Tiềm năng ứng dụng công nghệ vũ trụ cho phát triển kinh tế-xã hội

Cùng với sự tiến bộ và phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, công nghệ không gian đã có những thay đổi nhanh chóng về chế tạo và những ứng dụng thực tiễn. Ngày càng có nhiều dịch vụ và giải pháp giải quyết những vấn đề toàn cầu, mang lại nhiều lợi ích trong việc phát triển kinh tế-xã hội và an ninh quốc phòng.
Các kỹ sư của Trung tâm Vũ trụ Việt Nam nghiên cứu vệ tinh.
Các kỹ sư của Trung tâm Vũ trụ Việt Nam nghiên cứu vệ tinh.

Công nghệ không gian có vai trò quan trọng trong việc cải thiện cuộc sống hằng ngày của nhân loại, có thể kể đến như: Công nghệ vệ tinh viễn thông hỗ trợ việc kết nối và hỗ trợ các giao dịch thương mại; công nghệ định vị từ vệ tinh (GNSS), mang lại những lợi ích to lớn về kinh tế và quân sự cũng như lợi ích khác (cứu hộ cứu nạn, cảnh báo thiên tai...).

Công nghệ quan sát Trái đất (EO) từ không gian và các ứng dụng của nó đã trở thành công cụ không thể thiếu để ứng phó với thảm họa, bảo tồn môi trường, bảo đảm an ninh lương thực, bảo vệ đa dạng sinh học, quản lý thời tiết, cung cấp dịch vụ y tế từ xa và quản lý các hoạt động nông nghiệp.

Vai trò quan trọng của công nghệ vũ trụ trong việc đạt được các mục tiêu phát triển bền vững 2030 được ghi nhận trong “Chương trình nghị sự phát triển bền vững đến năm 2030” của Liên hợp quốc, thông qua công nghệ quan sát Trái đất và các dịch vụ định vị từ vệ tinh.

Tuy nhiên, việc sử dụng các công nghệ dựa trên vệ tinh để hỗ trợ việc đạt được các mục tiêu phát triển bền vững không chỉ giới hạn ở công nghệ EO và GNSS mà còn bao gồm nhiều lĩnh vực khác như con người bay vào vũ trụ, nghiên cứu môi trường vi trọng lực và công nghệ liên lạc vệ tinh. Những tiến bộ vượt bậc trong việc khám phá vũ trụ đã nảy sinh những khả năng vô hạn chưa từng có trong việc loài người làm chủ việc khai thác không gian để phát triển kinh tế-xã hội.

Tại Việt Nam, “Chiến lược nghiên cứu và ứng dụng công nghệ vũ trụ đến năm 2020”, được Chính phủ ban hành từ năm 2006, được coi như tôn chỉ cho quá trình phát triển công nghệ vũ trụ ở nước ta. Đến năm 2020, đã có năm vệ tinh của Việt Nam được phóng lên và hoạt động trong không gian, trong đó có hai vệ tinh viễn thông, một vệ tinh Cubesat và hai vệ tinh nhỏ quan sát Trái đất.

Ngày 4/2/2021, “Chiến lược phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ vũ trụ đến năm 2030” cũng được phê duyệt, mở đường cho sự phát triển về khoa học và công nghệ vũ trụ trong giai đoạn mới. Mục tiêu tổng quát của chiến lược là: Ứng dụng rộng rãi thành tựu của khoa học và công nghệ vũ trụ; đầu tư có trọng tâm, trọng điểm một số lĩnh vực có liên quan đến quốc phòng, an ninh, quản lý tài nguyên và môi trường, giám sát và hỗ trợ giảm thiểu thiệt hại do thiên tai, cung cấp đa dạng dịch vụ cho người dân; nâng cao tiềm lực khoa học-công nghệ của đất nước, góp phần bảo đảm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, thúc đẩy phát triển mọi mặt kinh tế-xã hội và bảo đảm các lợi ích quốc gia khác.

Chiến lược cũng đề xuất một số mục tiêu cụ thể quan trọng như: Làm chủ được công nghệ thiết kế, chế tạo, tích hợp các cảm biến quang học, ra-đa cho vệ tinh quan sát Trái đất; lắp ráp, tích hợp, kiểm tra ở trong nước vệ tinh nhỏ có độ phân giải cao, siêu cao; làm chủ được công nghệ thiết kế, chế tạo thiết bị đầu cuối, trạm mặt đất điều khiển và thu nhận dữ liệu vệ tinh, các bộ phát đáp cho vệ tinh viễn thông; bảo đảm dung lượng truyền dẫn qua vệ tinh một cách hiệu quả, nhất là đáp ứng nhu cầu cho vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, các nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, bảo đảm an ninh quốc gia; chủ động, kịp thời giám sát, hỗ trợ ra quyết định ứng phó với các hoạt động, biến đổi của thiên nhiên, các biến động xã hội trên diện rộng trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam.

Thông qua các chương trình vũ trụ, Việt Nam có thể nâng cao tính cạnh tranh quốc gia, thúc đẩy tạo ra thị trường mới và khởi nghiệp theo hướng đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia.

Trong chiến lược mới được phê duyệt, Chính phủ đã giao Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam nhiệm vụ xây dựng và triển khai đề án “Tăng cường năng lực quốc gia về quan sát Trái đất dựa trên hệ thống vệ tinh nhỏ có độ phân giải cao, siêu cao, bằng công nghệ cảm biến quang học, ra-đa, kết hợp với thiết bị bay không người lái”.

Để xây dựng đề án, thời gian qua, Trung tâm Vũ trụ Việt Nam đã cùng chuyên gia nước ngoài thực hiện khảo sát, nghiên cứu các vấn đề liên quan, đặc biệt đánh giá tính cấp thiết và nhu cầu của Việt Nam về quan sát Trái đất sử dụng vệ tinh và máy bay không người lái; nghiên cứu đánh giá nguồn lực quốc gia về xây dựng và phát triển năng lực quan sát Trái đất.

Theo các chuyên gia Nhật Bản, xu hướng chùm vệ tinh đang diễn ra trên toàn cầu, việc phát triển vệ tinh và tận dụng dữ liệu vệ tinh theo chùm nên được thúc đẩy tại Việt Nam. Việt Nam đang ở vị trí thuận lợi để mở rộng các ứng dụng từ các công nghệ vệ tinh mới ra khu vực ASEAN và châu Á-Thái Bình Dương.

Về sự hợp tác với các cường quốc về vũ trụ, các chuyên gia cho rằng, sự kết hợp tốt nhất giữa các cơ sở hạ tầng dưới mặt đất cũng như các vệ tinh của Việt Nam với công nghệ và dịch vụ từ các nước phát triển khác là điều vô cùng quan trọng để đạt được yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội. Việc phát triển công nghệ vệ tinh cũng thúc đẩy các doanh nghiệp cho ra đời các ứng dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau dựa trên khai thác dữ liệu vệ tinh.

Cũng theo các chuyên gia, có rất nhiều lợi ích khi ứng dụng công nghệ vệ tinh tại Việt Nam. Thí dụ như ứng dụng dữ liệu ảnh viễn thám ra-đa khẩu độ tổng hợp (SAR) và các ảnh viễn thám quang học cho phép quan sát tình trạng cây trồng, giai đoạn sinh trưởng, đánh giá năng suất, từ đó tính toán được nhu cầu nước tưới, phân bón, thuốc trừ sâu phù hợp cho nông sản chất lượng cao, đồng đều, giảm chi phí canh tác và cho phép ước tính sản lượng lúa thu hoạch nhằm hoạch định kế hoạch xuất khẩu gạo.

Vào mùa khô năm 2020, đồng bằng sông Cửu Long bị hạn mặn nghiêm trọng, nhưng nhờ nắm được kịp thời thông tin về giai đoạn sinh trưởng của các ruộng lúa vùng ven biển nhờ ứng dụng ảnh vệ tinh, ngành nông nghiệp đã đưa ra biện pháp triển khai gieo sạ sớm vụ đông xuân, tránh được thiệt hại mùa màng do ảnh hưởng của xâm nhập mặn. Trong lĩnh vực lâm nghiệp, sử dụng dữ liệu ảnh vệ tinh đã có những ứng dụng trong kiểm kê rừng, khai thác rừng trồng, cháy rừng hoặc theo dõi chặt phá rừng.

Trong lĩnh vực đô thị-hạ tầng, tại Thành phố Hồ Chí Minh đã triển khai các ứng dụng công nghệ vệ tinh để theo dõi mức độ sụt lún đất trên diện rộng; theo dõi hiện trạng và diễn biến phát triển đô thị để cung cấp thông tin cho quản lý và quy hoạch vùng. Trong quản lý hàng hải, có thể giám sát các hoạt động đánh bắt trái phép, ô nhiễm trên biển, theo dõi thủy triều đỏ và các đợt ra hoa của tảo. Một số ứng dụng hiệu quả khác của dữ liệu ảnh vệ tinh như kiểm kê đất đai, đánh giá chất lượng nước, chất lượng không khí, giám sát lũ lụt, xói lở bờ sông, bờ biển,...

Theo PGS, TS Phạm Anh Tuấn, Tổng Giám đốc Trung tâm Vũ trụ Việt Nam, các nghiên cứu, đánh giá về tính cấp thiết và nhu cầu của Việt Nam về quan sát Trái đất sử dụng vệ tinh là cơ sở để hoàn thiện báo cáo tiền khả thi trình Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Chính phủ phê duyệt báo cáo, làm cơ sở thực hiện đề án Tăng cường năng lực quốc gia về quan sát Trái đất dựa trên hệ thống vệ tinh nhỏ.

Có thể bạn quan tâm

Tiến sĩ Hoàng Lương trao đổi với nhóm nghiên cứu về kết quả xử lý nước thải bằng công nghệ EBB (Ảnh: LƯƠNG HIẾU)

Ứng dụng “gạch sinh học” xử lý nước thải

Việc xử lý nước thải tại các khu dân cư, làng nghề, trang trại chăn nuôi ở Việt Nam gặp nhiều khó khăn như chi phí đầu tư cao, công nghệ xử lý phức tạp do nhiều loại nước thải đan xen và khó vận hành ở quy mô nhỏ…

Hoạt động nghiên cứu, thực hành tại Trường đại học Phenikaa. (Ảnh: VŨ THƠM)

Mô hình hợp tác “3 nhà” trong phát triển khoa học, công nghệ

Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là sự nghiệp của toàn dân, toàn hệ thống chính trị; trong đó, người dân và doanh nghiệp là trung tâm, chủ thể; nhà khoa học là nhân tố then chốt; Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, dẫn dắt và thúc đẩy.

Xã Phụng Hiệp, thành phố Cần Thơ lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ.

Chuyển đổi số - “chìa khóa” vận hành hiệu quả chính quyền cơ sở

Thực hiện chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo trong hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị theo yêu cầu đặt ra tại Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị đã từng bước góp phần tạo đột phá trong xây dựng và vận hành chính quyền nhân dân.

Nông dân tham gia dự án hỗ trợ kinh doanh nông hộ tại Cao Bằng (Ảnh: VIỆT HÀ)

Chuyển giao công nghệ, đổi mới tư duy sản xuất

Chuyển giao khoa học và công nghệ đang góp phần đổi mới tư duy sản xuất, hình thành nhiều mô hình kinh tế và nâng cao năng lực công nghệ tại địa phương. Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả cao hơn, hoạt động này cần được đổi mới theo hướng gắn chặt với thị trường, doanh nghiệp và mục tiêu tăng trưởng.

Quang cảnh sự kiện Shopee Brands And Creators Summit 2026.

AI trở thành động lực tăng trưởng mới của thương mại điện tử

Trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển của thương mại điện tử, không chỉ góp phần nâng cao trải nghiệm mua sắm, mà còn hỗ trợ doanh nghiệp tối ưu vận hành, mở rộng tiếp cận khách hàng và nâng cao năng lực cạnh tranh trong môi trường số.

Nghiên cứu khoa học tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Triển khai Nghị quyết 57: Tạo đột phá trong phát triển và trọng dụng nhân tài khoa học

Sau 18 tháng triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, nhiều kết quả quan trọng đã tạo nền tảng cho phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, để tạo đột phá tăng trưởng, yêu cầu cấp bách hiện nay là xây dựng đội ngũ nhân lực chất lượng cao đủ năng lực làm chủ các công nghệ chiến lược.

Hội thảo “Kết nối 3 nhà - Huy động nguồn lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phục vụ phát triển kinh tế-xã hội thành phố Huế” diễn ra chiều 2/7 tại Huế.

Huế kích hoạt nền tảng số kết nối “3 nhà”: Biến bài toán thực tiễn thành động lực đổi mới sáng tạo

Từ quản lý đô thị thông minh, bảo tồn di sản đến phát triển kinh tế số, thành phố Huế đang đứng trước nhiều bài toán lớn cần lời giải. Nền tảng số kết nối “3 nhà” vừa được Huế ra mắt kỳ vọng sẽ tạo cơ chế liên kết thực chất giữa Nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp để thúc đẩy phát triển.

Hoạt động nghiên cứu tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. (Ảnh: MẠNH XUÂN)

Chú trọng công tác nghiên cứu khoa học cơ bản

Trong đột phá phát triển khoa học, công nghệ, nghiên cứu khoa học cơ bản được xác định là nền móng tri thức, vấn đề chiến lược, liên quan trực tiếp đến mô hình phát triển, năng lực tự chủ và vị thế quốc gia.

Thiết bị đinh phản quang năng lượng mặt trời được lắp đặt thí điểm trên đoạn Quốc lộ 6 qua xã Vân Hồ (Sơn La) để đánh giá hiệu quả ứng dụng công nghệ mới trong bảo đảm an toàn giao thông.

Đưa năng lượng mặt trời vào hạ tầng giao thông đường bộ

Lần đầu tiên, hệ thống đinh phản quang sử dụng năng lượng mặt trời được Cục Đường bộ Việt Nam cho phép thí điểm trên Quốc lộ 6. Không chỉ hướng tới nâng cao an toàn giao thông tại các đoạn đường đèo dốc, mô hình còn mở ra hướng ứng dụng công nghệ xanh, thúc đẩy chuyển đổi số trong quản lý và khai thác kết cấu hạ tầng đường bộ.

Hồ Dầu Tiếng giữ vai trò quan trọng trong điều tiết, cấp nước cho khu vực Đông Nam Bộ.

Quản lý, vận hành công trình thủy lợi: Chuyển từ kinh nghiệm sang dựa trên cơ sở dữ liệu

Trước tác động ngày càng rõ nét của biến đổi khí hậu, công tác quản lý nguồn nước đang chuyển mạnh từ điều hành theo kinh nghiệm sang dựa trên dữ liệu số, quan trắc và dự báo. Đây là nền tảng quan trọng để bảo đảm an ninh nguồn nước, nâng cao hiệu quả vận hành hệ thống thủy lợi và phát triển nông nghiệp bền vững.