Hành trình hướng tới thị trường tín chỉ carbon Việt

Thị trường tín chỉ carbon là công cụ chính sách then chốt, góp phần giảm phát thải khí nhà kính theo cơ chế thị trường. Nhưng để doanh nghiệp tham gia thị trường carbon một cách bền vững, các ngành chức năng cần sớm xúc tiến, triển khai các kế hoạch, giải pháp, khung pháp lý liên quan.

Trong giai đoạn 2025-2026, các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực xi-măng, sắt thép và nhiệt điện sẽ phải kiểm kê, kiểm soát hạn ngạch khí thải để chuẩn bị cho thị trường carbon bắt buộc. (Ảnh Nguyên Nghi)
Trong giai đoạn 2025-2026, các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực xi-măng, sắt thép và nhiệt điện sẽ phải kiểm kê, kiểm soát hạn ngạch khí thải để chuẩn bị cho thị trường carbon bắt buộc. (Ảnh Nguyên Nghi)

Tiềm năng “triệu đô”

Tại Việt Nam, khi tín chỉ carbon xuất hiện dưới hình thái sơ khai là CERs, đã có hàng loạt dự án đã được triển khai theo chứng nhận cơ chế phát triển sạch (CDM) và bán CERs cho đối tác quốc tế. Dự án thu hồi khí đồng hành tại mỏ Rạng Đông, được triển khai năm 1997 là thí dụ. Theo đó, khí đồng hành được thu hồi để sản xuất khí hóa lỏng, dung môi pha xăng hoặc phân đạm, thay vì đốt ngay tại mỏ.

Lũy kế từ năm 1997 đến hết năm 2022, theo thống kê của Công ước Khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu (UNFCCC), Việt Nam có gần 260 dự án theo cơ chế CDM. Trong đó, có 15 dự án được đăng ký thành công, bán ra hơn 30 triệu CERs, tập trung ở các lĩnh vực năng lượng, thu hồi khí đồng hành, khí bãi chôn lấp rác thải và khí sinh học.

Gần đây, vào cuối năm 2023, hơn 10 triệu tấn khí thải carbon giảm thải từ rừng khu vực Bắc Trung Bộ được chuyển nhượng cho Ngân hàng Thế giới (WB) qua Thỏa thuận chi trả lượng giảm phát thải khí nhà kính (ERPA). Thương vụ này, dù chưa thể coi là dự án tín chỉ carbon đúng nghĩa, nhưng “tiền tươi thóc thật” đã được chia đều cho bà con trồng rừng, bảo vệ rừng ở sáu tỉnh (cũ) vùng Bắc Trung Bộ, cho thấy lợi ích kinh tế thật sự từ việc giữ rừng để hấp thụ carbon.

Bên cạnh đó, một dự án tương tự đang được triển khai tại vùng Nam Trung Bộ và Tây Nguyên để chi trả tiền giảm phát thải cho người dân giữ rừng. Ngoài ra, nhiều hệ sinh thái giảm phát thải tự nhiên như: rừng ngập mặn vùng Đồng bằng sông Cửu Long hay các rặng san hô ven biển cũng đang được người dân địa phương tích cực bảo tồn, chờ ngày được công nhận chính thức bằng tín chỉ carbon.

Song vẫn còn những điều dang dở...

Trước cơ hội huy động tạo nguồn lực cho phát triển kinh tế xanh và tuần hoàn, đặc biệt trong lĩnh vực lâm nghiệp - ngành đang phát thải âm và sở hữu nguồn rừng lớn, Chính phủ và các ngành chức năng đã xây dựng hệ thống pháp lý nền tảng, gồm: Luật Bảo vệ môi trường 2020, lần đầu ghi nhận thị trường carbon trong nước; Nghị định số 06/2022/NĐ-CP quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ozone; Quyết định số 232/2025 của Thủ tướng phê duyệt Đề án thành lập và phát triển thị trường carbon (giai đoạn 2025-2030).

Theo PGS,TS Nguyễn Đình Thọ, Phó viện trưởng, Viện Chiến lược, chính sách Nông nghiệp và Môi trường (ISPAE), Quyết định số 232/2025 đã định hướng chiến lược tổng thể, mục tiêu cụ thể và các nhóm nhiệm vụ then chốt để vận hành thị trường carbon. Ngoài ra, Nghị định số 119/2025/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/2022/NĐ-CP cũng góp phần cụ thể hóa và quy định rõ ràng về yêu cầu kỹ thuật và tổ chức liên quan kiểm kê, giám sát, báo cáo, thẩm định phát thải khí nhà kính. Bên cạnh đó, có khoảng gần 2.200 doanh nghiệp nằm trong diện bắt buộc kiểm kê phát thải khí nhà kính. Trong giai đoạn 2025-2026, gần 200 cơ sở thuộc lĩnh vực xi-măng, sắt thép và nhiệt điện sẽ phải kiểm kê và bị áp hạn ngạch khí thải, bước nền tảng để chuẩn bị cho thị trường carbon bắt buộc.

Tuy nhiên, ông Thọ đánh giá những khung khổ pháp lý này vẫn chưa đủ để thiết lập một thị trường carbon đúng nghĩa, nơi việc phát thải - giảm phát thải được ghi nhận và chi trả theo cơ chế thị trường công bằng, minh bạch. Thực tế, một doanh nghiệp sản xuất mía đường tại tỉnh Thanh Hóa từng lên kế hoạch chuyển nhượng tín chỉ carbon cho đối tác từ lâu, nhưng gặp vướng mắc ở khâu cấp phép triển khai dự án, vì cơ quan chức năng cũng lúng túng, trong bối cảnh chưa có hướng dẫn pháp lý cụ thể.

Thêm nữa, ông Thọ cũng đề cập việc chưa có quy trình đồng nhất về đo đạc, báo cáo, thẩm định khí thải nhà kính. Thậm chí, giữa các ngành, lĩnh vực cũng còn tồn tại những hình thức phát thải khác nhau và không có sự chuẩn hóa - điều có thể dẫn tới rủi ro sai lệch và không thể so sánh kết quả. Hơn nữa, sự “lệch pha” còn diễn ra ở cơ quan quản lý, khi chưa có cơ chế thống nhất giữa các bộ, ngành, tiềm ẩn nguy cơ tạo ra xung đột giữa các cơ quan, bên cạnh tình trạng thiếu trách nhiệm giải trình, nhất là trong bối cảnh các đơn vị xả thải và các dự án giảm phát thải, lưu trữ carbon có thể thuộc sự điều chỉnh của nhiều bộ, ngành.

Một điểm bất cập khác nữa được ông Thọ chỉ ra, đó là thiếu cơ chế tài chính để triển khai các giải pháp phát thải khí nhà kính, đơn cử như tín dụng xanh, trái phiếu xanh. Trong khi đó, tín chỉ carbon đang được bán với giá thấp, không đủ hấp dẫn để thu hút doanh nghiệp tham gia.

Đồng quan điểm, Tiến sĩ Hồ Quang Cua cho biết: Mô hình lúa - tôm tại bán đảo Cà Mau, do ông và các cộng sự triển khai, dù đã thực hiện đúng các tiêu chí giảm phát thải canh tác lúa của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nhưng vẫn chưa đo đếm được con số giảm phát thải thật sự là bao nhiêu. Đây là nút thắt cho nhiều dự án giảm phát thải, khi chưa có khung đo đếm cụ thể và không phải đơn vị nào cũng có đầy đủ nguồn lực về công nghệ, tài chính và trình độ để tự đo đếm. Do đó, ông rất mong mô hình của mình được kiểm đếm và được bán tín chỉ carbon cho doanh nghiệp để người dân có thể hưởng lợi từ thành quả giảm phát thải, làm nông nghiệp “thuận thiên”, nông nghiệp tuần hoàn.

Để thị trường vận hành thông suốt

Thực tế, ba lĩnh vực sản xuất tạo ra phát thải khí nhà kính, gồm sắt thép, xi-măng và nhiệt điện, hiện đang chiếm trên 70% lượng phát thải toàn ngành công nghiệp của Việt Nam. Đây cũng là ba lĩnh vực trọng tâm trong giai đoạn thị trường tín chỉ carbon vận hành thí điểm.

Trước đó, theo dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/2022 quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ozone, khoảng 150 doanh nghiệp thuộc lĩnh vực sắt thép,
xi-măng và nhiệt điện sẽ được phân bổ hạn ngạch khí thải trong giai đoạn 2025-2026.

Phục vụ cho công tác triển khai thí điểm thị trường carbon, thông qua sự hỗ trợ của Chương trình Đối tác chuyển dịch năng lượng Đông Nam Á, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã thực hiện dự án đánh giá tác động của hệ thống trao đổi hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon tại Việt Nam. Dự án đưa ra hai kịch bản, gồm bù trừ hạn ngạch phát thải bằng tín chỉ carbon lần lượt ở mức 10% và 20%.

Nhiều ý kiến chuyên gia nhận định: Những doanh nghiệp bị áp hạn ngạch thường có quy mô lớn, sở hữu nguồn lực mạnh và sẽ tiên phong trong những giải pháp cắt giảm khí thải thông qua ứng dụng công nghệ. Tuy nhiên, việc lựa chọn tỷ lệ cho phép bù trừ hạn ngạch bằng tín chỉ carbon tối đa là bao nhiêu sẽ ảnh hưởng nhiều đến nỗ lực của doanh nghiệp triển khai giải pháp giảm phát thải khí nhà kính.

Dẫn chứng kinh nghiệm quốc tế trong việc vận hành thị trường tín chỉ carbon, TS Lê Xuân Nghĩa, Viện trưởng Viện Tư vấn phát triển (CODE), cho rằng, điều đầu tiên cần làm là tạo lập một sàn giao dịch, nơi người bán, kẻ mua và nhà đầu tư cùng hoạt động. Chẳng hạn, tại Nhật Bản, cơ quan quản lý đã lựa chọn một số đơn vị mua, bán tín chỉ carbon tham gia vào một sàn giao dịch phi tập trung (OTC) chưa chính thức. Khi các đơn vị đã thành thạo trong giao dịch tín chỉ carbon, sàn giao dịch này được tích hợp với sàn chứng khoán Tokyo. Như vậy, sàn giao dịch tín chỉ carbon có thể tận dụng cơ sở sẵn có của sàn chứng khoán, gồm lực lượng đầu tư, đầu cơ, cơ chế thanh toán bù trừ và trung tâm lưu ký. Những tài nguyên này làm tăng tính thuận tiện cho các giao dịch tín chỉ carbon, từ đó hấp dẫn đơn vị, tổ chức và cá nhân tham gia.

Với cơ chế trên, các nhà đầu cơ có thể tham gia và kiếm lợi nhuận trên thị trường tín chỉ carbon, giúp loại tài sản này có tính thanh khoản cao hơn - tức có thể dễ dàng mua, bán trong điều kiện cung hoặc cầu bị thu hẹp. Từ đó, trong tương lai, tín chỉ carbon có thể được sử dụng như một tài sản thế chấp, thậm chí còn được các tổ chức tín dụng yêu thích hơn so với bất động sản. Bởi lẽ, thế chấp bất động sản hàm chứa rủi ro về việc định giá không đúng với giá trị thật hoặc rủi ro khi thị trường sụp đổ.

Với tín chỉ carbon, khi sàn giao dịch đi vào hoạt động, giá cả đã rõ ràng trên thị trường, lại có xu thế luôn tăng giá trong tương lai. Trong trường hợp khách hàng không trả nợ, ngân hàng hoàn toàn có thể bán phần tín chỉ carbon được sử dụng để thế chấp, hạn chế rủi ro nợ xấu ■

Theo dự báo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Việt Nam có thể bán được 57 triệu tín chỉ carbon mỗi năm, qua đó thu về khoảng 300 triệu USD hoặc cao hơn, tùy thuộc vào giá bán tín chỉ carbon.

Có thể bạn quan tâm

Lớp học nâng cao trình độ về đường sắt tốc độ cao ngành Thi công và Bảo dưỡng công trình.

Mở rộng hợp tác trong đào tạo nguồn nhân lực mới

Một nhiệm vụ mang tính chiến lược, đóng vai trò then chốt trong xây dựng và vận hành đường sắt tốc độ cao, là phải đi trước một bước để đào tạo nguồn nhân lực có đủ năng lực, trình độ tiếp nhận, vận hành, khai thác, bảo trì và từng bước làm chủ các công nghệ tiên tiến, hiện đại đang được áp dụng với đường sắt tốc độ cao.

Khi Luật Sở hữu trí tuệ và quyền hình ảnh của người sáng tạo được thực thi đầy đủ, các tác giả làm việc trong nhiều lĩnh vực nghệ thuật mới ở Việt Nam sẽ tích cực chủ động tham gia đăng ký bản quyền tác giả hơn nữa. (Trong ảnh: Vở múa đương đại Nón của biên đạo Vũ Ngọc Khải. Ảnh Đại Ngô)

Chuyển dịch tư duy về sở hữu trí tuệ

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam (Nghị quyết 80) đặt mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp 7% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) vào năm 2030 và trở thành trụ cột kinh tế với 9% GDP vào năm 2045.

Bà Phạm Thị Kim Oanh.

Đồng hành để hỗ trợ giới sáng tạo một cách tốt nhất

Nhân Dân cuối tuần có cuộc trao đổi với bà Phạm Thị Kim Oanh, Phó Cục trưởng Bản quyền tác giả, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, về những nỗ lực của cơ quan quản lý nhà nước trong việc đồng hành, khuyến khích các tổ chức, cá nhân chủ động nâng cao hơn nữa ý thức về bảo vệ quyền tác giả và các quyền liên quan quyền tác giả.

Đồi chè Mộc Châu. (Ảnh Huỳnh Văn Truyền)

Chủ động mở những lối đi

Nhiếp ảnh là một trong những lĩnh vực sáng tác mà việc vi phạm bản quyền xảy ra khá thường xuyên, ở nhiều phương thức, cấp độ khác nhau.

Ngành công nghệ cần đặt an toàn của trẻ em vào khâu thiết kế sản phẩm, thay vì coi đó là phần việc xử lý sau cùng. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Đồng hành để bảo vệ

Internet từ lâu đã trở thành một phần tất yếu của cuộc sống, kể cả với trẻ em. Tuy nhiên, mức độ hiện diện cao ấy không đồng nghĩa với việc thế hệ trẻ có đủ năng lực để tự bảo vệ mình.

Trung ương Đoàn luôn chủ động tạo ra các không gian cởi mở để kịp thời lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của trẻ em.

Lắng nghe đúng, hành động trúng

Trong thời đại kỷ nguyên số, không gian mạng không còn là một công cụ hỗ trợ, mà đã trở thành một môi trường sống song hành với đời sống của trẻ em.

Chiến dịch Không một mình, nằm trong chuỗi các hành động nhằm thực hiện Công ước Hà Nội, hướng tới đồng hành với giới trẻ trong phòng, chống bắt cóc online. Ảnh: Hiệp hội An ninh mạng

Nhật ký một ngày online

LTS - Không phải những con số thống kê khô khan, cũng không phải góc nhìn của người lớn, ký sự này được thực hiện bởi chính những “người trong cuộc” - nhóm phóng viên nhí của Tòa soạn Tiếng Xanh (hoạt động dưới sự hướng dẫn của UNICEF Việt Nam).

Thay vì ngăn chặn, Việt Nam đang hướng đến những giải pháp thân thiện, cùng đồng hành với trẻ trên không gian mạng. Trong ảnh: Trích từ cẩm nang “Tự tin chinh phục Vương quốc Social” của Toà soạn Tiếng Xanh.

Từ chính sách đến từng gia đình

Không gian mạng hôm nay đã là một phần của tuổi thơ Việt Nam. Vì thế, bài toán không còn là “có nên cho trẻ dùng mạng xã hội hay không”, mà là làm sao để trẻ em Việt Nam được lớn lên trong một môi trường số an toàn hơn, lành mạnh hơn và công bằng hơn.

Lần đầu tiên trong lịch sử quy hoạch đô thị Việt Nam, Thủ đô Hà Nội được Trung ương giao quyền lập đồ án Quy hoạch, phù hợp việc tổ chức lại địa giới hành chính, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp. Ảnh Thành Đạt

Thách thức trong bước chuyển tư duy

Lời tòa soạn - Theo Quy hoạch Tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm, thành phố sẽ phát triển với cấu trúc đô thị “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm”, điểm nhấn xuyên suốt là văn hiến, văn minh, hiện đại, hạnh phúc, trong đó yếu tố “hạnh phúc” được đặt ở vị trí trung tâm.

Hà Nội định hình cấu trúc đô thị theo không gian phát triển mở “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm”. (Ảnh KHIẾU MINH)

Không để quy hoạch chỉ dừng ở bản vẽ

Quy hoạch Tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm (Quy hoạch) đã được Hội đồng nhân dân thành phố thông qua. Quy hoạch cho thấy tầm chiến lược, có các phân kỳ, giai đoạn thực hiện, nhưng cũng cần giải quyết những khó khăn, thách thức để đi vào đời sống.

Ông Trịnh Quang Dũng, Trưởng phòng Quản lý hoạt động quy hoạch, kiến trúc đô thị, Sở Quy hoạch-Kiến trúc Hà Nội.

Đúc rút bài học thực tiễn, kiến tạo phát triển bền vững

Ông Trịnh Quang Dũng, Trưởng phòng Quản lý hoạt động quy hoạch, kiến trúc đô thị, Sở Quy hoạch-Kiến trúc Hà Nội chia sẻ: Để kiến tạo một Thủ đô phát triển bền vững xuyên thế kỷ, cơ quan chuyên môn không né tránh mà đi sâu nghiên cứu, bắt đúng bệnh...

Nhiều cuộc tọa đàm được tổ chức, nhằm đóng góp ý kiến cho chuyển đổi số quy hoạch đô thị tại Hà Nội. (Ảnh DIÊN KHÁNH)

“Bộ não số” cho đô thị thông minh

Thủ đô Hà Nội đang từng bước chuyển đổi, đầu tư hạ tầng công nghệ, tích cực chuyển đổi tư duy quản trị đô thị và quản lý quy hoạch, nâng cao chất lượng sống của người dân.

Các di tích, cảnh quan thiên nhiên, ao hồ cần có “đời sống của mình” trong không gian đô thị mới. (Ảnh VĂN HỌC)

Tích hợp yếu tố sinh thái vào từng lựa chọn

Ô nhiễm môi trường không chỉ là thách thức trước mắt, mà còn là lực cản lớn đối với mục tiêu phát triển bền vững của Thủ đô. Vì vậy, quy hoạch tổng thể phải bảo đảm yêu cầu rất cao về phát triển xanh cũng như tạo dựng hệ sinh thái phong phú cho đô thị.

Lãnh đạo phường Hồng Hà giải đáp thắc mắc của người dân bị thu hồi đất tại hiện trường.

Thước đo của một Thủ đô vì con người

Hà Nội đang bước vào giai đoạn tái cấu trúc đô thị mạnh mẽ. Song, phía sau những công trình mang tầm vóc quy hoạch là đổi thay trong đời sống của người dân, đặt ra yêu cầu phải giải quyết hài hòa bài toán phát triển và an cư.

Các yếu tố mang tính quyết định cho chuyển đổi xanh, như khoa học công nghệ, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo… cần được đầu tư tương xứng. (Ảnh Thành Đạt)

Thế chân kiềng trong kỷ nguyên xanh

Lời toà soạn - Để đưa nông nghiệp Việt Nam bước vào kỷ nguyên xanh, điều cốt lõi là phải tái định hình vai trò của Nhà nước, doanh nghiệp và người nông dân trong một hệ sinh thái phát triển mới.

Chuyển dịch xanh đang mở ra cơ hội để nông sản Việt Nam tái định vị trên thị trường quốc tế. (Trong ảnh: Trồng sầu riêng cho năng suất cao ở xã Trường Long, TP Cần Thơ). (Ảnh Phương Bằng)

Tháo gỡ nút thắt vốn và đầu tư

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt, biến động thị trường khó đoán định, đòi hỏi từ người tiêu dùng cũng cao hơn, nông nghiệp Việt Nam đứng trước yêu cầu phải chuyển dịch xanh, nâng cao giá trị.

TS Trần Công Thắng, Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Tối ưu hóa công cụ chính sách, khơi thông nguồn lực công-tư

Phát triển các công cụ chính sách mới, dựa vào cơ chế thị trường để huy động sự tham gia của toàn xã hội trong phát triển nông nghiệp gắn với bảo vệ môi trường là điều TS Trần Công Thắng, Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nhấn mạnh trong cuộc trò chuyện với NDCT.

Cần thúc đẩy mô hình liên kết bốn nhà (Nhà nước-Viện nghiên cứu-Doanh nghiệp-Nông dân) theo chuỗi giá trị. (Ảnh Đạt Thành)

Doanh nghiệp tiên phong nắm lợi thế

Thể chế và hệ sinh thái về chuyển đổi số - xanh của Việt Nam vẫn chưa hoàn thiện cũng như chưa đủ mạnh để phát triển trên diện rộng. Để hóa giải tình trạng này, cần đồng bộ quá trình hoàn thiện thể chế và tài chính xanh, đi đôi hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi, phát triển hạ tầng số.

Các hợp tác xã, tổ hợp tác, thông qua Chương trình FFF có nhiều cơ hội giao lưu, trao đổi để phát triển. (Ảnh FAO Việt Nam)

Ươm mầm sinh kế

Từ những mảnh vườn nhỏ ở Lào Cai, Thái Nguyên hay Phú Thọ, một mô hình mới đang dần hình thành: Nông nghiệp gắn với rừng, với thị trường, với cộng đồng và với tương lai dài hạn.

Bảy mô hình Đề án 1 triệu ha lúa tại Đồng bằng sông Cửu Long ghi nhận năng suất đều tăng, nâng cao thu nhập cho nông dân từ 4-7,6 triệu đồng/ha. (Ảnh Lê Phương)

Bài toán nâng tầm giá trị hạt gạo

Lúa phát thải thấp giúp nâng cao giá trị hạt gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế, nhưng đồng thời cũng đặt ra bài toán lớn liên quan nguồn vốn và tổ chức canh tác nông nghiệp.

Đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt giúp minh bạch hóa dòng tiền, giảm thất thu thuế, đồng thời bảo đảm an toàn tài chính cho người dân cũng như nền kinh tế. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Cuộc đua tốc độ và bảo mật

Lời toà soạn - Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, giá trị thanh toán không dùng tiền mặt năm 2025 gấp khoảng 28 lần tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tương đương hơn 14 nghìn tỷ USD.

Các hoạt động hướng dẫn sử dụng dịch vụ công trực tuyến và phổ biến phương thức thanh toán không dùng tiền mặt (QR code, chuyển khoản) được triển khai mạnh mẽ.

Hướng tới phát triển các hệ sinh thái số

Với tốc độ tăng trưởng hai con số liên tục trong nhiều năm, thanh toán không dùng tiền mặt đã trở thành một phần tất yếu của cuộc sống. Dù mang lại nhiều tiện ích, việc phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu phải bảo đảm an toàn, bảo mật.