Hành trình hướng tới thị trường tín chỉ carbon Việt

Thị trường tín chỉ carbon là công cụ chính sách then chốt, góp phần giảm phát thải khí nhà kính theo cơ chế thị trường. Nhưng để doanh nghiệp tham gia thị trường carbon một cách bền vững, các ngành chức năng cần sớm xúc tiến, triển khai các kế hoạch, giải pháp, khung pháp lý liên quan.

Trong giai đoạn 2025-2026, các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực xi-măng, sắt thép và nhiệt điện sẽ phải kiểm kê, kiểm soát hạn ngạch khí thải để chuẩn bị cho thị trường carbon bắt buộc. (Ảnh Nguyên Nghi)
Trong giai đoạn 2025-2026, các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực xi-măng, sắt thép và nhiệt điện sẽ phải kiểm kê, kiểm soát hạn ngạch khí thải để chuẩn bị cho thị trường carbon bắt buộc. (Ảnh Nguyên Nghi)

Tiềm năng “triệu đô”

Tại Việt Nam, khi tín chỉ carbon xuất hiện dưới hình thái sơ khai là CERs, đã có hàng loạt dự án đã được triển khai theo chứng nhận cơ chế phát triển sạch (CDM) và bán CERs cho đối tác quốc tế. Dự án thu hồi khí đồng hành tại mỏ Rạng Đông, được triển khai năm 1997 là thí dụ. Theo đó, khí đồng hành được thu hồi để sản xuất khí hóa lỏng, dung môi pha xăng hoặc phân đạm, thay vì đốt ngay tại mỏ.

Lũy kế từ năm 1997 đến hết năm 2022, theo thống kê của Công ước Khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu (UNFCCC), Việt Nam có gần 260 dự án theo cơ chế CDM. Trong đó, có 15 dự án được đăng ký thành công, bán ra hơn 30 triệu CERs, tập trung ở các lĩnh vực năng lượng, thu hồi khí đồng hành, khí bãi chôn lấp rác thải và khí sinh học.

Gần đây, vào cuối năm 2023, hơn 10 triệu tấn khí thải carbon giảm thải từ rừng khu vực Bắc Trung Bộ được chuyển nhượng cho Ngân hàng Thế giới (WB) qua Thỏa thuận chi trả lượng giảm phát thải khí nhà kính (ERPA). Thương vụ này, dù chưa thể coi là dự án tín chỉ carbon đúng nghĩa, nhưng “tiền tươi thóc thật” đã được chia đều cho bà con trồng rừng, bảo vệ rừng ở sáu tỉnh (cũ) vùng Bắc Trung Bộ, cho thấy lợi ích kinh tế thật sự từ việc giữ rừng để hấp thụ carbon.

Bên cạnh đó, một dự án tương tự đang được triển khai tại vùng Nam Trung Bộ và Tây Nguyên để chi trả tiền giảm phát thải cho người dân giữ rừng. Ngoài ra, nhiều hệ sinh thái giảm phát thải tự nhiên như: rừng ngập mặn vùng Đồng bằng sông Cửu Long hay các rặng san hô ven biển cũng đang được người dân địa phương tích cực bảo tồn, chờ ngày được công nhận chính thức bằng tín chỉ carbon.

Song vẫn còn những điều dang dở...

Trước cơ hội huy động tạo nguồn lực cho phát triển kinh tế xanh và tuần hoàn, đặc biệt trong lĩnh vực lâm nghiệp - ngành đang phát thải âm và sở hữu nguồn rừng lớn, Chính phủ và các ngành chức năng đã xây dựng hệ thống pháp lý nền tảng, gồm: Luật Bảo vệ môi trường 2020, lần đầu ghi nhận thị trường carbon trong nước; Nghị định số 06/2022/NĐ-CP quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ozone; Quyết định số 232/2025 của Thủ tướng phê duyệt Đề án thành lập và phát triển thị trường carbon (giai đoạn 2025-2030).

Theo PGS,TS Nguyễn Đình Thọ, Phó viện trưởng, Viện Chiến lược, chính sách Nông nghiệp và Môi trường (ISPAE), Quyết định số 232/2025 đã định hướng chiến lược tổng thể, mục tiêu cụ thể và các nhóm nhiệm vụ then chốt để vận hành thị trường carbon. Ngoài ra, Nghị định số 119/2025/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/2022/NĐ-CP cũng góp phần cụ thể hóa và quy định rõ ràng về yêu cầu kỹ thuật và tổ chức liên quan kiểm kê, giám sát, báo cáo, thẩm định phát thải khí nhà kính. Bên cạnh đó, có khoảng gần 2.200 doanh nghiệp nằm trong diện bắt buộc kiểm kê phát thải khí nhà kính. Trong giai đoạn 2025-2026, gần 200 cơ sở thuộc lĩnh vực xi-măng, sắt thép và nhiệt điện sẽ phải kiểm kê và bị áp hạn ngạch khí thải, bước nền tảng để chuẩn bị cho thị trường carbon bắt buộc.

Tuy nhiên, ông Thọ đánh giá những khung khổ pháp lý này vẫn chưa đủ để thiết lập một thị trường carbon đúng nghĩa, nơi việc phát thải - giảm phát thải được ghi nhận và chi trả theo cơ chế thị trường công bằng, minh bạch. Thực tế, một doanh nghiệp sản xuất mía đường tại tỉnh Thanh Hóa từng lên kế hoạch chuyển nhượng tín chỉ carbon cho đối tác từ lâu, nhưng gặp vướng mắc ở khâu cấp phép triển khai dự án, vì cơ quan chức năng cũng lúng túng, trong bối cảnh chưa có hướng dẫn pháp lý cụ thể.

Thêm nữa, ông Thọ cũng đề cập việc chưa có quy trình đồng nhất về đo đạc, báo cáo, thẩm định khí thải nhà kính. Thậm chí, giữa các ngành, lĩnh vực cũng còn tồn tại những hình thức phát thải khác nhau và không có sự chuẩn hóa - điều có thể dẫn tới rủi ro sai lệch và không thể so sánh kết quả. Hơn nữa, sự “lệch pha” còn diễn ra ở cơ quan quản lý, khi chưa có cơ chế thống nhất giữa các bộ, ngành, tiềm ẩn nguy cơ tạo ra xung đột giữa các cơ quan, bên cạnh tình trạng thiếu trách nhiệm giải trình, nhất là trong bối cảnh các đơn vị xả thải và các dự án giảm phát thải, lưu trữ carbon có thể thuộc sự điều chỉnh của nhiều bộ, ngành.

Một điểm bất cập khác nữa được ông Thọ chỉ ra, đó là thiếu cơ chế tài chính để triển khai các giải pháp phát thải khí nhà kính, đơn cử như tín dụng xanh, trái phiếu xanh. Trong khi đó, tín chỉ carbon đang được bán với giá thấp, không đủ hấp dẫn để thu hút doanh nghiệp tham gia.

Đồng quan điểm, Tiến sĩ Hồ Quang Cua cho biết: Mô hình lúa - tôm tại bán đảo Cà Mau, do ông và các cộng sự triển khai, dù đã thực hiện đúng các tiêu chí giảm phát thải canh tác lúa của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nhưng vẫn chưa đo đếm được con số giảm phát thải thật sự là bao nhiêu. Đây là nút thắt cho nhiều dự án giảm phát thải, khi chưa có khung đo đếm cụ thể và không phải đơn vị nào cũng có đầy đủ nguồn lực về công nghệ, tài chính và trình độ để tự đo đếm. Do đó, ông rất mong mô hình của mình được kiểm đếm và được bán tín chỉ carbon cho doanh nghiệp để người dân có thể hưởng lợi từ thành quả giảm phát thải, làm nông nghiệp “thuận thiên”, nông nghiệp tuần hoàn.

Để thị trường vận hành thông suốt

Thực tế, ba lĩnh vực sản xuất tạo ra phát thải khí nhà kính, gồm sắt thép, xi-măng và nhiệt điện, hiện đang chiếm trên 70% lượng phát thải toàn ngành công nghiệp của Việt Nam. Đây cũng là ba lĩnh vực trọng tâm trong giai đoạn thị trường tín chỉ carbon vận hành thí điểm.

Trước đó, theo dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/2022 quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ozone, khoảng 150 doanh nghiệp thuộc lĩnh vực sắt thép,
xi-măng và nhiệt điện sẽ được phân bổ hạn ngạch khí thải trong giai đoạn 2025-2026.

Phục vụ cho công tác triển khai thí điểm thị trường carbon, thông qua sự hỗ trợ của Chương trình Đối tác chuyển dịch năng lượng Đông Nam Á, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã thực hiện dự án đánh giá tác động của hệ thống trao đổi hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon tại Việt Nam. Dự án đưa ra hai kịch bản, gồm bù trừ hạn ngạch phát thải bằng tín chỉ carbon lần lượt ở mức 10% và 20%.

Nhiều ý kiến chuyên gia nhận định: Những doanh nghiệp bị áp hạn ngạch thường có quy mô lớn, sở hữu nguồn lực mạnh và sẽ tiên phong trong những giải pháp cắt giảm khí thải thông qua ứng dụng công nghệ. Tuy nhiên, việc lựa chọn tỷ lệ cho phép bù trừ hạn ngạch bằng tín chỉ carbon tối đa là bao nhiêu sẽ ảnh hưởng nhiều đến nỗ lực của doanh nghiệp triển khai giải pháp giảm phát thải khí nhà kính.

Dẫn chứng kinh nghiệm quốc tế trong việc vận hành thị trường tín chỉ carbon, TS Lê Xuân Nghĩa, Viện trưởng Viện Tư vấn phát triển (CODE), cho rằng, điều đầu tiên cần làm là tạo lập một sàn giao dịch, nơi người bán, kẻ mua và nhà đầu tư cùng hoạt động. Chẳng hạn, tại Nhật Bản, cơ quan quản lý đã lựa chọn một số đơn vị mua, bán tín chỉ carbon tham gia vào một sàn giao dịch phi tập trung (OTC) chưa chính thức. Khi các đơn vị đã thành thạo trong giao dịch tín chỉ carbon, sàn giao dịch này được tích hợp với sàn chứng khoán Tokyo. Như vậy, sàn giao dịch tín chỉ carbon có thể tận dụng cơ sở sẵn có của sàn chứng khoán, gồm lực lượng đầu tư, đầu cơ, cơ chế thanh toán bù trừ và trung tâm lưu ký. Những tài nguyên này làm tăng tính thuận tiện cho các giao dịch tín chỉ carbon, từ đó hấp dẫn đơn vị, tổ chức và cá nhân tham gia.

Với cơ chế trên, các nhà đầu cơ có thể tham gia và kiếm lợi nhuận trên thị trường tín chỉ carbon, giúp loại tài sản này có tính thanh khoản cao hơn - tức có thể dễ dàng mua, bán trong điều kiện cung hoặc cầu bị thu hẹp. Từ đó, trong tương lai, tín chỉ carbon có thể được sử dụng như một tài sản thế chấp, thậm chí còn được các tổ chức tín dụng yêu thích hơn so với bất động sản. Bởi lẽ, thế chấp bất động sản hàm chứa rủi ro về việc định giá không đúng với giá trị thật hoặc rủi ro khi thị trường sụp đổ.

Với tín chỉ carbon, khi sàn giao dịch đi vào hoạt động, giá cả đã rõ ràng trên thị trường, lại có xu thế luôn tăng giá trong tương lai. Trong trường hợp khách hàng không trả nợ, ngân hàng hoàn toàn có thể bán phần tín chỉ carbon được sử dụng để thế chấp, hạn chế rủi ro nợ xấu ■

Theo dự báo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Việt Nam có thể bán được 57 triệu tín chỉ carbon mỗi năm, qua đó thu về khoảng 300 triệu USD hoặc cao hơn, tùy thuộc vào giá bán tín chỉ carbon.

Có thể bạn quan tâm

Anh Lê Minh Thiện (phải) hỗ trợ ông Nguyễn Xuân Bình làm thủ tục ủy quyền lương hưu. Ảnh: Thành Đạt

Đưa hệ thống chạm tới nhóm người yếu thế

Mới đây, Hà Nội đã hoàn thành 100% mục tiêu của chiến dịch liên ngành bảo đảm chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội không bị gián đoạn. Kết quả này có được là nhờ hoạt động của Tổ hành chính công xung kích, với những công chức không quản nắng mưa, gõ cửa từng nhà.

Người dân Ấn Độ liên kết số Aadhaar của mình với tài khoản ngân hàng để phục vụ thanh toán trực tuyến.

Hai mặt của tấm huy chương

Ở Estonia, hầu hết thủ tục từ khai sinh cho con đến kê đơn thuốc, được thực hiện trong vài cú chạm. Còn tại Ấn Độ, một cụ bà có thể bị máy định danh từ chối phát gạo trợ cấp vì dấu vân tay đã mòn. Hai hình ảnh trái ngược ấy cùng gợi mở một số vấn đề mà Việt Nam cần nắm vững khi bước vào nền hành chính số.

Dù triển khai dịch vụ công trực tuyến, người dân vẫn phải mất nhiều lượt đi lại trực tiếp mới hoàn tất khâu nộp hồ sơ.

Gỡ khó cho tuyến cơ sở

Việc đẩy mạnh chuyển đổi số và triển khai dịch vụ công trực tuyến thời gian qua đã đạt được những thành tựu bước đầu rất đáng ghi nhận. Tuy nhiên, thực tiễn vận hành tại một số địa phương sau khi sáp nhập đơn vị hành chính vẫn thể hiện sự thiếu đồng bộ về dữ liệu chuyên ngành và hạ tầng kỹ thuật.

Ông Bùi Dương, Giám đốc Chi nhánh Trung tâm Phục vụ hành chính công số 1 Thành phố Hà Nội.

Mỗi dữ liệu chỉ khai một lần, mỗi kết quả sử dụng nhiều lần

Xoay quanh nỗ lực thu hẹp khoảng cách giữa một thủ tục được đưa lên môi trường số và một thủ tục thật sự giảm được thời gian cũng như chi phí cho người dân, doanh nghiệp, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với ông Bùi Dương, Giám đốc Chi nhánh Trung tâm Phục vụ hành chính công số 1 Thành phố Hà Nội.

Chuyển đổi số chỉ thành công khi người dân cảm nhận được nền hành chính đơn giản hơn, minh bạch hơn và phục vụ tốt hơn. Ảnh: Thành Đạt

Thiết lập nền hành chính với tư duy số

Năm 2026 đánh dấu bước chuyển quan trọng của nền hành chính Việt Nam khi mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đi vào vận hành đầy đủ, đồng thời dịch vụ công trực tuyến cấp tỉnh, cấp xã được tập trung trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây không chỉ là sự thay đổi về hạ tầng công nghệ, mà còn là phép thử đối với năng lực cải cách bộ máy và tư duy quản trị.

Hạn hán kỷ lục cấp 4 tại Ninh Thuận (cũ) do chịu ảnh hưởng của đợt El Nino hồi năm 2020. Ảnh: Thành Đạt

Bước chuyển tư duy ứng phó siêu El Nino

El Nino đã hình thành và được dự báo tiếp tục mạnh lên trong nửa cuối năm 2026, tiếp nối sang đầu năm 2027, làm gia tăng nguy cơ nắng nóng kéo dài, thiếu hụt lượng mưa theo mùa, suy giảm nguồn nước, dẫn đến hạn hán và xâm nhập mặn nghiêm trọng. 

Ông Hoàng Đức Cường, Phó Cục trưởng Cục Khí tượng Thủy văn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường).

Chuyển từ “dự báo hiện tượng” sang “cảnh báo tác động”

Chỉ trong vài tháng đầu năm 2026, trạng thái đại dương và khí quyển vùng xích đạo Thái Bình Dương đã đảo chiều đột ngột sang pha El Nino. Với xác suất kéo dài xuyên qua năm 2027 lên tới trên 95%, đợt thiên tai này đang đặt ra những thách thức phi truyền thống đối với an ninh năng lượng, sản xuất nông nghiệp và an ninh nguồn nước quốc gia. Nhân Dân cuối tuần có cuộc trao đổi sâu với ông Hoàng Đức Cường, Phó Cục trưởng Cục Khí tượng Thủy văn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) về bước chuyển tư duy chiến lược: Dùng kịch bản rủi ro và dự báo tác động để bảo vệ các động lực tăng trưởng kinh tế.

Lực lượng chức năng và đoàn thể xã Đất Mới (tỉnh Cà Mau) hỗ trợ giúp dân khắc phục hậu quả sau sạt lở đất.

Thiên tai đi qua, tình người ở lại

Dải đất cực nam Tổ quốc có ba bề sóng vỗ. Bên cạnh sự trù phú của tài nguyên biển và rừng ngập mặn, nơi đây cũng là một trong những vùng đất chịu nhiều tổn thương do biến đổi khí hậu. Vào mùa mưa bão, những thiên tai dị thường liên tiếp ập đến, đe dọa trực tiếp đến cuộc sống của người dân.

Các chiến sĩ thuộc Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Ninh Thuận (cũ), nay là tỉnh Khánh Hòa, mang nước sạch đến cho người dân thôn Tà Nôi. Ảnh: Thành Đạt.

Ưu tiên bảo đảm an ninh nguồn nước

Dưới tác động của El Nino, các chuyên gia khuyến nghị: Các cấp ngành, địa phương cần ưu tiên giải pháp bảo đảm an ninh nguồn nước cho các vùng có nguy cơ thiếu nước.

Những thách thức rất lớn đang chờ đợi các vòng đàm phán khí hậu sắp diễn ra.

Thế giới sau hồi chuông báo động

Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) vừa xác nhận: El Nino đã hình thành và có khả năng gia tăng cường độ trong những tháng tới. Trong bối cảnh nhiều mô hình khí hậu dự báo hiện tượng này có thể phát triển tới mức Siêu El Nino, Liên hợp quốc đã kêu gọi các quốc gia khẩn trương triển khai các biện pháp ứng phó nhằm hạn chế thiệt hại.

Các bạn trẻ tương tác với màn hình ở kios tìm hiểu thông tin về Văn Miếu-Quốc Tử Giám. Ảnh: Đại Dương

Cần một “nhạc trưởng”

Mọi lĩnh vực của đời sống văn hóa đang chuyển động theo chiều hướng tích cực nhờ ứng dụng các công nghệ hiện đại. Trong hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam, việc triển khai Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và có hiệu lực kể từ ngày ký, ngày 2/12/2021, đã cho thấy rất rõ một thực tiễn: Công nghệ đã giúp mở rộng tầm nhìn về di sản.

Đồ án tốt nghiệp thiết kế bao bì và đồ chơi 3D mang tên Thanh Cầm của sinh viên Bùi Khánh Linh, Trường đại học Sư phạm nghệ thuật Trung ương, lấy cảm hứng từ trang phục truyền thống. Nguồn ảnh: NUAE Photography Club

Đồng bộ giữa yêu cầu bảo tồn và số hóa

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số nhà quản lý, nhà nghiên cứu và đại diện đơn vị công nghệ tham gia số hóa di tích, di sản văn hóa về tác động xã hội của thành quả ban đầu trong công tác số hóa di sản văn hóa, cũng như những khả thể trong kiến thiết một nền tảng dữ liệu lớn về di sản văn hóa Việt Nam.

Lâu đài Shuri trước khi bị hỏa hoạn. Nguồn: CC BY-SA 4.0

Phương thức tiếp cận linh hoạt và hiệu quả

Trước những tác động của thời gian, biến đổi khí hậu, thiên tai và quá trình đô thị hóa, việc số hóa di sản đã và đang trở thành một xu hướng được nhiều quốc gia quan tâm như một giải pháp hỗ trợ công tác bảo tồn, nghiên cứu và quảng bá di sản.

Các triển lãm, trưng bày phát huy giá trị của lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II thu hút sự quan tâm của công chúng. Nguồn: NAC2

Những cánh cửa đang ngày càng rộng mở

Hàng loạt triển lãm được thiết kế hiện đại, hình ảnh phong phú, tài liệu văn bản được chuyển ngữ tiếng Việt bên cạnh ngoại ngữ phổ biến là tiếng Anh, được trình hiện cả trong không gian vật lý và trực tuyến. Cùng đó, việc số hóa thúc đẩy công tác truyền thông của các Trung tâm lưu trữ quốc gia đã và đang góp phần quan trọng làm rộng mở hơn bao giờ hết lối về lịch sử cho công chúng hôm nay, nhất là lớp trẻ.

Đội ngũ chuyên gia, kỹ sư của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế và đối tác trao đổi về kỹ thuật quét 3D tại Điện Thái Hòa. Ảnh: Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế

Cơ hội lớn cho kinh tế số

Cả nước hiện có 357 bảo vật quốc gia, 153 di tích quốc gia đặc biệt, 6 di sản văn hóa, 2 di sản thiên nhiên, 1 di sản hỗn hợp, 11 di sản tư liệu và 17 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh ở cấp độ thế giới hoặc khu vực. Bên cạnh công tác bảo vệ và phát huy giá trị của các di sản, di tích, hiện vật đặc biệt quý giá này ở định dạng vật lý, việc số hóa một cách bài bản sẽ đem lại rất nhiều lợi ích về văn hóa và kinh tế.

Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số với tốc độ thuộc nhóm nhanh nhất thế giới. Nguồn: HAI

TỪ ÁP LỰC AN SINH ĐẾN NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN

Khi con người khỏe mạnh hơn và tiếp tục cống hiến lâu hơn, chính khái niệm về tuổi già cũng đang được viết lại. Từ những chuyển động của kinh tế, chính sách đến sự thay đổi trong mỗi gia đình, thế giới đang bước vào một kỷ nguyên dân số mới, nơi giá trị của một quốc gia không chỉ được đo bằng quy mô dân số, mà còn bằng khả năng phát huy nguồn vốn con người ở mọi lứa tuổi.

Thế hệ người cao tuổi hôm nay có sức khỏe và khả năng tham gia các hoạt động kinh tế-xã hội tốt hơn trước. Nguồn: HAI

Viết lại mệnh đề dân số

Thành tựu y tế cùng xu hướng giảm sinh đang tạo nên một cuộc biến đổi nhân khẩu học sâu sắc nhất lịch sử: Già hóa dân số toàn cầu. Đã đến lúc không thể nhìn nhận cục diện này như một bài toán an sinh thuần túy, mà cần chuyển hóa thành động lực đổi mới mô hình phát triển, khơi thông nguồn vốn con người và kiến tạo tương lai bền vững.

Những gia đình bốn thế hệ ngày càng nhiều trong xã hội. Ảnh: HẢI NAM

Để một ngày được già đi trong tự chủ

Chúng ta vẫn quen nói đến già hóa dân số bằng những con số: Tỷ lệ người cao tuổi tăng lên, mức sinh giảm xuống, tuổi thọ ngày càng kéo dài. Nhưng sau những biểu đồ và dự báo ấy là một thay đổi âm thầm hơn rất nhiều: Cấu trúc của mỗi gia đình đang được viết lại.

Một người thợ cao niên đang cần mẫn làm việc, hình ảnh dễ thấy tại Nhật Bản. Ảnh: NYT

Cách thế giới khai thác nền kinh tế bạc

Nhật Bản kéo dài tuổi lao động đến 70 và khuyến khích các doanh nghiệp tuyển dụng người già, còn Trung Quốc muốn thu hút hàng chục nghìn tỷ nhân dân tệ (NDT) từ túi tiền của thế hệ cao niên. Hai chiến lược khác nhau cho cùng một bài toán kinh tế bạc: Làm sao để duy trì tăng trưởng, khi dân số ngày càng già đi?

Ông Trần Viết Lưu

Tuổi thọ tăng, cơ hội cũng phải tăng!

Việt Nam hiện có hơn 17 triệu người cao tuổi. Khi tuổi thọ trung bình tăng nhanh, nhóm dân số này cần được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển kinh tế-xã hội thay vì gánh nặng an sinh. Chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần, ông Trần Viết Lưu - Phó Chánh Văn phòng Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam khẳng định: Thay đổi nhận thức của xã hội chính là bước đi tiên quyết cho quá trình chuyển đổi này.

Chăm sóc người cao tuổi đòi hỏi nhiều kỹ năng chuyên nghiệp. Nguồn: Dự án GRACE

Nghề chưa được gọi đúng tên

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), cùng với đà tăng của tuổi thọ, nhu cầu chăm sóc dài hạn sẽ trở thành một trong những thách thức lớn nhất của các quốc gia, đòi hỏi phải phát triển đội ngũ chăm sóc chuyên nghiệp, có kỹ năng và lấy người cao tuổi làm trung tâm.

Chất thải xây dựng phát sinh lớn trong quá trình phá dỡ công trình ở Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Không để “tài nguyên” thành phế thải đô thị

Trong bối cảnh đô thị hóa và phát triển hạ tầng được thúc đẩy mạnh mẽ, khối lượng chất thải xây dựng và phá dỡ công trình đang gia tăng áp lực lên các đô thị lớn. Nếu không sớm thay đổi tư duy quản lý và chuyển hướng sang tái sử dụng, nguồn tài nguyên thứ cấp khổng lồ này sẽ bị lãng phí nghiêm trọng, biến thành gánh nặng cho hệ thống xử lý và gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường.

TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam.

Mấu chốt là hoàn thiện thể chế và chuyển đổi tư duy quản lý

Đây là hai điểm quan trọng được TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam (ảnh nhỏ) phân tích kỹ càng trong cuộc trả lời phỏng vấn của Nhân Dân cuối tuần, về các giải pháp biến chất thải xây dựng thành tài nguyên, góp phần bảo vệ môi trường.

Dự án Vành đai 2,5 đoạn qua phường Yên Hòa, nhiều hạng mục đang thi công phát sinh bụi dày đặc.

Giải quyết căn cơ bài toán vì môi trường Hà Nội

Thành phố Hà Nội đang đồng loạt triển khai nhiều dự án hạ tầng lớn, từ các tuyến đường vành đai, cầu vượt sông Hồng đến những khu đô thị mới. Đi cùng tốc độ giải phóng mặt bằng và tháo dỡ công trình là lượng chất thải xây dựng tăng đột biến. Theo ước tính, từ đầu năm 2026 đến nay, khối lượng chất thải phát sinh đã đạt khoảng 1,5 triệu tấn.

Ông Nguyễn Ngọc Tuấn cho biết: “Những doanh nghiệp tiên phong như Toàn Cầu không thể khai thác hết công suất do thiếu hụt nguồn nguyên liệu đầu vào”. Ảnh: Thành Đạt

Gỡ khó để doanh nghiệp dám đầu tư

Nguồn chất thải xây dựng phục vụ tái chế chưa ổn định và chưa được quản lý theo chuỗi chính là những rào cản lớn khiến cho doanh nghiệp tái chế chất thải xây dựng gặp nhiều khó khăn.