Thời cơ chín muồi dồn sức đầu tư

Những bước đi vững chắc trong quá trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa, sự gia tăng về quy mô, tốc độ và chất lượng tăng trưởng, cùng những tiến bộ trong quản trị doanh nghiệp đã tạo cơ hội cho đường sắt phát huy thế mạnh của vận chuyển hàng hóa khối lượng lớn, độ chính xác cao. Đây chính là thời cơ chín muồi để đầu tư cho đường sắt… góp phần quan trọng vào việc giảm chi phí logistics, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Bốc dỡ container từ phương tiện vận chuyển ban đầu lên tàu liên vận. Nguồn: VNR
Bốc dỡ container từ phương tiện vận chuyển ban đầu lên tàu liên vận. Nguồn: VNR

Nỗ lực giành thị phần

Cũng giống như câu chuyện đã từng diễn ra ở tất cả các quốc gia đang phát triển trên thế giới, tại Việt Nam, khi quy mô nền kinh tế còn khiêm tốn, sản xuất nhỏ lẻ, manh mún… thì vai trò vận chuyển khối lượng lớn của đường sắt bị lu mờ đi trong một giai đoạn nhất định.

Gần 40 năm nay, hạ tầng đường sắt quốc gia không được đầu tư thêm mà thậm chí còn giảm so đường tàu người Pháp đã xây dựng từ năm 1881. Đặc biệt tính kết nối giữa đường sắt với các cảng biển và phương thức vận tải khác còn thấp. Phần lớn đoạn đường nhánh nối với các cảng biển trước đây đã bị tháo dỡ như: đường sắt ra cảng Cửa Lò (Nghệ An), cảng Tiên Sa (Đà Nẵng), cảng Ba Ngòi (Cam Ranh), cảng Sài Gòn (Thành phố Hồ Chí Minh). Trên mạng đường sắt quốc gia hiện chỉ còn hơn 20 vị trí có đường sắt nhánh mang tính chất nhỏ lẻ nối với các nhà máy, mỏ quặng để vận chuyển xăng dầu, mỏ đá, xi-măng…

Đặc biệt, trong tổng chiều dài 3.143 km của mạng lưới đường sắt quốc gia, chỉ có 15% đạt khổ đường ray tiêu chuẩn 1.435 mm. Đây là trở ngại lớn khi kết nối liên vận do hệ thống đường sắt của Trung Quốc và các nước châu Âu đều được thiết kế theo khổ đường ray tiêu chuẩn 1.435 mm.

Hiện toàn bộ tàu hàng từ miền nam ra đều phải dừng sang tải ở ga Đồng Đăng (Lạng Sơn) trước khi “xuất ngoại”. Bên cạnh đó, hạ tầng kho bãi, ga hàng, đường kết nối vào ga không đủ tiêu chuẩn… là những trở ngại làm phát sinh thêm chi phí logistics đường sắt. Trong bối cảnh đó, đường sắt chỉ có thể “cựa mình” để tìm cách tiếp cận khách hàng, giữ ổn định thị phần vận chuyển hàng hóa. Theo số liệu thống kê của Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam, từ năm 2019 đến nay, lượng hàng hóa vận chuyển bằng đường sắt duy trì ở khoảng 5 triệu tấn/năm.

Để phát triển mạng lưới cung cấp dịch vụ giao nhận vận tải hàng hóa trải dài từ bắc đến nam, đặc biệt là phát triển tuyến liên vận giữa Việt Nam-Trung Quốc, những năm qua, Công ty cổ phần Vận tải và Thương mại đường sắt đã chủ động đầu tư vào hệ thống kho bãi và hạ tầng phương tiện (toa xe, vỏ container, xe đầu kéo, xe cẩu chuyên dụng, hệ thống thiết bị xếp dỡ hiện đại). Hiện doanh nghiệp này có thể cung cấp đầy đủ dịch vụ logistics từ khâu chuẩn bị thủ tục, tổ chức đóng gói, lưu kho, thuê phương tiện vận tải, khai báo hải quan, cho đến giao vận… Nhờ chủ động chuyển đổi nên lượng hàng vận chuyển nội địa trong những năm gần đây luôn giữ ổn định. Riêng hàng liên vận từ Việt Nam đi Trung Quốc tăng gấp năm lần so khi mở tuyến vào năm 2017, đạt trung bình 1.000 lượt container/tháng.

Chia sẻ về nỗ lực giành thị phần trong cuộc cạnh tranh khốc liệt với các loại hình vận tải khác, ông Mai Hoàng Long, Phó Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Vận tải và Thương mại đường sắt cho biết: Chúng tôi xác định trong điều kiện hạ tầng hiện nay, việc rút ngắn thời gian chạy tàu là rất khó, chỉ có thể trông chờ vào sự thay đổi thời gian tác nghiệp tại hai đầu biên giới. Bên cạnh đó, nhờ điều tiết khoa học, tàu về sẽ được ưu tiên dồn ngay vào ga dỡ hàng. Với hàng loạt nỗ lực như vậy, hiện chúng tôi đã rút ngắn được tổng thời gian vận chuyển tàu hàng liên vận từ Nam Ninh-Yên Viên còn 20 giờ thay vì 48 giờ vào năm 2017. Đây là một trong những yếu tố tạo ra lợi thế giúp đường sắt thu hút khách hàng thời gian qua.

Mới đây, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Giao thông vận tải hoàn thiện, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, cho ý kiến về Đề án chủ trương đầu tư đường sắt tốc độ cao trên trục bắc-nam. Trong đó, Thủ tướng yêu cầu làm rõ một số nội dung như: đánh giá hiệu quả giữa các tốc độ thiết kế; việc huy động nguồn vốn; phân kỳ đầu tư…

Kết nối đường sắt, thúc đẩy xuất nhập khẩu hàng hóa quốc tế

Kể từ chuyến tàu container xuyên biên giới đầu tiên chạy từ ga Nam Ninh, Quảng Tây đến ga Yên Viên, Hà Nội vào cuối năm 2017 cho đến nay, lượng hàng hóa thông quan qua tuyến đường này tăng trưởng đều qua các năm.

Trong 5 năm trở lại đây, chủng loại hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu vận chuyển trên tuyến đường sắt này đã tăng từ 116 loại và 14 loại (năm 2019) lên 364 loại và 180 loại hiện nay. Các điểm tập kết hàng hóa đã bao phủ các thành phố ở tỉnh Quảng Tây và các tỉnh lân cận của Trung Quốc, vận chuyển hàng hóa xuyên biên giới tới các nước ASEAN như Việt Nam, Lào, Thái Lan. Đặc biệt từ tháng 6/2023, ngành đường sắt Trung Quốc bắt đầu khai thác thường xuyên ba chuyến tàu/tuần thông quan nhanh Trung Quốc-Việt Nam.

Đánh giá cao những việc ngành đường sắt đã làm, Viện trưởng Chiến lược và Phát triển Giao thông vận tải (Bộ Giao thông vận tải) Khuất Việt Hùng cho rằng, việc thay đổi tư duy quản trị theo hướng hiện đại để tiếp cận và thật sự phục vụ khách hàng đã đưa đường sắt trở thành một phần quan trọng trong chuỗi logistics. Xét ở cự ly dài hơn 300 km, đường bộ không có lợi thế để so sánh với đường sắt. Ở cự ly dài hơn nữa, đường biển dù giá rẻ nhưng thời gian vận chuyển lâu, nguy cơ thất thoát lớn hơn, trung chuyển thường xa hơn... Để kết nối với Trung Quốc - thị trường xuất nhập khẩu hàng hóa lớn nhất hiện nay của Việt Nam thì đường sắt là phương thức vận tải tối ưu. Đặc biệt, tuyến đường sắt đi qua Việt Nam là con đường ngắn nhất giúp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) hướng ra biển. Đó là một thị trường khổng lồ, mở ra cơ hội lớn cho cả hai nền kinh tế cùng phát triển.

Mới đây, trong chuyến thăm cấp Nhà nước tới Trung Quốc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, hai nước đã thống nhất tiếp tục thúc đẩy, thực hiện tốt kế hoạch hợp tác kết nối giữa khuôn khổ “Hai hành lang, Một vành đai” với sáng kiến “Vành đai và Con đường”. Trong đó, Việt Nam-Trung Quốc vừa đẩy nhanh thúc đẩy “kết nối cứng” giữa hai nước về đường sắt tốc độ cao, kết cấu hạ tầng cửa khẩu, vừa nâng cấp “kết nối mềm” về hải quan thông minh, cửa khẩu thông minh. Đây là những nền tảng thuận lợi để đẩy nhanh tiến trình phát triển logistics đường sắt. Hiện hai nước đã nhất trí tập trung thúc đẩy hợp tác triển khai ba tuyến đường sắt kết nối Việt Nam-Trung Quốc (Lào

Cai - Hà Nội - Hải Phòng; Lạng Sơn - Hà Nội; Móng Cái - Hạ Long - Hải Phòng). Đây là con đường giúp Việt Nam kết nối với Trung Á, châu Âu qua Trung Quốc và ngược lại.

Để đường sắt thật sự trở thành lựa chọn ưu tiên hàng đầu trong chuỗi cung ứng logistics, ông Khuất Việt Hùng cho rằng, việc đầu tiên phải làm là tập trung phát triển hạ tầng. Bên cạnh đầu tư tuyến đường sắt mới, cần tiếp tục nâng cấp, cải tạo hệ thống đường sắt hiện hữu. Trong tương lai, khi tuyến đường sắt tốc độ cao bắc-nam hoàn thành tập trung nhiệm vụ chở khách thì tuyến cũ sẽ đảm đương nhiệm vụ chở hàng. Thứ đến, cần tiếp tục tăng cường kết nối đường sắt với đường bộ, cảng biển và các khu công nghiệp lớn. Bên cạnh những kết nối “cứng” về hạ tầng, bản thân ngành đường sắt cần tiếp tục thay đổi tư duy, nâng cao trình độ quản trị kinh doanh để tạo ra những kết nối “mềm” tiến sâu vào chuỗi logistics. Đây là thời cơ chín muồi cần những hành động quyết liệt để chuẩn bị cho kỷ nguyên phát triển của đường sắt, biến đường sắt thành động lực tăng trưởng kinh tế.

Chỉ tính riêng từ đầu năm đến ngày 31/7, tổng cộng 6.850 container tiêu chuẩn (TEU) đã được vận chuyển qua tuyến xuyên biên giới chạy từ ga Nam Ninh, Quảng Tây đến ga Yên Viên, Hà Nội, tăng gấp 16 lần so cùng kỳ năm trước, trở thành “làn nhanh” mới, góp phần thúc đẩy trao đổi kinh tế, thương mại giữa Việt Nam, Trung Quốc.

Có thể bạn quan tâm

Thời gian qua, không ít hội thảo được tổ chức, tìm giải pháp ứng dụng chế phẩm sinh học trong sản xuất nông nghiệp. Nguồn: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Phú Thọ

Chìa khóa cho phát triển xanh

Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) sinh học, còn gọi là chế phẩm sinh học, được xem là chìa khóa để phát triển nông nghiệp xanh, an toàn, bảo vệ môi trường.

Ông Nghiêm Quang Tuấn.

Chặn mối nguy từ hàng hóa có độ rủi ro cao

Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) là hàng hóa có mức độ rủi ro cao. Nhìn nhận về nguy cơ từ những vi phạm chung quanh sản phẩm này, ông Nghiêm Quang Tuấn, Phó Cục trưởng Trồng trọt và Bảo vệ thực vật - Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị: Cần xây dựng các quy định hướng dẫn và lộ trình áp dụng truy xuất nguồn gốc một cách minh bạch.

Tại Tỉnh Thái Nguyên, các cây máy điện tử tự phục vụ (Kiosk) tích hợp AI được bố trí ở hầu khắp các Trung tâm phục vụ hành chính công cấp xã. Ảnh: Hải Thắng

Xu hướng tất yếu trong mô hình quản trị mới

Trong bối cảnh cả nước đang đẩy mạnh chuyển đổi số, chính quyền cơ sở cần có thêm những công cụ đủ mạnh để xử lý khối lượng dữ liệu ngày càng lớn, phức tạp. Sử dụng hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong xử lý công việc hành chính công đã là một xu hướng tất yếu.

Chị Ngô Thị Minh Trinh (thứ ba từ trái sang), Bí thư Đảng ủy xã Ea Knuếc (tỉnh Đắk Lắk) thường xuyên trực tiếp tham gia các phiên livestream quảng bá, bán nông sản cho bà con địa phương.

Củng cố niềm tin nhờ “Dân vận khéo”

Triển khai vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, cấp xã là nơi đảm trách nhiệm vụ trực tiếp giải quyết phần lớn công việc của người dân, doanh nghiệp và xã hội. Điều đó đòi hỏi một sự thay đổi thực chất trong phương thức lãnh đạo, điều hành của đội ngũ cán bộ cơ sở.

Trong điều kiện đẩy mạnh xây dựng chính quyền số, yêu cầu nâng cao năng lực số, tư duy số và kỹ năng làm việc trong môi trường số của cán bộ cơ sở là bắt buộc.

Thiết lập nền hành chính hiện đại

Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở “ngang tầm nhiệm vụ” không chỉ là câu chuyện về số lượng cán bộ hay bằng cấp có được, mà quan trọng hơn là cách tổ chức, sử dụng và phát huy năng lực, ý thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.

GS, TS Phùng Hữu Phú, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương.

Giải quyết tận gốc bài toán thể chế, cơ chế bảo vệ cán bộ cơ sở

Kỳ vọng lớn từ chủ trương chọn năm 2026 là “Năm cán bộ cơ sở” chỉ có thể trở thành hiện thực nếu chúng ta giải quyết tận gốc bài toán thể chế, cơ chế bảo vệ cán bộ và quan trọng nhất là trả công tác cán bộ về đúng bản chất: Tìm đúng người yêu dân, vì dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Phóng viên Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với GS, TS Phùng Hữu Phú, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương chung quanh vấn đề này.

Công an xã Sín Thầu (tỉnh Điện Biên) hỗ trợ đồng bào dân tộc người Hà Nhì làm các thủ tục hành chính. Ảnh: Thành Đạt

Gia tăng năng lực tuyến đầu của quản trị công

Chưa bao giờ yêu cầu đặt ra đối với cán bộ cơ sở lớn như hiện nay. Khi chính quyền địa phương 2 cấp đi vào vận hành, cấp xã trở thành tuyến đầu của quản trị công, gánh trên vai nhiều trọng trách với phương thức hoạt động hoàn toàn mới. Việc lấy năm 2026 là “Năm cán bộ cơ sở” vì thế không chỉ là khâu đột phá mà còn là kế hoạch lâu dài. Không như trước, công chức xã bây giờ phải là người kiến tạo phát triển ở cơ sở.

Nâng bước thanh niên kiến tạo kỷ nguyên Xanh

Nâng bước thanh niên kiến tạo kỷ nguyên Xanh

Phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh lần thứ XIII và nhiều diễn đàn về thanh niên, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm luôn nhấn mạnh yêu cầu khơi dậy mạnh mẽ khát vọng cống hiến, tinh thần tiên phong và trách nhiệm của tuổi trẻ đối với những nhiệm vụ chiến lược của đất nước. Vì thế, trên hành trình hiện thực hóa mục tiêu Net Zero, thanh niên không chỉ là lực lượng tham gia, mà còn phải trở thành chủ thể của quá trình chuyển đổi. 

Trên hành trình hướng đến mục tiêu xanh, thanh niên đang từng bước trở thành chủ thể trực tiếp của phát triển.Ảnh: AGriS

THẾ HỆ NET ZERO - lực lượng quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia

Chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững không còn là những lựa chọn mang tính khuyến khích, mà đã trở thành điều kiện để mỗi quốc gia duy trì sức cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu nhiều biến động. Trong cuộc đua ấy, quốc gia nào chuẩn bị tốt hơn nguồn nhân lực cho nền kinh tế xanh sẽ có lợi thế cạnh tranh trong nhiều thập niên tới.

Với lợi thế công nghệ, thanh niên ngày nay hoàn toàn có thể tham gia hiện đại hóa nông nghiệp. Ảnh: TTXVN

Hiện thực hóa khát vọng bằng hành động

LTS - Từ những chiến dịch tình nguyện vì môi trường, các dự án khởi nghiệp xanh đến những sáng kiến công nghệ phục vụ cộng đồng, thanh niên Việt Nam đang ngày càng hiện diện rõ nét trong hành trình hiện thực hóa mục tiêu phát thải ròng bằng “0”. Đằng sau những chuyển động ấy là vai trò kết nối, dẫn dắt của tổ chức Đoàn cùng tinh thần dấn thân của một thế hệ trẻ sẵn sàng biến khát vọng cống hiến thành những hành động cụ thể. Góc nhìn từ cán bộ Đoàn và các bạn trẻ tiêu biểu cho thấy: Net Zero không còn là một mục tiêu vĩ mô, mà đang được hiện thực hóa từ chính những việc làm gần gũi mỗi ngày.

Dự án Hải Lưu Ngược đã kết hợp truyền thông văn hóa với công nghệ thực tế tăng cường để tuyên truyền bảo vệ môi trường.

Bền vững bắt đầu từ ý tưởng, thực thi

Hành trình chuyển dịch xanh của một quốc gia không thể đơm hoa kết trái, nếu chỉ dừng lại ở những tiếng hô hào hay các bản đề xuất nằm trên giấy. Phát triển bền vững đòi hỏi tư duy hành động thực chất, được bảo chứng bằng năng lực thực thi bài bản.

Những cánh đồng mía bất tận khiến Trần Nguyễn Huy Ninh ngỡ ngàng, thay đổi hoàn toàn cái nhìn về nông nghiệp hiện đại. Ảnh: AgriS

Hãy hình dung về một nền nông nghiệp rất khác!

Tôi sinh ra trong một gia đình làm nông nghiệp truyền thống tại Đà Lạt, vì vậy hình ảnh đầu tiên trong ký ức tôi về nghề nông là những buổi sáng bắt đầu từ rất sớm, những mùa vụ phụ thuộc nhiều vào thời tiết và nỗi lo thường trực về giá cả, sâu bệnh, năng suất…

Hiện nay, không ít cơ hội đang mở ra để các bạn trẻ tiếp cận những nguồn vốn cho các ý tưởng xanh. Trong ảnh: Hội thảo “Kết nối những nhà đổi mới nổi bật cho các hành động bền vững” (P4G) do Mạng lưới Thanh niên Hành động vì Khí hậu YNet Việt Nam, Đại học Công nghệ Đan Mạch (DTU) tổ chức.

Đứng chân trên bản đồ nghề nghiệp mới

Khi các doanh nghiệp phải thay đổi để đáp ứng những tiêu chuẩn xanh ngày càng khắt khe của thị trường toàn cầu, một “bản đồ nghề nghiệp” mới cũng dần hình thành. Với thanh niên, đó là cơ hội để khởi nghiệp, để đổi mới sáng tạo và trực tiếp góp phần hiện thực hóa mục tiêu Net Zero của đất nước.

Người dân quét giấy tờ gốc, xác thực bản sao điện tử tại Kiosk thông minh, chi nhánh số 1, Trung tâm Phục vụ hành chính công thành phố Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Tháo bỏ những rào cản vô hình

Mối quan hệ giữa Nhà nước và người dân là một yếu tố mang tính nền tảng đối với hành trình phát triển của mọi quốc gia. Cải cách thủ tục hành chính dựa trên các thành tựu khoa học-công nghệ, vì thế, được xem như minh chứng cho nỗ lực thay đổi từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ, đặt người dân vào vị trí trung tâm của các chính sách.

Anh Lê Minh Thiện (phải) hỗ trợ ông Nguyễn Xuân Bình làm thủ tục ủy quyền lương hưu. Ảnh: Thành Đạt

Đưa hệ thống chạm tới nhóm người yếu thế

Mới đây, Hà Nội đã hoàn thành 100% mục tiêu của chiến dịch liên ngành bảo đảm chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội không bị gián đoạn. Kết quả này có được là nhờ hoạt động của Tổ hành chính công xung kích, với những công chức không quản nắng mưa, gõ cửa từng nhà.

Người dân Ấn Độ liên kết số Aadhaar của mình với tài khoản ngân hàng để phục vụ thanh toán trực tuyến.

Hai mặt của tấm huy chương

Ở Estonia, hầu hết thủ tục từ khai sinh cho con đến kê đơn thuốc, được thực hiện trong vài cú chạm. Còn tại Ấn Độ, một cụ bà có thể bị máy định danh từ chối phát gạo trợ cấp vì dấu vân tay đã mòn. Hai hình ảnh trái ngược ấy cùng gợi mở một số vấn đề mà Việt Nam cần nắm vững khi bước vào nền hành chính số.

Dù triển khai dịch vụ công trực tuyến, người dân vẫn phải mất nhiều lượt đi lại trực tiếp mới hoàn tất khâu nộp hồ sơ.

Gỡ khó cho tuyến cơ sở

Việc đẩy mạnh chuyển đổi số và triển khai dịch vụ công trực tuyến thời gian qua đã đạt được những thành tựu bước đầu rất đáng ghi nhận. Tuy nhiên, thực tiễn vận hành tại một số địa phương sau khi sáp nhập đơn vị hành chính vẫn thể hiện sự thiếu đồng bộ về dữ liệu chuyên ngành và hạ tầng kỹ thuật.

Ông Bùi Dương, Giám đốc Chi nhánh Trung tâm Phục vụ hành chính công số 1 Thành phố Hà Nội.

Mỗi dữ liệu chỉ khai một lần, mỗi kết quả sử dụng nhiều lần

Xoay quanh nỗ lực thu hẹp khoảng cách giữa một thủ tục được đưa lên môi trường số và một thủ tục thật sự giảm được thời gian cũng như chi phí cho người dân, doanh nghiệp, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với ông Bùi Dương, Giám đốc Chi nhánh Trung tâm Phục vụ hành chính công số 1 Thành phố Hà Nội.

Chuyển đổi số chỉ thành công khi người dân cảm nhận được nền hành chính đơn giản hơn, minh bạch hơn và phục vụ tốt hơn. Ảnh: Thành Đạt

Thiết lập nền hành chính với tư duy số

Năm 2026 đánh dấu bước chuyển quan trọng của nền hành chính Việt Nam khi mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đi vào vận hành đầy đủ, đồng thời dịch vụ công trực tuyến cấp tỉnh, cấp xã được tập trung trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây không chỉ là sự thay đổi về hạ tầng công nghệ, mà còn là phép thử đối với năng lực cải cách bộ máy và tư duy quản trị.

Hạn hán kỷ lục cấp 4 tại Ninh Thuận (cũ) do chịu ảnh hưởng của đợt El Nino hồi năm 2020. Ảnh: Thành Đạt

Bước chuyển tư duy ứng phó siêu El Nino

El Nino đã hình thành và được dự báo tiếp tục mạnh lên trong nửa cuối năm 2026, tiếp nối sang đầu năm 2027, làm gia tăng nguy cơ nắng nóng kéo dài, thiếu hụt lượng mưa theo mùa, suy giảm nguồn nước, dẫn đến hạn hán và xâm nhập mặn nghiêm trọng. 

Ông Hoàng Đức Cường, Phó Cục trưởng Cục Khí tượng Thủy văn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường).

Chuyển từ “dự báo hiện tượng” sang “cảnh báo tác động”

Chỉ trong vài tháng đầu năm 2026, trạng thái đại dương và khí quyển vùng xích đạo Thái Bình Dương đã đảo chiều đột ngột sang pha El Nino. Với xác suất kéo dài xuyên qua năm 2027 lên tới trên 95%, đợt thiên tai này đang đặt ra những thách thức phi truyền thống đối với an ninh năng lượng, sản xuất nông nghiệp và an ninh nguồn nước quốc gia. Nhân Dân cuối tuần có cuộc trao đổi sâu với ông Hoàng Đức Cường, Phó Cục trưởng Cục Khí tượng Thủy văn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) về bước chuyển tư duy chiến lược: Dùng kịch bản rủi ro và dự báo tác động để bảo vệ các động lực tăng trưởng kinh tế.

Lực lượng chức năng và đoàn thể xã Đất Mới (tỉnh Cà Mau) hỗ trợ giúp dân khắc phục hậu quả sau sạt lở đất.

Thiên tai đi qua, tình người ở lại

Dải đất cực nam Tổ quốc có ba bề sóng vỗ. Bên cạnh sự trù phú của tài nguyên biển và rừng ngập mặn, nơi đây cũng là một trong những vùng đất chịu nhiều tổn thương do biến đổi khí hậu. Vào mùa mưa bão, những thiên tai dị thường liên tiếp ập đến, đe dọa trực tiếp đến cuộc sống của người dân.

Các chiến sĩ thuộc Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Ninh Thuận (cũ), nay là tỉnh Khánh Hòa, mang nước sạch đến cho người dân thôn Tà Nôi. Ảnh: Thành Đạt.

Ưu tiên bảo đảm an ninh nguồn nước

Dưới tác động của El Nino, các chuyên gia khuyến nghị: Các cấp ngành, địa phương cần ưu tiên giải pháp bảo đảm an ninh nguồn nước cho các vùng có nguy cơ thiếu nước.

Những thách thức rất lớn đang chờ đợi các vòng đàm phán khí hậu sắp diễn ra.

Thế giới sau hồi chuông báo động

Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) vừa xác nhận: El Nino đã hình thành và có khả năng gia tăng cường độ trong những tháng tới. Trong bối cảnh nhiều mô hình khí hậu dự báo hiện tượng này có thể phát triển tới mức Siêu El Nino, Liên hợp quốc đã kêu gọi các quốc gia khẩn trương triển khai các biện pháp ứng phó nhằm hạn chế thiệt hại.

Các bạn trẻ tương tác với màn hình ở kios tìm hiểu thông tin về Văn Miếu-Quốc Tử Giám. Ảnh: Đại Dương

Cần một “nhạc trưởng”

Mọi lĩnh vực của đời sống văn hóa đang chuyển động theo chiều hướng tích cực nhờ ứng dụng các công nghệ hiện đại. Trong hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam, việc triển khai Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và có hiệu lực kể từ ngày ký, ngày 2/12/2021, đã cho thấy rất rõ một thực tiễn: Công nghệ đã giúp mở rộng tầm nhìn về di sản.