Ứng dụng công nghệ trong quản lý các khu bảo tồn biển

Đến năm 2030, Việt Nam có 27 khu bảo tồn biển, trong đó có 16 khu bảo tồn biển cấp quốc gia, 11 cấp tỉnh với khoảng 20 hệ sinh thái, 11.000 loại thủy sản, khoảng 3.000 đảo. Đây là địa điểm lý tưởng để thực hiện nhiệm vụ lưu giữ, bảo tồn giống, nguồn gen, đa dạng sinh học; phát triển kinh tế, du lịch; phục vụ nghiên cứu khoa học…

Ứng dụng khoa học, công nghệ là giải pháp hiệu quả để quản lý, bảo vệ tài nguyên biển.
Ứng dụng khoa học, công nghệ là giải pháp hiệu quả để quản lý, bảo vệ tài nguyên biển.

Công nghệ số mở ra cách tiếp cận mới trong bảo tồn biển

Đối với các quốc gia biển, các khu bảo tồn biển có vai trò đặc biệt quan trọng cho phát triển bền vững, nhằm giúp phục hồi nguồn lợi thủy sản, nhất là các loài có giá trị kinh tế cao, các loài quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng, các loài đặc hữu. Từ nhiều năm trước, một số quốc gia biển đã triển khai nhiều giải pháp tăng cường công tác quản lý, bảo vệ, bảo tồn và tái tạo các khu bảo tồn biển hiện có; Thành lập mới và tăng quy mô, diện tích các khu bảo tồn biển có giá trị cao; Xác định các khu vực cấm khai thác hoặc hạn chế khai thác các loài thủy sản; Gắn nhiệm vụ bảo tồn với phát triển kinh tế và du lịch biển.

Cùng với sự phát triển của khoa học, công nghệ, nhiệm vụ quản lý, bảo tồn các khu bảo tồn biển ngày càng trở nên hiệu quả. Trên thế giới, các công nghệ thường được ứng dụng là GIS (công cụ máy tính dùng cho lập bản đồ và phân tích), viễn thám, IoT (Internet vạn vật), cảm biến môi trường, AI (trí tuệ nhân tạo), phân tích Big Data (dữ liệu lớn), drone và camera giám sát các khu vực biển. Những công nghệ này được sử dụng để giám sát, theo dõi tổng thể và cá biệt các vùng biển, các loài thủy sản, các điểm “được đánh dấu” theo thời gian thực; hỗ trợ ra quyết định; tăng tính minh bạch và hiệu quả hành động.

Tại Việt Nam, năm 2024, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1539/ QĐ-TTg ngày 10/12/2024 phê duyệt Đề án mở rộng, thành lập mới các khu bảo tồn biển, khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản và phục hồi hệ sinh thái đến năm 2030. Theo đó, tổng diện tích biển được khoanh vùng khoảng 442ha (0,44% diện tích tự nhiên biển Việt Nam). Bên cạnh việc mở rộng, phục hồi các khu bảo tồn biển hiện có, Đề án cũng đặt mục tiêu quản lý, bảo vệ nguồn lợi thủy sản ở một số vùng biển tại một số thời điểm (tổng diện tích khoảng 6% diện tích vùng biển).

Tình trạng ô nhiễm môi trường biển, biến đổi khí hậu, nhiệt độ tăng, khai thác bừa bãi, xâm hại của các loài thủy sản ngoại lai, các hoạt động kinh tế, du lịch không được kiểm soát tốt… khiến cho yêu cầu quản lý, bảo vệ các khu bảo tồn biển tại Việt Nam ngày càng trở nên cấp thiết. Phó Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam Nguyễn Hồng Hải nhấn mạnh: phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ biển là một trong những khâu đột phá chiến lược được xác định tại Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Việc chuyển dịch từ mô hình khai thác tài nguyên truyền thống sang kinh tế biển xanh, tuần hoàn không thể thành công nếu thiếu các công nghệ mũi nhọn và tư duy quản lý hiện đại. Năm 2023, Chính phủ đã chỉ đạo các bộ, ngành liên quan và địa phương triển khai thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ nhằm quản lý hiệu quả các khu bảo tồn biển. Đồng thời, ban hành Quy hoạch bảo vệ và khai thác nguồn lợi thủy sản trên 59 khu vực bảo vệ và 63 khu vực hạn chế khai thác nhằm bảo vệ nguồn lợi, khu tập trung sinh sản và đang sinh trưởng chưa đến thời gian khai thác…

Cần chiến lược tổng thể

Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng, nhưng với nhiều khu bảo tồn biển rộng lớn, việc quản lý, bảo tồn các khu vực này còn nhiều hạn chế, bất cập. Tình trạng khai thác, đánh bắt thủy sản trái phép còn diễn ra khá phổ biến; các hoạt động kinh tế, du lịch xâm phạm an toàn và gây hại đến môi trường biển, môi trường sống của các loài sinh vật biển; diễn biến phức tạp của biến đổi khí hậu toàn cầu; rác thải nhựa đại dương… đang đe dọa an toàn của các loài sinh vật tại khu bảo tồn biển Việt Nam.

Tại Quyết định số 1539, Chính phủ đã đề ra các nhóm giải pháp chính nhằm thực hiện có hiệu quả trong quản lý, bảo vệ tại các khu bảo tồn biển. Trong đó có nhóm giải pháp ưu tiên đầu tư, triển khai các ứng dụng khoa học, công nghệ trong quản lý, bảo tồn, bảo vệ hệ sinh thái biển; phục hồi các hệ sinh thái suy thoái; ngăn chặn các nguy cơ gây hại cho sinh vật trong khu bảo tồn biển. Tuy vậy, nhóm giải pháp này chưa được triển khai có hiệu quả.

Tiến sĩ Phạm Thị Thùy Linh, Viện Khoa học môi trường Biển và Hải đảo (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho rằng, việc quản lý các khu bảo tồn biển chưa mang lại hiệu quả như mong muốn có một phần nguyên nhân từ thiếu áp dụng các giải pháp công nghệ. Nghiên cứu cho thấy, chưa có nhiều khu bảo tồn biển ứng dụng các công nghệ mới vào công tác quản lý. Một số nơi đã áp dụng thì thiếu đồng bộ, thực hiện phân tán, không đồng đều, thiếu sự kết nối và cơ chế kiểm soát… Nguyên nhân do đầu tư thiếu đồng bộ, chưa tập trung, thiếu nguồn vốn và cơ chế phối hợp giữa các ngành liên quan, thiếu công nghệ chiến lược, thiếu nhân lực chất lượng cao cũng như sự chỉ đạo đồng nhất và chiến lược đầu tư tổng thể từ Trung ương đến địa phương.

Như vậy, song song với các giải pháp về cơ chế, chính sách, nhân lực, cơ chế phối hợp, chỉ đạo để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ quản lý, bảo tồn các khu bảo tồn biển cần thực hiện đồng bộ các giải pháp về ứng dụng khoa học, công nghệ. Tiến sĩ Phạm Thị Thùy Linh đề xuất, các khu bảo tồn biển hiện nay cần thực hiện các giải pháp cụ thể về ứng dụng khoa học, công nghệ trong công tác quản lý, bảo tồn; xây dựng chiến lược chuyển đổi số; đầu tư công nghệ lõi, đào tạo nhân lực chất lượng cao; xây dựng chuẩn dữ liệu quốc gia, cơ chế phối hợp, liên thông, chia sẻ dữ liệu, cảnh báo nguy cơ. Bên cạnh đó, cơ quan chức năng cần xây dựng cơ chế cho phép các khu bảo tồn biển tăng cường hợp tác công-tư, hợp tác quốc tế, xây dựng liên kết khoa học-kinh tế-cộng đồng trong hoạt động của các khu vực này.

Quản lý, bảo tồn, bảo vệ, phục hồi đa dạng sinh học tại các khu bảo tồn biển là một trong các giải pháp của kinh tế xanh, của phát triển bền vững không chỉ của Việt Nam mà là mục tiêu chung của các quốc gia biển. Hiệu quả mà một số quốc gia phát triển như: Nhật Bản, Na Uy, Phần Lan, Anh, Hoa Kỳ, Canada… có được, có vai trò không nhỏ của việc ứng dụng khoa học, công nghệ. Điều đó cho thấy sự cần thiết phải xây dựng và thực hiện “chiến lược” tổng thể về khoa học, công nghệ đối với các khu bảo tồn biển tại nước ta hiện nay.

Có thể bạn quan tâm

Hội thảo quy tụ khoảng 70 chuyên gia, đại diện các cơ quan quản lý, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và tổ chức quốc tế trong lĩnh vực hạt nhân. (Ảnh: TRUNG HƯNG)

Kết nối nguồn lực trí thức người Việt toàn cầu, mở rộng hợp tác phát triển điện hạt nhân

Các chuyên gia cho rằng, những yêu cầu cấp thiết đối với chương trình điện hạt nhân Việt Nam gồm chuẩn bị nguồn nhân lực, tiếp nhận tri thức và kinh nghiệm quốc tế, đồng thời xây dựng những cơ chế hợp tác để nguồn lực trí thức người Việt ở nước ngoài có thể đóng góp hiệu quả cho đất nước.

EVNCPC bảo đảm cung cấp điện an toàn, ổn định, thông suốt trong dịp lễ 2/9.

Ứng dụng khoa học công nghệ vào vận hành lưới điện miền trung

Từ trạm biến áp không người trực, điều khiển xa đến robot giám sát, những giải pháp công nghệ đang từng bước thay đổi việc vận hành, nâng cao năng suất và độ tin cậy cung cấp điện, góp phần cụ thể hóa Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Các đại biểu thăm Trung tâm dữ liệu của Viettel tại Khu công nghệ cao Láng - Hòa Lạc. (Ảnh: Báo Nhân Dân).

Việt Nam nổi lên như một thị trường dữ liệu có tiềm năng tăng trưởng cao

Ngành trung tâm dữ liệu tại Á-Thái Bình Dương được dự báo sẽ trở thành một trong những nhóm tài sản hạ tầng số lớn nhất thế giới, với tổng giá trị tài sản đang vận hành dự tính vượt 950 tỷ USD vào năm 2030 (theo Cushman & Wakefield). Trong đó, Việt Nam nổi lên như một thị trường dữ liệu có tiềm năng tăng trưởng cao.

Khoa học công nghệ là động lực để phát triển đất nước thời kỳ mới. (Ảnh: Sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội trong giờ học về Trí tuệ nhân tạo (AI)).

Từ độc lập đến hùng cường: Một Việt Nam đứng vững giữa thời đại

Nếu thế hệ cha anh đã anh dũng giành lấy quyền quyết định vận mệnh dân tộc, thì thế hệ hôm nay mang trên vai sứ mệnh xây đắp nội lực để đất nước thực sự làm chủ tương lai của chính mình. Ngày Quốc khánh 2/9 là dịp để chúng ta nhìn lại chặng đường gian lao đã đi qua để soi rọi con đường phía trước.

Chính sách xóa đói giảm nghèo của Chính phủ làm thay đổi tích cực cuộc sống của đồng bào các dân tộc thiểu số.

Chính sách xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam qua 40 năm đổi mới

Trong 40 năm qua (1986-2026), cùng với quá trình đổi mới tư duy phát triển và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chính sách xóa đói, giảm nghèo đã có bước chuyển căn bản cả về quan điểm, mục tiêu và phương thức thực hiện.

Cán bộ kỹ thuật VNPT hướng dẫn giáo viên Trường Tiểu học Đại Thịnh (sau sáp nhập) thao tác sử dụng các tính năng của hệ sinh thái giáo dục VnEdu. (Ảnh: VNPT)

Số hóa quản trị trường học sau sáp nhập và lời giải từ VnEdu

Đứng trước bài toán quy mô tăng gấp đôi sau sáp nhập, Trường Tiểu học Đại Thịnh (Mê Linh, Hà Nội) đã nhanh chóng giải tỏa áp lực quản trị và chuẩn hóa dòng dữ liệu “đúng - đủ - sạch - sống” nhờ điểm tựa vững chắc từ Hệ sinh thái giáo dục số VnEdu của VNPT.

OpenAI cắt quyền truy cập mô hình đối với Cursor sau khi SpaceX mua lại

OpenAI cắt quyền truy cập mô hình đối với Cursor sau khi SpaceX mua lại

Ngay sau khi SpaceX hoàn tất thương vụ thâu tóm trị giá 60 tỷ USD đối với Anysphere, công ty chủ quản của công cụ lập trình AI đình đám Cursor, OpenAI đã lập tức tuyên bố trên mạng xã hội X và website chính thức rằng sẽ chấm dứt hợp tác và khóa quyền truy cập trực tiếp của Cursor vào toàn bộ các mô hình trí tuệ nhân tạo của họ.

Giới thiệu sản phẩm ứng dụng AI tại Ngày hội Trí tuệ nhân tạo Việt Nam năm 2025. (Ảnh: HÀ LINH)

Chuyển đổi toàn diện quốc gia bằng trí tuệ nhân tạo

Ngày 28/8/2026, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 1671/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Quyết định này thay thế Quyết định số 127/QĐ-TTg ngày 26/1/2021 về ban hành Chiến lược quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng Trí tuệ nhân tạo đến năm 2030.

Đà Nẵng triển khai thành công mô hình Trung tâm điều hành thông minh (IOC).

Nâng cao năng lực số cho cán bộ cơ sở

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, năng lực số không còn là kỹ năng bổ trợ, mà đã trở thành một bộ phận thiết yếu của năng lực thực thi công vụ. Đổi mới phương thức đào tạo sẽ giúp nâng cao năng lực số, giảm tình trạng cán bộ cấp cơ sở không đồng đều về năng lực số ở một số địa phương hiện nay.

Các diễn giả chính và thành viên Ban tổ chức hội thảo. (Ảnh: Tuấn Anh)

Gợi mở hướng nghiên cứu, thúc đẩy cơ hội hợp tác mới trong công nghệ giáo dục và trí tuệ nhân tạo

Hội thảo nhằm tạo diễn đàn để các nhà khoa học, chuyên gia và các bên liên quan cùng trao đổi, thảo luận về những thay đổi mà AI đang tạo ra đối với giáo dục, qua đó gợi mở các hướng nghiên cứu và thúc đẩy những cơ hội hợp tác mới trong lĩnh vực công nghệ giáo dục và trí tuệ nhân tạo.

Ông Nguyễn Khắc Lịch, Cục trưởng Cục Công nghệ số và trí tuệ nhân tạo, công bố Giải thưởng tại cuộc họp báo định kỳ của Bộ Khoa học và Công nghệ. (Ảnh: HÀ LINH)

Giải thưởng Make in Vietnam có hạng mục riêng về trí tuệ nhân tạo

Giải thưởng “Sản phẩm công nghệ số Make in Vietnam” năm 2026 lần đầu tiên có hạng mục riêng dành cho sản phẩm trí tuệ nhân tạo (AI) xuất sắc nhằm khuyến khích doanh nghiệp Việt Nam phát triển các sản phẩm trí tuệ nhân tạo có giá trị gia tăng cao, góp phần thúc đẩy hệ sinh thái trí tuệ nhân tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Giao diện Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo. (Ảnh chụp màn hình)

Vận hành Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo

Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo (AI) và cơ sở dữ liệu quốc gia về hệ thống trí tuệ nhân tạo đã được Bộ Khoa học và Công nghệ đưa vào vận hành, hình thành một đầu mối thống nhất phục vụ quản lý nhà nước, cung cấp thông tin và hỗ trợ phát triển hệ sinh thái trí tuệ nhân tạo Việt Nam an toàn, có trách nhiệm.

Robot taxi tự hành do Công ty cổ phần Phenikaa-X nghiên cứu phát triển là một trong bốn dòng phương tiện được thử nghiệm.

Kiến tạo môi trường để công nghệ được thử nghiệm

Việc Công ty cổ phần Phenikaa-X là đơn vị đầu tiên tại Hà Nội triển khai thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đối với phương tiện tự hành đánh dấu bước chuyển từ nghiên cứu, phát triển công nghệ sang kiểm chứng trong thực tế, từ quản lý công nghệ mới sang kiến tạo môi trường để công nghệ được thử nghiệm và đưa vào thực tiễn.

Doanh nghiệp tìm hiểu giải pháp hạ tầng trung tâm dữ liệu tại DCCI Summit 2026 (Ảnh Viettel IDC)

Khơi thông dòng chảy dữ liệu

Việt Nam đang từng bước hình thành không gian dữ liệu thống nhất, mở rộng khả năng kết nối, chia sẻ và đưa dữ liệu vào lưu thông.