Hành trình hướng tới thị trường tín chỉ carbon Việt

Thị trường tín chỉ carbon là công cụ chính sách then chốt, góp phần giảm phát thải khí nhà kính theo cơ chế thị trường. Nhưng để doanh nghiệp tham gia thị trường carbon một cách bền vững, các ngành chức năng cần sớm xúc tiến, triển khai các kế hoạch, giải pháp, khung pháp lý liên quan.

Trong giai đoạn 2025-2026, các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực xi-măng, sắt thép và nhiệt điện sẽ phải kiểm kê, kiểm soát hạn ngạch khí thải để chuẩn bị cho thị trường carbon bắt buộc. (Ảnh Nguyên Nghi)
Trong giai đoạn 2025-2026, các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực xi-măng, sắt thép và nhiệt điện sẽ phải kiểm kê, kiểm soát hạn ngạch khí thải để chuẩn bị cho thị trường carbon bắt buộc. (Ảnh Nguyên Nghi)

Tiềm năng “triệu đô”

Tại Việt Nam, khi tín chỉ carbon xuất hiện dưới hình thái sơ khai là CERs, đã có hàng loạt dự án đã được triển khai theo chứng nhận cơ chế phát triển sạch (CDM) và bán CERs cho đối tác quốc tế. Dự án thu hồi khí đồng hành tại mỏ Rạng Đông, được triển khai năm 1997 là thí dụ. Theo đó, khí đồng hành được thu hồi để sản xuất khí hóa lỏng, dung môi pha xăng hoặc phân đạm, thay vì đốt ngay tại mỏ.

Lũy kế từ năm 1997 đến hết năm 2022, theo thống kê của Công ước Khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu (UNFCCC), Việt Nam có gần 260 dự án theo cơ chế CDM. Trong đó, có 15 dự án được đăng ký thành công, bán ra hơn 30 triệu CERs, tập trung ở các lĩnh vực năng lượng, thu hồi khí đồng hành, khí bãi chôn lấp rác thải và khí sinh học.

Gần đây, vào cuối năm 2023, hơn 10 triệu tấn khí thải carbon giảm thải từ rừng khu vực Bắc Trung Bộ được chuyển nhượng cho Ngân hàng Thế giới (WB) qua Thỏa thuận chi trả lượng giảm phát thải khí nhà kính (ERPA). Thương vụ này, dù chưa thể coi là dự án tín chỉ carbon đúng nghĩa, nhưng “tiền tươi thóc thật” đã được chia đều cho bà con trồng rừng, bảo vệ rừng ở sáu tỉnh (cũ) vùng Bắc Trung Bộ, cho thấy lợi ích kinh tế thật sự từ việc giữ rừng để hấp thụ carbon.

Bên cạnh đó, một dự án tương tự đang được triển khai tại vùng Nam Trung Bộ và Tây Nguyên để chi trả tiền giảm phát thải cho người dân giữ rừng. Ngoài ra, nhiều hệ sinh thái giảm phát thải tự nhiên như: rừng ngập mặn vùng Đồng bằng sông Cửu Long hay các rặng san hô ven biển cũng đang được người dân địa phương tích cực bảo tồn, chờ ngày được công nhận chính thức bằng tín chỉ carbon.

Song vẫn còn những điều dang dở...

Trước cơ hội huy động tạo nguồn lực cho phát triển kinh tế xanh và tuần hoàn, đặc biệt trong lĩnh vực lâm nghiệp - ngành đang phát thải âm và sở hữu nguồn rừng lớn, Chính phủ và các ngành chức năng đã xây dựng hệ thống pháp lý nền tảng, gồm: Luật Bảo vệ môi trường 2020, lần đầu ghi nhận thị trường carbon trong nước; Nghị định số 06/2022/NĐ-CP quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ozone; Quyết định số 232/2025 của Thủ tướng phê duyệt Đề án thành lập và phát triển thị trường carbon (giai đoạn 2025-2030).

Theo PGS,TS Nguyễn Đình Thọ, Phó viện trưởng, Viện Chiến lược, chính sách Nông nghiệp và Môi trường (ISPAE), Quyết định số 232/2025 đã định hướng chiến lược tổng thể, mục tiêu cụ thể và các nhóm nhiệm vụ then chốt để vận hành thị trường carbon. Ngoài ra, Nghị định số 119/2025/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/2022/NĐ-CP cũng góp phần cụ thể hóa và quy định rõ ràng về yêu cầu kỹ thuật và tổ chức liên quan kiểm kê, giám sát, báo cáo, thẩm định phát thải khí nhà kính. Bên cạnh đó, có khoảng gần 2.200 doanh nghiệp nằm trong diện bắt buộc kiểm kê phát thải khí nhà kính. Trong giai đoạn 2025-2026, gần 200 cơ sở thuộc lĩnh vực xi-măng, sắt thép và nhiệt điện sẽ phải kiểm kê và bị áp hạn ngạch khí thải, bước nền tảng để chuẩn bị cho thị trường carbon bắt buộc.

Tuy nhiên, ông Thọ đánh giá những khung khổ pháp lý này vẫn chưa đủ để thiết lập một thị trường carbon đúng nghĩa, nơi việc phát thải - giảm phát thải được ghi nhận và chi trả theo cơ chế thị trường công bằng, minh bạch. Thực tế, một doanh nghiệp sản xuất mía đường tại tỉnh Thanh Hóa từng lên kế hoạch chuyển nhượng tín chỉ carbon cho đối tác từ lâu, nhưng gặp vướng mắc ở khâu cấp phép triển khai dự án, vì cơ quan chức năng cũng lúng túng, trong bối cảnh chưa có hướng dẫn pháp lý cụ thể.

Thêm nữa, ông Thọ cũng đề cập việc chưa có quy trình đồng nhất về đo đạc, báo cáo, thẩm định khí thải nhà kính. Thậm chí, giữa các ngành, lĩnh vực cũng còn tồn tại những hình thức phát thải khác nhau và không có sự chuẩn hóa - điều có thể dẫn tới rủi ro sai lệch và không thể so sánh kết quả. Hơn nữa, sự “lệch pha” còn diễn ra ở cơ quan quản lý, khi chưa có cơ chế thống nhất giữa các bộ, ngành, tiềm ẩn nguy cơ tạo ra xung đột giữa các cơ quan, bên cạnh tình trạng thiếu trách nhiệm giải trình, nhất là trong bối cảnh các đơn vị xả thải và các dự án giảm phát thải, lưu trữ carbon có thể thuộc sự điều chỉnh của nhiều bộ, ngành.

Một điểm bất cập khác nữa được ông Thọ chỉ ra, đó là thiếu cơ chế tài chính để triển khai các giải pháp phát thải khí nhà kính, đơn cử như tín dụng xanh, trái phiếu xanh. Trong khi đó, tín chỉ carbon đang được bán với giá thấp, không đủ hấp dẫn để thu hút doanh nghiệp tham gia.

Đồng quan điểm, Tiến sĩ Hồ Quang Cua cho biết: Mô hình lúa - tôm tại bán đảo Cà Mau, do ông và các cộng sự triển khai, dù đã thực hiện đúng các tiêu chí giảm phát thải canh tác lúa của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nhưng vẫn chưa đo đếm được con số giảm phát thải thật sự là bao nhiêu. Đây là nút thắt cho nhiều dự án giảm phát thải, khi chưa có khung đo đếm cụ thể và không phải đơn vị nào cũng có đầy đủ nguồn lực về công nghệ, tài chính và trình độ để tự đo đếm. Do đó, ông rất mong mô hình của mình được kiểm đếm và được bán tín chỉ carbon cho doanh nghiệp để người dân có thể hưởng lợi từ thành quả giảm phát thải, làm nông nghiệp “thuận thiên”, nông nghiệp tuần hoàn.

Để thị trường vận hành thông suốt

Thực tế, ba lĩnh vực sản xuất tạo ra phát thải khí nhà kính, gồm sắt thép, xi-măng và nhiệt điện, hiện đang chiếm trên 70% lượng phát thải toàn ngành công nghiệp của Việt Nam. Đây cũng là ba lĩnh vực trọng tâm trong giai đoạn thị trường tín chỉ carbon vận hành thí điểm.

Trước đó, theo dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/2022 quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ozone, khoảng 150 doanh nghiệp thuộc lĩnh vực sắt thép,
xi-măng và nhiệt điện sẽ được phân bổ hạn ngạch khí thải trong giai đoạn 2025-2026.

Phục vụ cho công tác triển khai thí điểm thị trường carbon, thông qua sự hỗ trợ của Chương trình Đối tác chuyển dịch năng lượng Đông Nam Á, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã thực hiện dự án đánh giá tác động của hệ thống trao đổi hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon tại Việt Nam. Dự án đưa ra hai kịch bản, gồm bù trừ hạn ngạch phát thải bằng tín chỉ carbon lần lượt ở mức 10% và 20%.

Nhiều ý kiến chuyên gia nhận định: Những doanh nghiệp bị áp hạn ngạch thường có quy mô lớn, sở hữu nguồn lực mạnh và sẽ tiên phong trong những giải pháp cắt giảm khí thải thông qua ứng dụng công nghệ. Tuy nhiên, việc lựa chọn tỷ lệ cho phép bù trừ hạn ngạch bằng tín chỉ carbon tối đa là bao nhiêu sẽ ảnh hưởng nhiều đến nỗ lực của doanh nghiệp triển khai giải pháp giảm phát thải khí nhà kính.

Dẫn chứng kinh nghiệm quốc tế trong việc vận hành thị trường tín chỉ carbon, TS Lê Xuân Nghĩa, Viện trưởng Viện Tư vấn phát triển (CODE), cho rằng, điều đầu tiên cần làm là tạo lập một sàn giao dịch, nơi người bán, kẻ mua và nhà đầu tư cùng hoạt động. Chẳng hạn, tại Nhật Bản, cơ quan quản lý đã lựa chọn một số đơn vị mua, bán tín chỉ carbon tham gia vào một sàn giao dịch phi tập trung (OTC) chưa chính thức. Khi các đơn vị đã thành thạo trong giao dịch tín chỉ carbon, sàn giao dịch này được tích hợp với sàn chứng khoán Tokyo. Như vậy, sàn giao dịch tín chỉ carbon có thể tận dụng cơ sở sẵn có của sàn chứng khoán, gồm lực lượng đầu tư, đầu cơ, cơ chế thanh toán bù trừ và trung tâm lưu ký. Những tài nguyên này làm tăng tính thuận tiện cho các giao dịch tín chỉ carbon, từ đó hấp dẫn đơn vị, tổ chức và cá nhân tham gia.

Với cơ chế trên, các nhà đầu cơ có thể tham gia và kiếm lợi nhuận trên thị trường tín chỉ carbon, giúp loại tài sản này có tính thanh khoản cao hơn - tức có thể dễ dàng mua, bán trong điều kiện cung hoặc cầu bị thu hẹp. Từ đó, trong tương lai, tín chỉ carbon có thể được sử dụng như một tài sản thế chấp, thậm chí còn được các tổ chức tín dụng yêu thích hơn so với bất động sản. Bởi lẽ, thế chấp bất động sản hàm chứa rủi ro về việc định giá không đúng với giá trị thật hoặc rủi ro khi thị trường sụp đổ.

Với tín chỉ carbon, khi sàn giao dịch đi vào hoạt động, giá cả đã rõ ràng trên thị trường, lại có xu thế luôn tăng giá trong tương lai. Trong trường hợp khách hàng không trả nợ, ngân hàng hoàn toàn có thể bán phần tín chỉ carbon được sử dụng để thế chấp, hạn chế rủi ro nợ xấu ■

Theo dự báo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Việt Nam có thể bán được 57 triệu tín chỉ carbon mỗi năm, qua đó thu về khoảng 300 triệu USD hoặc cao hơn, tùy thuộc vào giá bán tín chỉ carbon.

Có thể bạn quan tâm

PGS, TS Nguyễn Văn Tùng

Từ phong trào đến tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục

Nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành văn hóa đọc, bởi đây là môi trường giáo dục nền tảng, nơi hình thành thói quen, nhân cách và phương pháp học tập của mỗi con người. PGS, TS Nguyễn Văn Tùng, thành viên Hội đồng thành viên, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về các giải pháp phát triển văn hóa đọc cho học sinh.

Mục tiêu không chỉ là sản xuất nhiều gạo hơn mà là sản xuất gạo chất lượng cao hơn, giảm phát thải hơn. Trong ảnh: Cánh đồng lúa chất lượng cao ở xã Gia Hòa, thành phố Cần Thơ. Ảnh: Phương Bằng

Nông nghiệp với ngã rẽ chuyển đổi tư duy

Biến đổi khí hậu cùng với các yêu cầu mới của thị trường toàn cầu về giảm phát thải khí nhà kính, sản xuất xanh và phát triển bền vững đang trở thành những tiêu chuẩn bắt buộc, để nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải chuyển đổi tư duy sản xuất, tập trung vào chất lượng, hiệu quả và khả năng thích ứng.

Châu thổ Cửu Long.

Kiến tạo động lực tăng trưởng bền vững

Trước câu hỏi, đâu là mô hình tăng trưởng phù hợp để vừa phát huy những lợi thế sẵn có vừa giữ gìn bản sắc văn hóa sông nước vùng châu thổ Cửu Long? Nhân Dân cuối tuần đã ghi lại những ý kiến trao đổi của lãnh đạo các địa phương.

Hàng loạt công trình hạ tầng giao thông trọng điểm quốc gia được đầu tư xây dựng, góp phần kiến tạo động lực để vùng Đồng bằng sông Cửu Long cất cánh. Trong ảnh: Thi công cao tốc trục ngang Châu Đốc - Trần Đề. Ảnh: Phương Bằng

Vận hội vươn mình trước làn sóng đầu tư

Sau nhiều thập niên là “vùng trũng” về hạ tầng giao thông và thu hút đầu tư, Đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước vận hội mới. Những tuyến cao tốc, trục dọc, đường ngang, đường vành đai ven biển, ven biên giới, nhiều cầu lớn vượt sông dần nên hình hài... góp phần vào việc thu hẹp khoảng cách kinh tế một cách nhanh chóng và tạo đà tăng trưởng mạnh mẽ.

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Du lịch trải nghiệm (Experiential travel) hay còn có cái tên khác là du lịch hòa nhập (Immersive travel) đã và đang hiện diện ngày càng rõ ràng hơn trong nhiều loại hình sản phẩm khác nhau ở Việt Nam, với một điểm chung: Yếu tố trải nghiệm luôn được ưu tiên ở vị trí số một.

Du khách trải nghiệm làm rối nước tại thôn Bàn Thạch (tên nôm là thôn Rạch), phường Hồng Quang, tỉnh Ninh Bình. Ảnh: LƯƠNG VĂN PHƯƠNG

Thước đo mới cho giá trị điểm đến

Là một xu hướng mới tại Việt Nam, đặc biệt từ sau đại dịch Covid-19, du lịch trải nghiệm khuyến khích du khách tối đa hóa các giá trị nhận lại từ điểm đến bằng cách hòa mình kết nối và trở thành một phần của đời sống, văn hóa địa phương, thay vì chỉ đóng vai trò quan sát, nhìn ngắm hời hợt.

Du khách học cách làm món đồ uống độc đáo cà-phê trứng của Hà Nội. (Nguồn ảnh: Dine With Locals)

Cách để “bán” câu chuyện cuộc sống

Truyền thống lịch sử lâu đời cùng địa lý đa dạng và nền văn hóa giàu bản sắc là nền tảng, điểm tựa để Việt Nam phát triển du lịch bền vững với phong phú yếu tố trải nghiệm. Chung quanh chủ đề này, Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số chuyên gia và người trực tiếp làm công tác quản lý, vận hành dịch vụ/ mô hình du lịch trải nghiệm ở Việt Nam.

Khách du lịch tham gia các hoạt động trải nghiệm trong tour Về làng học thêu tay. Ảnh: DÃ LIÊN

Tạo sức hút và năng lực cạnh tranh mới

Mô hình trải nghiệm làng nghề ở Hà Nội đã có từ lâu, như ở làng gốm Bát Tràng, song phần lớn đều dừng ở mức đơn giản, nặng tính “cưỡi ngựa xem hoa”, hoặc như một gia vị cho hoạt động tham quan. Thời gian gần đây, nhiều làng nghề đã đổi mới cách làm, từ đó tạo nên sức hút và năng lực cạnh tranh mới.

Trước mắt anh Phương Nam, Côn Đảo mở ra biết bao nhịp sống xanh, nguyên sơ, trong trẻo. Ảnh: MINH LÊ

Những “điểm chạm” nguyên sơ, trong trẻo

Côn Đảo lâu nay thường được nhắc đến như một vùng đất chứa đựng ký ức lịch sử bi tráng của dân tộc, với hệ thống nhà tù của thực dân và đế quốc cùng những trang sử đấu tranh của các chiến sĩ cách mạng. Nhưng đối với nhiều du khách, sau những “điểm chạm” vào thiên nhiên ở nơi này, Côn Đảo còn là biết bao nhịp xanh, nguyên sơ, trong trẻo.

Bên cạnh gia đình luôn là khoảng thời gian chất lượng để vun trồng một thế hệ hạnh phúc. Ảnh: UNICEF Việt Nam

Hôm nay, tôi đã lắng nghe con mình chưa?

Trong nhiều cuộc tiếp xúc với phụ huynh, rất nhiều cha mẹ chia sẻ với tôi một nguyện vọng rất thật: “Mong con được hạnh phúc”. Song, khi được hỏi: “Hạnh phúc là gì?”, nhiều người lại ngập ngừng.

Bà Nguyễn Phạm Duy Trang.

An toàn là nền móng của hạnh phúc!

Mùa hè không chỉ là khoảng thời gian nghỉ ngơi, vui chơi của trẻ em, mà còn là thời điểm đặt ra nhiều nỗi lo về an toàn, sức khỏe tinh thần và môi trường phát triển của các em trong bối cảnh xã hội hiện đại.

Ước mơ trở thành phi hành gia của bạn Nguyễn Lê Hà Vy, lớp 5B, Trường tiểu học Phúc Tân.

Ðiều chúng em mong muốn!

Trong guồng quay hối hả của cuộc sống hiện đại, nhiều khi những mong mỏi của trẻ em chưa được lắng nghe, chưa được thấu cảm trọn vẹn. Cần lắm những diễn đàn, những kênh kết nối để trẻ em được cất tiếng nói.

Ảnh sử dụng đồ hoạ AI.

Agentic AI - Cơ hội không chia đều cho tất cả

Năm 2026, Agentic AI nổi lên như hiện tượng công nghệ định hình lại cách thế giới làm việc. Bài toán đặt ra cho Việt Nam không còn là "có nên ứng dụng", mà phải "làm thế nào để bắt kịp và làm chủ" trong bối cảnh công nghệ đang tái định nghĩa năng suất, lao động và lợi thế cạnh tranh.

Kỹ sư phần mềm là đối tượng dễ bị ảnh hưởng bởi AI. Nguồn: FPT

Thuê trí tuệ - Lằn ranh đỏ

Trong lịch sử kinh tế, có một thứ vẫn luôn được coi là tài sản không thể chia, không thể mua, không thể bị tước đi: Trí tuệ của con người. Thời điểm Agentic AI (trí tuệ nhân tạo tự chủ) bùng nổ, điều đó không còn đúng nữa.

Trại huấn luyện của tác giả Linh Phan dành cho cá nhân muốn phát triển “công ty một người”. Nguồn: Vietnam Solo Expert

Mỗi cá nhân không còn nhỏ bé

Công nghệ có thể giúp một người vận hành như doanh nghiệp. Nhưng chỉ con người đủ trưởng thành mới có thể biến công nghệ thành tài sản, thay vì biến mình thành một cỗ máy sản xuất nhiều hơn.

Dự án cầu Nhật Tân (Hà Nội) không chỉ là công trình trọng điểm sử dụng hiệu quả vốn vay ODA từ Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA), mà còn được coi là biểu tượng thể hiện tình hữu nghị Việt-Nhật. (Ảnh: Thành Đạt)

Nâng tầm tín nhiệm quốc gia

Hội nghị lần thứ II Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã thông qua Kết luận số 18-KL/TW, trong đó có đề cập tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 - 2030.