Về làng, tìm "vàng nghề"

Làng nghề Việt được coi là lưu giữ những tinh hoa. Song, nhiều sản phẩm làng nghề không bán được, hoặc thất thế trên thị trường, nhất là thương hiệu trên thị trường quốc tế. Là bởi, tinh hoa làng nghề vẫn như những "hạt bụi vàng" lẩn khuất. Có một chàng trai, suốt 16 năm nay, cặm cụi "về làng" tìm công thức cho những "hạt bụi vàng" ấy tỏa sáng.
"Về làng-chặng đồng hành" với mong muốn giúp các nghệ nhân "yên tâm tiếp tục tạo ra những tinh hoa".
"Về làng-chặng đồng hành" với mong muốn giúp các nghệ nhân "yên tâm tiếp tục tạo ra những tinh hoa".

"Con nuôi" làng nghề

Ngô Quý Đức lại về làng chuyên nghề đan ngư cụ Hưng Học (thị xã Quảng Yên, Quảng Ninh). Không dễ để tìm thông tin về ngôi làng này. Và đó cũng không phải là một làng nghề có tiếng, trên "bản đồ" nghề đan lát của Việt Nam. Nhưng đây không phải lần đầu Đức đến. Đức đã chọn lựa một cách khác lạ. Bất cứ làng nào "trong khả năng", là Đức lên đường. Làng nghề nào, cũng "cày xới" dăm lần, bảy lượt. "Bởi làng nghề nào cũng luôn có nét đẹp ẩn giấu. Ngay cả những làng nghề đan lát ngư cụ bình dị như làng Hưng Học cũng luôn có những người nắm giữ tinh hoa, những ngón nghề rất đặc biệt", Đức bảo thế.

37 tuổi, thì có tận 16 năm, gần như ngày nào cũng... về làng. Gồm đôi ba lần trực tiếp, thời gian còn lại là ngồi bên máy tính, hoặc chạy đi gặp các đối tác, nhà đầu tư. Đều vì "việc làng". Đôi khi, là hành trình cả tuần liền, trên chiếc xe máy từ làng nọ đi làng kia. Vậy làm gì mà "về làng" nhiều thế? Một câu hỏi mà Đức luôn phải hồi lâu diễn giải. Không phải ai cũng hiểu. Nghệ nhân làng nghề cũng thế. Có nghệ nhân phải "mòn lối" mới chịu sẻ chia các kinh nghiệm, các kỹ thuật. Đức tìm hiểu rất kỹ về đủ thứ nghề truyền thống. Quay phim, chụp ảnh, phỏng vấn nghệ nhân, ghi chép kỹ càng tư liệu... Rồi dựng phim, viết bài, đưa lên fanpage, lên trang web mà chính Đức bỏ tiền ra để xây dựng để quảng bá cho làng nghề. Không lấy đồng nào. Người ta không hiểu cũng phải. Thời buổi này làm gì có "bữa trưa miễn phí"? Có nghệ nhân qua trang web, qua fanpage của Đức, đối tác tìm đến đặt hàng sản phẩm, vẫn bán tín, bán nghi, gặng hỏi Đức có phải "phần trăm" không? Câu trả lời là một cái lắc đầu và nụ cười. Rất lạ. Thế nên, phải sau đôi ba lần, những nghệ nhân thôn quê mới nhận ra. Rồi trở nên thân tình, gắn bó. Đức thành "con nuôi" của làng nghề.

Sinh ra ở nội thành Hà Nội. Đức mê phố cổ, phố cũ. Chàng trai này lập ra dự án My Hanoi nổi tiếng một thời để bảo tồn văn hoá Hà Nội. Hà Nội có đặc sản phố nghề. Đức nhận ra: Phố nghề nào cũng từ làng mà ra. Đức tìm về gốc của phố là làng. Mê thì mê. Song con đường của Đức lại bắt đầu từ... những thất vọng. Làng nghề Việt được coi là lưu giữ nhiều nét tinh hoa. Tuy vậy, nhiều sản phẩm không bán được. Độ hoàn thiện của sản phẩm không cao. Những sản phẩm lưu niệm thường có tính ứng dụng thấp, lại chưa đủ "tinh" để trưng bày. Đức "về làng" tìm câu trả lời. "Nếu tính những làng "đi kỹ", thì khoảng vài trăm. Còn nếu chỉ đi một hai lần thì mình không tính hết được", Đức nhớ lại. Tinh hoa vẫn ở đó. Nhưng tinh hoa, lại như những hạt bụi vàng lẩn khuất. Không phải làng nghề nào cũng có vị trí thuận lợi, hay được hỗ trợ để phát triển. Những làng nghề "sống khỏe, làm giàu" như: Bát Tràng, Vạn Phúc, Sơn Đồng (Hà Nội), hay Đồng Kỵ (Bắc Ninh)... là thiểu số. Nghệ nhân phần nhiều ráo mồ hôi là hết tiền. Kết quả là họ chủ yếu làm ra những sản phẩm bán được trước mắt để bảo đảm sinh kế, thay vì làm những sản phẩm tinh hoa, khẳng định "đẳng cấp" văn hóa Việt. Đức tự thấy mình cần hỗ trợ nghệ nhân...

Nhiều người hỏi thu nhập đến từ đâu khi Đức làm mọi thứ miễn phí? Đức rất ngại ngùng khi nói rằng thu nhập của mình không ổn định, và gần như không đủ sống ở đô thị. Thu nhập của Đức đến từ những chuyến điền dã được tổ chức có thu phí về làng, và thi thoảng là giúp đỡ các làng nghề tham gia những liên hoan, triển lãm... Chuyện "con nuôi" của làng còn được hiểu theo nghĩa đen. Mỗi khi về làng, Đức thường được người dân "nuôi" ngày ba bữa.

Ðể những "hạt bụi vàng" tỏa sáng

Dự án "Về làng" của Ngô Quý Đức ra mắt từ lâu. Năm 2021, dịch Covid-19 khiến việc đi lại khó khăn. Nhưng Đức có thời gian đẩy mạnh truyền thông cho dự án. Trang web www.velang.vn được cập nhật thông tin đầy đủ về hơn 100 làng nghề, chủ yếu ở vùng đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Đấy là kho dữ liệu lớn do Đức một mình thực hiện, được phân nhóm theo địa phương, hoặc theo nhóm ngành nghề như: nghề mộc, nghề da, nghề đúc đồng, nghề gốm sứ, nghề đan lát... Trang web được kết nối với fanpage Về làng, tạo thuận lợi cho người sử dụng. Mỗi nghề đều được giới thiệu rất chi tiết về lịch sử, sản phẩm, nét đặc sắc, cách thức đi lại, liên hệ với người làng nghề... Đó là một cầu nối tin cậy cho nhiều khách du lịch, khách hàng, đối tác với làng nghề. Bản thân Đức, còn hỗ trợ nhiều làng nghề về thiết kế sản phẩm, về xây dựng mô hình du lịch, trải nghiệm, thí dụ như làng nghề tò he Phượng Dực (Phú Xuyên, Hà Nội), làng nghề điêu khắc Hiền Nhân (Thường Tín, Hà Nội)...

Nhưng với Đức, đó chỉ là việc "nhỏ", trong hành trình hướng đến cái đích lớn. "Điều cốt lõi, không chỉ là nghệ nhân sống được. Mà là cái tinh hoa được phát huy, được nhìn nhận đúng giá trị. Những sản phẩm thủ công mỹ nghệ của các nước, thí dụ như Nhật Bản được bán giá rất cao. Nghệ nhân của chúng ta có trình độ tương tự không? Câu trả lời là có. Song để nghệ nhân có thể làm được, thì cần có hỗ trợ về nhiều mặt: Thiết kế, mẫu mã, truyền thông, cách hoàn thiện sản phẩm... để có thể thích ứng, tiêu thụ được. Khi tiêu thụ được, sống được, nghệ nhân mới yên tâm để tiếp tục tạo ra những tinh hoa. Tất nhiên, điều này là rất khó", Ngô Quý Đức chia sẻ.

Đức đã chọn một con đường chông gai nhất, con đường đáng ra, cần đến sự hợp tác của nhiều ban, ngành. Trong khi Đức "độc hành". Chưa một đối tác nào đủ kiên trì để đồng hành với Đức, ngoài một số tình nguyện viên trong ngắn hạn. Đấy cũng là lý do Đức phải đi hàng trăm, hàng nghìn làng nghề, nhằm tìm một "công thức" phù hợp để những "hạt bụi vàng" ở làng nghề được tỏa sáng. "Mình hình dung về một mô hình, có sự hợp tác của nhiều bên, gồm: Nhà đầu tư, đơn vị tiêu thụ sản phẩm, nhà thiết kế, sự hỗ trợ của chính quyền... mà nghệ nhân ở vị trí trung tâm, có thể tạo ra những sản phẩm thể hiện đẳng cấp văn hóa Việt. Sản phẩm đó, phải tiêu thụ được với giá trị cao, phải khẳng định được với thế giới. Mình mong muốn thuyết phục được các bên để xây dựng được một mô hình "vừa sức", và có thể là hình mẫu để nhân rộng", Ngô Quý Đức chia sẻ.

Bắt đầu khi còn trẻ, đến khi gần… trung niên, cái mô hình Ngô Quý Đức mơ ước giờ mới dần định hình. Mới đây, Về làng đã ra mắt trụ sở trên phố Đặng Tiến Đông (quận Đống Đa, Hà Nội). Một sự bền bỉ, kiên trì hiếm thấy. Đó chưa hoàn toàn là mô hình mà Đức mong muốn. Nhưng đó là tiền đề, cho một chặng đường mới.

Có thể bạn quan tâm

VINASOL triển khai nâng cấp Hệ thống BESS lưu trữ 260 kWh cho một nhà máy ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Những khoảng cách cần sớm thu hẹp

Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đến nay, hơn 23.000 MW điện gió và điện mặt trời đã được triển khai trong nước, chiếm khoảng 27% tổng công suất toàn hệ thống. Nếu so tổng công suất pin lưu trữ năng lượng (BESS) dự kiến hoàn thành trong năm 2026 trên cả nước ước đạt 900 MW sẽ thấy sự chênh lệch lớn giữa nhu cầu thực tế trước mắt và mục tiêu dài hạn về công suất lắp đặt hệ thống BESS tại Việt Nam.

Đọc sâu và thấu hiểu là một thách thức với giới trẻ ngày nay. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Ươm mầm văn hóa đọc trong thời đại số

Công nghệ số đang làm thay đổi căn bản cách con người tiếp cận tri thức. Chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi cá nhân đều có thể tìm kiếm gần như mọi thông tin cần thiết trong vài giây.

Các không gian đọc cộng đồng cần được quan tâm đầu tư thành những điểm hẹn văn hóa. Ảnh: TRANG PHI

Con đường đầu tư cho tương lai

Hình ảnh người ngồi đọc sách ở các địa điểm công cộng ngày càng trở nên hiếm gặp, song sẽ là phiến diện nếu cho rằng người Việt đang quay lưng với sách. Thực tế cho thấy nhu cầu đọc vẫn tồn tại dưới nhiều dạng thức. Mối bận tâm về văn hóa đọc, do đó, không phải là cộng đồng “có đọc hay không”, mà là chúng ta nên “đọc gì, đọc như thế nào và dành bao nhiêu thời gian cho việc đọc sâu”.

PGS, TS Nguyễn Văn Tùng

Từ phong trào đến tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục

Nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành văn hóa đọc, bởi đây là môi trường giáo dục nền tảng, nơi hình thành thói quen, nhân cách và phương pháp học tập của mỗi con người. PGS, TS Nguyễn Văn Tùng, thành viên Hội đồng thành viên, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về các giải pháp phát triển văn hóa đọc cho học sinh.

TS Nguyễn Mạnh Hùng (người ngồi bên trái) trò chuyện với kỹ sư Lê Thanh Hải. Ảnh: Tuyết Minh

Một cánh cửa mới

Từ trước đến nay, khi nói đến văn hóa đọc, chúng ta thường nghĩ đến việc đọc sách. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, đọc không chỉ là đọc chữ. Đọc còn là đọc con người, đọc cuộc đời, đọc thiên nhiên, đọc xã hội và cuối cùng là đọc chính mình.

Diễn giả Nguyễn Quốc Vương trong một lần chia sẻ về văn hóa đọc với các em học sinh. Ảnh: NVCC

Như mạch nước kiên trì lan tỏa

Năm nay đánh dấu 10 năm tôi theo đuổi con đường khuyến đọc. Trong 10 năm đó, tất cả công việc của tôi đều tập trung vào hoạt động khuyến đọc bao gồm viết, đọc, nói (diễn thuyết). Và thật sự, con đường này vẫn vô cùng gian nan.

Không ít bạn trẻ lướt mạng thay vì đọc sâu. Ảnh: VĂN HỌC

Dừng lại, suy ngẫm và chuyển hóa

Khi sự chú ý liên tục bị phân tán bởi các luồng thông tin ngắn, phản hồi tức thời, việc dành thời gian cho một cuốn sách, ý tưởng hay quá trình suy tư ngày càng trở nên khó khăn.

Mục tiêu không chỉ là sản xuất nhiều gạo hơn mà là sản xuất gạo chất lượng cao hơn, giảm phát thải hơn. Trong ảnh: Cánh đồng lúa chất lượng cao ở xã Gia Hòa, thành phố Cần Thơ. Ảnh: Phương Bằng

Nông nghiệp với ngã rẽ chuyển đổi tư duy

Biến đổi khí hậu cùng với các yêu cầu mới của thị trường toàn cầu về giảm phát thải khí nhà kính, sản xuất xanh và phát triển bền vững đang trở thành những tiêu chuẩn bắt buộc, để nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải chuyển đổi tư duy sản xuất, tập trung vào chất lượng, hiệu quả và khả năng thích ứng.

Châu thổ Cửu Long.

Kiến tạo động lực tăng trưởng bền vững

Trước câu hỏi, đâu là mô hình tăng trưởng phù hợp để vừa phát huy những lợi thế sẵn có vừa giữ gìn bản sắc văn hóa sông nước vùng châu thổ Cửu Long? Nhân Dân cuối tuần đã ghi lại những ý kiến trao đổi của lãnh đạo các địa phương.

Hàng loạt công trình hạ tầng giao thông trọng điểm quốc gia được đầu tư xây dựng, góp phần kiến tạo động lực để vùng Đồng bằng sông Cửu Long cất cánh. Trong ảnh: Thi công cao tốc trục ngang Châu Đốc - Trần Đề. Ảnh: Phương Bằng

Vận hội vươn mình trước làn sóng đầu tư

Sau nhiều thập niên là “vùng trũng” về hạ tầng giao thông và thu hút đầu tư, Đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước vận hội mới. Những tuyến cao tốc, trục dọc, đường ngang, đường vành đai ven biển, ven biên giới, nhiều cầu lớn vượt sông dần nên hình hài... góp phần vào việc thu hẹp khoảng cách kinh tế một cách nhanh chóng và tạo đà tăng trưởng mạnh mẽ.

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Du lịch trải nghiệm (Experiential travel) hay còn có cái tên khác là du lịch hòa nhập (Immersive travel) đã và đang hiện diện ngày càng rõ ràng hơn trong nhiều loại hình sản phẩm khác nhau ở Việt Nam, với một điểm chung: Yếu tố trải nghiệm luôn được ưu tiên ở vị trí số một.

Du khách trải nghiệm làm rối nước tại thôn Bàn Thạch (tên nôm là thôn Rạch), phường Hồng Quang, tỉnh Ninh Bình. Ảnh: LƯƠNG VĂN PHƯƠNG

Thước đo mới cho giá trị điểm đến

Là một xu hướng mới tại Việt Nam, đặc biệt từ sau đại dịch Covid-19, du lịch trải nghiệm khuyến khích du khách tối đa hóa các giá trị nhận lại từ điểm đến bằng cách hòa mình kết nối và trở thành một phần của đời sống, văn hóa địa phương, thay vì chỉ đóng vai trò quan sát, nhìn ngắm hời hợt.

Du khách học cách làm món đồ uống độc đáo cà-phê trứng của Hà Nội. (Nguồn ảnh: Dine With Locals)

Cách để “bán” câu chuyện cuộc sống

Truyền thống lịch sử lâu đời cùng địa lý đa dạng và nền văn hóa giàu bản sắc là nền tảng, điểm tựa để Việt Nam phát triển du lịch bền vững với phong phú yếu tố trải nghiệm. Chung quanh chủ đề này, Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số chuyên gia và người trực tiếp làm công tác quản lý, vận hành dịch vụ/ mô hình du lịch trải nghiệm ở Việt Nam.

Khách du lịch tham gia các hoạt động trải nghiệm trong tour Về làng học thêu tay. Ảnh: DÃ LIÊN

Tạo sức hút và năng lực cạnh tranh mới

Mô hình trải nghiệm làng nghề ở Hà Nội đã có từ lâu, như ở làng gốm Bát Tràng, song phần lớn đều dừng ở mức đơn giản, nặng tính “cưỡi ngựa xem hoa”, hoặc như một gia vị cho hoạt động tham quan. Thời gian gần đây, nhiều làng nghề đã đổi mới cách làm, từ đó tạo nên sức hút và năng lực cạnh tranh mới.

Trước mắt anh Phương Nam, Côn Đảo mở ra biết bao nhịp sống xanh, nguyên sơ, trong trẻo. Ảnh: MINH LÊ

Những “điểm chạm” nguyên sơ, trong trẻo

Côn Đảo lâu nay thường được nhắc đến như một vùng đất chứa đựng ký ức lịch sử bi tráng của dân tộc, với hệ thống nhà tù của thực dân và đế quốc cùng những trang sử đấu tranh của các chiến sĩ cách mạng. Nhưng đối với nhiều du khách, sau những “điểm chạm” vào thiên nhiên ở nơi này, Côn Đảo còn là biết bao nhịp xanh, nguyên sơ, trong trẻo.

Bên cạnh gia đình luôn là khoảng thời gian chất lượng để vun trồng một thế hệ hạnh phúc. Ảnh: UNICEF Việt Nam

Hôm nay, tôi đã lắng nghe con mình chưa?

Trong nhiều cuộc tiếp xúc với phụ huynh, rất nhiều cha mẹ chia sẻ với tôi một nguyện vọng rất thật: “Mong con được hạnh phúc”. Song, khi được hỏi: “Hạnh phúc là gì?”, nhiều người lại ngập ngừng.

Bà Nguyễn Phạm Duy Trang.

An toàn là nền móng của hạnh phúc!

Mùa hè không chỉ là khoảng thời gian nghỉ ngơi, vui chơi của trẻ em, mà còn là thời điểm đặt ra nhiều nỗi lo về an toàn, sức khỏe tinh thần và môi trường phát triển của các em trong bối cảnh xã hội hiện đại.

Ước mơ trở thành phi hành gia của bạn Nguyễn Lê Hà Vy, lớp 5B, Trường tiểu học Phúc Tân.

Ðiều chúng em mong muốn!

Trong guồng quay hối hả của cuộc sống hiện đại, nhiều khi những mong mỏi của trẻ em chưa được lắng nghe, chưa được thấu cảm trọn vẹn. Cần lắm những diễn đàn, những kênh kết nối để trẻ em được cất tiếng nói.

Ảnh sử dụng đồ hoạ AI.

Agentic AI - Cơ hội không chia đều cho tất cả

Năm 2026, Agentic AI nổi lên như hiện tượng công nghệ định hình lại cách thế giới làm việc. Bài toán đặt ra cho Việt Nam không còn là "có nên ứng dụng", mà phải "làm thế nào để bắt kịp và làm chủ" trong bối cảnh công nghệ đang tái định nghĩa năng suất, lao động và lợi thế cạnh tranh.