quả xuất nhập khẩu ba tháng đầu năm 2023 đều ghi nhận mức giảm so cùng kỳ, đạt 79,3 tỷ USD, giảm 11,8%; kim ngạch nhập khẩu đạt 74,5 tỷ USD, giảm 15,4%. Xuất khẩu, nhập khẩu giảm ở cả khu vực doanh nghiệp trong nước và khu vực doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (FDI).

Xét về thị trường trong ba tháng đầu năm, xuất khẩu sang thị trường châu Mỹ đạt 24,6 tỷ USD, giảm 19,4%; sang thị trường châu Âu đạt 12,4 tỷ USD, giảm 9,7%. Xuất khẩu sang thị trường châu Phi giảm 11,2%, châu Đại Dương giảm 3,7%. Xuất khẩu sang thị trường châu Á đạt 38,7 tỷ USD, giảm 7,3% so cùng kỳ.

Xét về nhóm hàng, xuất khẩu nhóm hàng công nghiệp đạt 67,8 tỷ USD, giảm 12,7% so cùng kỳ; nhóm nông, thủy sản đạt 6,8 tỷ USD, giảm 7,8%; nhóm nhiên liệu và khoáng sản đạt 1,03 tỷ USD, giảm 1,6%.

Đáng lưu ý, trong quý I/2023, một số ngành hàng chủ lực có kim ngạch xuất khẩu giảm như ngành hàng điện tử, máy tính: Xuất khẩu điện thoại và linh kiện đạt 13,4 tỷ USD, giảm 12,2%; điện tử, máy vi tính và linh kiện đạt 12 tỷ USD, giảm 9,3%. Xuất khẩu hàng may mặc đạt 7,2 tỷ USD, giảm 17,7%; xơ sợi dệt đạt 941 triệu USD, giảm 35%;…

Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên chỉ rõ, nhiều địa phương, trong đó có những địa phương được xem là đầu tàu, là động lực của nền kinh tế đất nước lại có mức độ tăng trưởng thấp như TP Hồ Chí Minh (chỉ tăng 0,7%). “Như vậy tốc độ tăng trưởng kinh tế cả nước cũng như nhiều địa phương trong cả nước thấp hơn so kế hoạch và thấp xa so cùng kỳ năm trước”, ông Diên nói.

Với ngành hàng thủy sản, ông Nguyễn Hoài Nam, Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) cho biết: Trong ba tháng đầu năm nay, xuất khẩu thủy sản giảm 27,5% - tương đương mức giảm trong giai đoạn dịch Covid-19 bùng phát nặng nhất. Dự báo xuất khẩu thủy sản tiếp tục đối mặt nhiều khó khăn trong năm nay, bởi các thị trường xuất khẩu chính như Mỹ, châu Âu, Nhật Bản đều suy giảm mạnh.

Dự báo xuất khẩu thủy sản tiếp tục đối mặt nhiều khó khăn trong năm nay. Ảnh: NGUYỆT ANH

Dự báo xuất khẩu thủy sản tiếp tục đối mặt nhiều khó khăn trong năm nay. Ảnh: NGUYỆT ANH

Nguyên nhân được ông Nam chỉ ra là do tình hình lạm phát khiến tiêu dùng tại các nước này suy giảm. Nhiều doanh nghiệp dù đã ký hợp đồng nhưng khách hàng lại dời lại, khiến lượng hàng tồn kho nhiều. Việc xuất khẩu giảm khiến dòng tiền chậm về. Cùng với đó, nguồn vốn tín dụng hạn hẹp khiến các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu không có nguồn vốn để mua nguyên liệu, không mua nguyên liệu đúng giá cho nông dân, ngư dân. Điều này khiến nông dân, ngư dân hạn chế sản xuất. Bên cạnh đó, việc dòng tiền chậm về trong khi rất nhiều nguồn vay ngân hàng đến hạn phải trả, doanh nghiệp không có tiền thu mua nguyên liệu. Thí dụ, các ngành xuất khẩu chủ yếu vay USD, trước đây lãi suất vay USD dưới 3% (khoảng 2,1-2,3%) thì giờ đã lên đến hơn 4%.

Với ngành hàng gạo, việc xuất khẩu đang có thuận lợi khi cầu thế giới tăng, giá gạo ở mức cao. Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Ngọc Nam, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), dù đạt nhiều kết quả ấn tượng song hiệu quả mang lại cho doanh nghiệp, người dân chưa tương xứng. Về nguyên nhân, theo ông Nguyễn Ngọc Nam, các doanh nghiệp trong ngành chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa nên nguồn tài chính hạn chế, khi tới mùa vụ thường thiếu vốn để thu mua lúa gạo.

Theo đánh giá của Bộ Công thương, nguyên nhân sản xuất, xuất khẩu giảm so cùng kỳ năm trước là yếu tố thị trường xuất khẩu, các ngành hàng đều gặp khó khăn do lạm phát cao, sức mua sụt giảm, đặc biệt là hàng hóa tiêu dùng không thiết yếu. Tuy nhiên, tác động đến từng ngành hàng là khác nhau. Những ngành hàng có thị trường xuất khẩu chính là Mỹ, EU... như dệt may, da giày, gỗ, thủy sản là những ngành sụt giảm nhiều nhất; trong khi đó các ngành hàng có thị trường xuất khẩu chính là châu Á như cao-su, gạo, rau quả, hạt điều... ít chịu tác động hơn.

Ngoài ra, chi phí nguyên liệu, vật tư đầu vào tăng cao trong khi mức giá xuất khẩu không tăng làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm, các doanh nghiệp sản xuất cầm chừng tránh rủi ro. Chi phí nhân công, bao bì, vận chuyển... cũng tăng cao.

Doanh nghiệp cần hỗ trợ bằng gói tài chính

Trước thực tế đó, đại diện VFA cho rằng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) cần có cơ chế, chính sách tín dụng cho ngành gạo. Đồng quan điểm, ông Nguyễn Đình Tùng, Phó Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam kiến nghị NHNN coi sản phẩm trồng trên đất là tài sản để được thế chấp, vay vốn. Thí dụ như sầu riêng, nhãn… “Như sầu riêng mỗi năm người dân phải đầu tư khoảng 50 triệu đồng/ha…. Nhưng không được coi là tài sản để thế chấp”, ông Nguyễn Đình Tùng bày tỏ.

Trong khi đó, đại diện VASEP kiến nghị, cần giảm lãi suất vay USD để dòng tiền không bị nghẽn. Vì nguồn tiền không có song doanh nghiệp vẫn phải duy trì thu mua nguyên liệu. Bên cạnh đó, Chính phủ cần có gói tín dụng khoảng 10.000 tỷ đồng lãi suất thấp để phục vụ thu mua nguyên liệu, kích thích tâm lý, để nông dân, ngư dân duy trì sản xuất. Đây chỉ là giải pháp mang tính giai đoạn nhưng rất cần thiết trong tình hình hiện nay.

Phó Chủ tịch VITAS kiến nghị, trong ngắn hạn cần tăng cường xúc tiến thương mại và có gói vay lãi suất ưu đãi 0% để trả lương cho người lao động. “Đối với gói vay này, áp dụng cho những doanh nghiệp có phương án trả nợ tốt, những doanh nghiệp chấp hành đúng và đã hoàn trả xong khoản vay vừa rồi. Đợt này, có thể nâng mức hỗ trợ lên sáu tháng lương cơ bản, thay vì ba tháng lương như vừa qua, vì sự khó khăn lúc này cũng không khác gì so giai đoạn Covid-19 vừa rồi”, ông Tùng nói.

Về trung và dài hạn, ông Tùng cho rằng, để phù hợp với chiến lược của ngành mà Chính phủ đã phê duyệt đến năm 2030, tầm nhìn 2035, cần hỗ trợ một phần tài chính và chuyên gia trong việc thực hiện các dự án xanh hóa như giảm nước thải, chất thải, sử dụng năng lượng tái tạo, nguyên liệu tái chế, giảm sử dụng hóa chất... (ESG), chuyển đổi số trong ngành dệt may để tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển và sản xuất nguyên liệu, đặc biệt là khâu vải hoàn tất.

Đặc biệt, xây dựng và quảng bá thương hiệu về ngành dệt may Việt Nam; hợp tác với đối tác nước ngoài để đào tạo nguồn nhân lực về thiết kế thời trang, sản xuất nguyên phụ liệu...

Ngoài ra, theo ông Tùng, Nhà nước cần giảm thuế thu nhập doanh nghiệp 2% cho các doanh nghiệp đáp ứng tiêu chuẩn xanh và hỗ trợ lãi suất cho các dự án chuyển đổi xanh (như trường hợp Bangladesh đang làm).

Có thể bạn quan tâm