Xây dựng nền tảng tin cậy cho truy xuất nguồn gốc sản phẩm

Hiện nay, việc truy xuất nguồn gốc (TXNG) sản phẩm, hàng hóa được thực hiện thông qua các mã vạch, hoặc mã QR.

Người tiêu dùng truy xuất nguồn gốc thực phẩm bày bán tại siêu thị.
Người tiêu dùng truy xuất nguồn gốc thực phẩm bày bán tại siêu thị.

Tuy nhiên, việc TXNG theo các hình thức này chưa đem lại niềm tin cho người tiêu dùng do các thông tin về TXNG trong đó chưa đầy đủ, nhất là chưa có thông tin về các khâu "đầu vào" của quá trình sản xuất - khâu quyết định chất lượng sản phẩm. Việc chuẩn hóa mã TXNG sản phẩm và đưa vào vận hành Cổng TXNG sản phẩm, hàng hóa quốc gia sẽ góp phần giải quyết thực trạng này.

Theo Quyết định 100/QÐ-TTg ngày 19-1-2019 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Ðề án triển khai, áp dụng và quản lý hệ thống truy xuất nguồn gốc, Bộ Khoa học và Công nghệ có nhiệm vụ xây dựng, đưa vào vận hành Cổng thông tin TXNG sản phẩm, hàng hóa quốc gia. Chia sẻ về tiến độ xây dựng Cổng thông tin TXNG sản phẩm, hàng hóa quốc gia, TS Bùi Bá Chính - Phó Giám đốc phụ trách Trung tâm Mã số, mã vạch quốc gia cho biết, quý IV năm nay, Cổng sẽ đi vào hoạt động. Hiện, Bộ Khoa học và Công nghệ đã xây dựng, công bố 20 tiêu chuẩn quốc gia trong lĩnh vực TXNG, thí dụ, TCVN 12850:2019 - Yêu cầu chung đối với hệ thống TXNG; TCVN 12851:2019 - Yêu cầu đối với tổ chức đánh giá và chứng nhận hệ thống TXNG; TCVN 12827:2019 - Yêu cầu đối với chuỗi cung ứng rau quả tươi… Các tiêu chuẩn quốc gia là cơ sở để các doanh nghiệp chuẩn hóa hoạt động TXNG, trong đó, thông tin về sản phẩm, hàng hóa được thu thập đầy đủ trong tất cả các khâu của chuỗi cung ứng, thay vì chỉ có thông tin của khâu nuôi trồng, sản xuất như hiện nay. Cổng TXNG sẽ lưu trữ các thông tin này nhằm phục vụ nhu cầu quảng bá của doanh nghiệp và quản lý, giám sát việc thực hiện TXNG của Nhà nước.

Nói về thực trạng sản phẩm, hàng hóa bày bán trong siêu thị hiện nay có mã TXNG nhưng các thông tin chứa trong đó chưa bảo đảm yêu cầu TXNG, TS Trần Nguyên Các, chuyên gia xây dựng Cổng TXNG sản phẩm, hàng hóa quốc gia cho biết, mỗi sản phẩm, hàng hóa bày bán trong siêu thị đều có mã vạch hoặc mã QR, nhưng về cơ bản chỉ là truy xuất thông tin sản phẩm, chưa thể coi là TXNG. Nguyên nhân do các thông tin trong đó do doanh nghiệp tự kê khai, thông tin chủ yếu về khâu nuôi trồng, sản xuất, trong khi các thông tin khác của cả chuỗi cung ứng không có, thí dụ như thông tin về sử dụng loại hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật gì, mua ở đâu… Một số mã QR khi quét không cho ra thông tin, hoặc thông tin sai lệch. Các giải pháp công nghệ về TXNG hiện tại cũng không có khả năng kết nối, chia sẻ dữ liệu với nhau, không có sự giám sát của cơ quan quản lý. Do đó, dù nhiều doanh nghiệp đã có hệ thống TXNG nội bộ, nhưng lại độc lập với hệ thống TXNG của doanh nghiệp khác, không thể khai thác để sử dụng chung cho cả chuỗi cung ứng sản phẩm.

Một sản phẩm được xem là truy xuất được nguồn gốc phải thông qua một loại nhãn điện tử sử dụng mã vạch hoặc mã QR theo tiêu chuẩn của tổ chức mã số, mã vạch toàn cầu GS1, khi sử dụng phần mềm hoặc ứng dụng quét mã QR phải hiện lên đầy đủ các thông tin về chuỗi sản phẩm, từ mua vật tư, theo dõi quá trình chăm sóc, phun thuốc, bón phân, thu hoạch, sơ chế, vận chuyển. Các thông tin này được thu thập tự động hoặc bán tự động và được khai thác, sử dụng chung. Hiện, Trung tâm Mã số, mã vạch quốc gia - đơn vị được ủy quyền chủ trì thực hiện triển khai Quyết định số 100/QÐ-TTg đang phối hợp xây dựng dự thảo Thông tư về nhãn điện tử để đưa ra một quy định thống nhất về các loại tem, nhãn sử dụng mã vạch, mã QR để đáp ứng được yêu cầu nêu trên, tránh tình trạng lộn xộn như hiện nay.

Theo nhận định từ các chuyên gia của Trung tâm Mã số, mã vạch quốc gia, việc TXNG một cách toàn diện các khâu như vậy đem lại lợi ích cho chính doanh nghiệp và người dân. Doanh nghiệp có công cụ để quản lý, công khai chất lượng sản phẩm, tăng giá trị cạnh tranh trên thị trường. Người tiêu dùng biết được chất lượng sản phẩm thông qua thông tin về toàn bộ quá trình hình thành, đường đi của một sản phẩm trước khi lên kệ bán hàng.

Các cơ quan quản lý sẽ xác định được chính xác, kịp thời nguyên nhân sự cố về chất lượng sản phẩm cũng như vai trò, trách nhiệm của các bên liên quan. Các chuyên gia cũng kỳ vọng, khi các thông tin về TXNG sản phẩm, hàng hóa được các doanh nghiệp đưa lên Cổng TXNG sẽ tạo nên kho dữ liệu để phục vụ cho chính nhu cầu minh bạch thông tin sản phẩm xuất khẩu và thương mại điện tử của doanh nghiệp. Khi nhận thấy lợi ích của Cổng TXNG sản phẩm, hàng hóa quốc gia thì dù chưa bắt buộc áp dụng việc TXNG cho toàn bộ các sản phẩm, doanh nghiệp cũng sẽ chủ động áp dụng việc TXNG.

Hà Linh

Có thể bạn quan tâm

Đào tạo an ninh mạng tại CyRadar giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực phòng thủ.

Tăng năng lực phòng vệ của doanh nghiệp

Chuyển đổi số đang mở ra nhiều cơ hội tăng trưởng cho doanh nghiệp Việt Nam nhưng cũng kéo theo những rủi ro an ninh mạng phức tạp. Khi dữ liệu trở thành tài sản chiến lược, khả năng bảo vệ hệ thống và thông tin không còn là vấn đề kỹ thuật mà trở thành năng lực phòng vệ quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp.

Hoạt động nghiên cứu tại Phòng Thí nghiệm trọng điểm Công nghệ Lọc, Hóa dầu (Viện Hóa học công nghiệp Việt Nam).

Đầu tư hạ tầng nghiên cứu cho công nghệ chiến lược

Phát triển hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia là một trong những giải pháp để hiện thực hóa mục tiêu đột phá về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo Nghị quyết 57-NQ/TW. Thực trạng lạc hậu về công nghệ đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tổ chức lại hạ tầng nghiên cứu theo hướng tập trung, đồng bộ và hiệu quả.

UAV được thử nghiệm phun thuốc cho cây cà-phê tại xã Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.

Cơ chế sandbox đã sang giai đoạn triển khai thực tế

Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết, bên cạnh chuẩn bị cấp phép mô hình thử nghiệm có kiểm soát đầu tiên về phát triển kinh tế tầm thấp, ứng dụng phương tiện bay không người lái (UAV) tại tỉnh Điện Biên, một số địa phương, doanh nghiệp cũng bày tỏ quan tâm đến việc triển khai thử nghiệm mô hình sandbox.

Định vị vị thế Việt Nam trên bản đồ sở hữu trí tuệ toàn cầu

Định vị vị thế Việt Nam trên bản đồ sở hữu trí tuệ toàn cầu

Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, sở hữu trí tuệ ngày càng khẳng định vai trò là một trụ cột quan trọng của nền kinh tế tri thức. Những năm qua, Việt Nam đã chủ động hoàn thiện thể chế, từng bước xây dựng hệ thống sở hữu trí tuệ tương thích với chuẩn mực quốc tế và đạt được nhiều kết quả tích cực.

Bảo đảm pháp lý khi chuyển chất xám trí tuệ thành dòng vốn trên thị trường

Bảo đảm pháp lý khi chuyển chất xám trí tuệ thành dòng vốn trên thị trường

Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025 được thông qua cho thấy những vấn đề pháp lý sở hữu trí tuệ đã được điều chỉnh gần và sát thực tiễn hiện nay. Trong đó, việc định giá tài sản sở hữu trí tuệ làm tài sản bảo đảm đang là nội dung thu hút sự quan tâm của đông đảo dư luận, nhất là với giới khởi nghiệp liên quan đổi mới sáng tạo.

Các sản phẩm của Hợp tác xã sản xuất và tiêu thụ dược liệu Yên Sơn (thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình) tăng mạnh về số lượng bán ra thị trường nhờ thực hiện truy xuất nguồn gốc. (Ảnh: Hà An)

Hạ tầng số nông nghiệp và môi trường

Việc nhanh chóng xây dựng hạ tầng số cho ngành nông nghiệp và môi trường không chỉ để đáp ứng các điều kiện cần của thị trường mà còn là cơ sở cho quá trình chuẩn hóa kỹ thuật, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và nâng cao chất lượng cuộc sống của con người.