Thời cơ chín muồi dồn sức đầu tư

Những bước đi vững chắc trong quá trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa, sự gia tăng về quy mô, tốc độ và chất lượng tăng trưởng, cùng những tiến bộ trong quản trị doanh nghiệp đã tạo cơ hội cho đường sắt phát huy thế mạnh của vận chuyển hàng hóa khối lượng lớn, độ chính xác cao. Đây chính là thời cơ chín muồi để đầu tư cho đường sắt… góp phần quan trọng vào việc giảm chi phí logistics, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Bốc dỡ container từ phương tiện vận chuyển ban đầu lên tàu liên vận. Nguồn: VNR
Bốc dỡ container từ phương tiện vận chuyển ban đầu lên tàu liên vận. Nguồn: VNR

Nỗ lực giành thị phần

Cũng giống như câu chuyện đã từng diễn ra ở tất cả các quốc gia đang phát triển trên thế giới, tại Việt Nam, khi quy mô nền kinh tế còn khiêm tốn, sản xuất nhỏ lẻ, manh mún… thì vai trò vận chuyển khối lượng lớn của đường sắt bị lu mờ đi trong một giai đoạn nhất định.

Gần 40 năm nay, hạ tầng đường sắt quốc gia không được đầu tư thêm mà thậm chí còn giảm so đường tàu người Pháp đã xây dựng từ năm 1881. Đặc biệt tính kết nối giữa đường sắt với các cảng biển và phương thức vận tải khác còn thấp. Phần lớn đoạn đường nhánh nối với các cảng biển trước đây đã bị tháo dỡ như: đường sắt ra cảng Cửa Lò (Nghệ An), cảng Tiên Sa (Đà Nẵng), cảng Ba Ngòi (Cam Ranh), cảng Sài Gòn (Thành phố Hồ Chí Minh). Trên mạng đường sắt quốc gia hiện chỉ còn hơn 20 vị trí có đường sắt nhánh mang tính chất nhỏ lẻ nối với các nhà máy, mỏ quặng để vận chuyển xăng dầu, mỏ đá, xi-măng…

Đặc biệt, trong tổng chiều dài 3.143 km của mạng lưới đường sắt quốc gia, chỉ có 15% đạt khổ đường ray tiêu chuẩn 1.435 mm. Đây là trở ngại lớn khi kết nối liên vận do hệ thống đường sắt của Trung Quốc và các nước châu Âu đều được thiết kế theo khổ đường ray tiêu chuẩn 1.435 mm.

Hiện toàn bộ tàu hàng từ miền nam ra đều phải dừng sang tải ở ga Đồng Đăng (Lạng Sơn) trước khi “xuất ngoại”. Bên cạnh đó, hạ tầng kho bãi, ga hàng, đường kết nối vào ga không đủ tiêu chuẩn… là những trở ngại làm phát sinh thêm chi phí logistics đường sắt. Trong bối cảnh đó, đường sắt chỉ có thể “cựa mình” để tìm cách tiếp cận khách hàng, giữ ổn định thị phần vận chuyển hàng hóa. Theo số liệu thống kê của Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam, từ năm 2019 đến nay, lượng hàng hóa vận chuyển bằng đường sắt duy trì ở khoảng 5 triệu tấn/năm.

Để phát triển mạng lưới cung cấp dịch vụ giao nhận vận tải hàng hóa trải dài từ bắc đến nam, đặc biệt là phát triển tuyến liên vận giữa Việt Nam-Trung Quốc, những năm qua, Công ty cổ phần Vận tải và Thương mại đường sắt đã chủ động đầu tư vào hệ thống kho bãi và hạ tầng phương tiện (toa xe, vỏ container, xe đầu kéo, xe cẩu chuyên dụng, hệ thống thiết bị xếp dỡ hiện đại). Hiện doanh nghiệp này có thể cung cấp đầy đủ dịch vụ logistics từ khâu chuẩn bị thủ tục, tổ chức đóng gói, lưu kho, thuê phương tiện vận tải, khai báo hải quan, cho đến giao vận… Nhờ chủ động chuyển đổi nên lượng hàng vận chuyển nội địa trong những năm gần đây luôn giữ ổn định. Riêng hàng liên vận từ Việt Nam đi Trung Quốc tăng gấp năm lần so khi mở tuyến vào năm 2017, đạt trung bình 1.000 lượt container/tháng.

Chia sẻ về nỗ lực giành thị phần trong cuộc cạnh tranh khốc liệt với các loại hình vận tải khác, ông Mai Hoàng Long, Phó Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Vận tải và Thương mại đường sắt cho biết: Chúng tôi xác định trong điều kiện hạ tầng hiện nay, việc rút ngắn thời gian chạy tàu là rất khó, chỉ có thể trông chờ vào sự thay đổi thời gian tác nghiệp tại hai đầu biên giới. Bên cạnh đó, nhờ điều tiết khoa học, tàu về sẽ được ưu tiên dồn ngay vào ga dỡ hàng. Với hàng loạt nỗ lực như vậy, hiện chúng tôi đã rút ngắn được tổng thời gian vận chuyển tàu hàng liên vận từ Nam Ninh-Yên Viên còn 20 giờ thay vì 48 giờ vào năm 2017. Đây là một trong những yếu tố tạo ra lợi thế giúp đường sắt thu hút khách hàng thời gian qua.

Mới đây, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Giao thông vận tải hoàn thiện, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, cho ý kiến về Đề án chủ trương đầu tư đường sắt tốc độ cao trên trục bắc-nam. Trong đó, Thủ tướng yêu cầu làm rõ một số nội dung như: đánh giá hiệu quả giữa các tốc độ thiết kế; việc huy động nguồn vốn; phân kỳ đầu tư…

Kết nối đường sắt, thúc đẩy xuất nhập khẩu hàng hóa quốc tế

Kể từ chuyến tàu container xuyên biên giới đầu tiên chạy từ ga Nam Ninh, Quảng Tây đến ga Yên Viên, Hà Nội vào cuối năm 2017 cho đến nay, lượng hàng hóa thông quan qua tuyến đường này tăng trưởng đều qua các năm.

Trong 5 năm trở lại đây, chủng loại hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu vận chuyển trên tuyến đường sắt này đã tăng từ 116 loại và 14 loại (năm 2019) lên 364 loại và 180 loại hiện nay. Các điểm tập kết hàng hóa đã bao phủ các thành phố ở tỉnh Quảng Tây và các tỉnh lân cận của Trung Quốc, vận chuyển hàng hóa xuyên biên giới tới các nước ASEAN như Việt Nam, Lào, Thái Lan. Đặc biệt từ tháng 6/2023, ngành đường sắt Trung Quốc bắt đầu khai thác thường xuyên ba chuyến tàu/tuần thông quan nhanh Trung Quốc-Việt Nam.

Đánh giá cao những việc ngành đường sắt đã làm, Viện trưởng Chiến lược và Phát triển Giao thông vận tải (Bộ Giao thông vận tải) Khuất Việt Hùng cho rằng, việc thay đổi tư duy quản trị theo hướng hiện đại để tiếp cận và thật sự phục vụ khách hàng đã đưa đường sắt trở thành một phần quan trọng trong chuỗi logistics. Xét ở cự ly dài hơn 300 km, đường bộ không có lợi thế để so sánh với đường sắt. Ở cự ly dài hơn nữa, đường biển dù giá rẻ nhưng thời gian vận chuyển lâu, nguy cơ thất thoát lớn hơn, trung chuyển thường xa hơn... Để kết nối với Trung Quốc - thị trường xuất nhập khẩu hàng hóa lớn nhất hiện nay của Việt Nam thì đường sắt là phương thức vận tải tối ưu. Đặc biệt, tuyến đường sắt đi qua Việt Nam là con đường ngắn nhất giúp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) hướng ra biển. Đó là một thị trường khổng lồ, mở ra cơ hội lớn cho cả hai nền kinh tế cùng phát triển.

Mới đây, trong chuyến thăm cấp Nhà nước tới Trung Quốc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, hai nước đã thống nhất tiếp tục thúc đẩy, thực hiện tốt kế hoạch hợp tác kết nối giữa khuôn khổ “Hai hành lang, Một vành đai” với sáng kiến “Vành đai và Con đường”. Trong đó, Việt Nam-Trung Quốc vừa đẩy nhanh thúc đẩy “kết nối cứng” giữa hai nước về đường sắt tốc độ cao, kết cấu hạ tầng cửa khẩu, vừa nâng cấp “kết nối mềm” về hải quan thông minh, cửa khẩu thông minh. Đây là những nền tảng thuận lợi để đẩy nhanh tiến trình phát triển logistics đường sắt. Hiện hai nước đã nhất trí tập trung thúc đẩy hợp tác triển khai ba tuyến đường sắt kết nối Việt Nam-Trung Quốc (Lào

Cai - Hà Nội - Hải Phòng; Lạng Sơn - Hà Nội; Móng Cái - Hạ Long - Hải Phòng). Đây là con đường giúp Việt Nam kết nối với Trung Á, châu Âu qua Trung Quốc và ngược lại.

Để đường sắt thật sự trở thành lựa chọn ưu tiên hàng đầu trong chuỗi cung ứng logistics, ông Khuất Việt Hùng cho rằng, việc đầu tiên phải làm là tập trung phát triển hạ tầng. Bên cạnh đầu tư tuyến đường sắt mới, cần tiếp tục nâng cấp, cải tạo hệ thống đường sắt hiện hữu. Trong tương lai, khi tuyến đường sắt tốc độ cao bắc-nam hoàn thành tập trung nhiệm vụ chở khách thì tuyến cũ sẽ đảm đương nhiệm vụ chở hàng. Thứ đến, cần tiếp tục tăng cường kết nối đường sắt với đường bộ, cảng biển và các khu công nghiệp lớn. Bên cạnh những kết nối “cứng” về hạ tầng, bản thân ngành đường sắt cần tiếp tục thay đổi tư duy, nâng cao trình độ quản trị kinh doanh để tạo ra những kết nối “mềm” tiến sâu vào chuỗi logistics. Đây là thời cơ chín muồi cần những hành động quyết liệt để chuẩn bị cho kỷ nguyên phát triển của đường sắt, biến đường sắt thành động lực tăng trưởng kinh tế.

Chỉ tính riêng từ đầu năm đến ngày 31/7, tổng cộng 6.850 container tiêu chuẩn (TEU) đã được vận chuyển qua tuyến xuyên biên giới chạy từ ga Nam Ninh, Quảng Tây đến ga Yên Viên, Hà Nội, tăng gấp 16 lần so cùng kỳ năm trước, trở thành “làn nhanh” mới, góp phần thúc đẩy trao đổi kinh tế, thương mại giữa Việt Nam, Trung Quốc.

Có thể bạn quan tâm

Cán bộ kỹ thuật lấy mẫu cho quá trình nghiên cứu chiết tách. (Nguồn: Viện Công nghệ xạ hiếm)

Nền tảng của công nghiệp xanh

Trong bối cảnh toàn cầu hóa cũng như cam kết lịch sử đưa mức phát thải ròng về “0”, đất hiếm nổi lên như một nhóm vật liệu chiến lược mang tính quyết định, không thể thay thế.

Ông Trần Bình Trọng, Cục trưởng Địa chất và Khoáng sản Việt Nam - Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Chế biến sâu và nâng tầm công nghệ

Chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần, ông Trần Bình Trọng, Cục trưởng Địa chất và Khoáng sản Việt Nam - Bộ Nông nghiệp và Môi trường, chia sẻ: Trong quá trình cấp phép đầu tư, khai thác đất hiếm phải bảo đảm không chỉ dừng ở khai thác thô mà luôn gắn với chế biến sâu và chuyển giao, nâng tầm công nghệ.

Nếu không được kiểm soát, gánh nặng môi trường do khai thác khoáng sản có thể đè nặng lên vai của cộng đồng dân cư. (Ảnh Hoàng Tuân)

Gia cố “màng lọc” bảo vệ môi trường

Việc tồn tại nhiều điểm khai thác khoáng sản thiếu bền vững, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi sinh đòi hỏi công tác quản lý phải xem xét nghiêm túc, từ đó tìm ra giải pháp phù hợp trong khai thác, tách chế đất hiếm.

Ông Phạm Hùng Cát (trái) chia sẻ nỗi lo lắng khi môi trường bị đe dọa. (Ảnh NAM NGUYỄN)

Bài toán lãng phí kép từ một vụ vi phạm

Từng là một công trường khai thác sôi động, nhưng hiện giờ, khu mỏ đất hiếm thuộc thôn Yên Sơn, xã Xuân Ái (tỉnh Lào Cai) trở nên im lìm. Nhà xưởng bị bỏ hoang, máy móc hoen gỉ, tồn tại nguy cơ đe dọa môi trường nước trong khu vực.

Một dự án khai thác đất hiếm tại bang Alaska (Mỹ).

Điều quan trọng nhất không phải là trữ lượng

Sở hữu tiềm năng đất hiếm đứng thứ hai thế giới, Việt Nam đang nắm trong tay một lợi thế địa kinh tế quan trọng. Tuy nhiên, khoảng cách từ trữ lượng dưới lòng đất đến một ngành công nghiệp mang lại giá trị thực tiễn là một chặng đường dài.

Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên và ông Kim Jung Kwan, Bộ trưởng Thương mại, Công nghiệp và Năng lượng Hàn Quốc (MOTIE).

Tận dụng lợi thế chuỗi cung ứng

Với tiềm năng sẵn có, Việt Nam không chỉ cần khai thác đất hiếm một cách thông minh, mà còn cần xây dựng chuỗi cung ứng minh bạch, tận dụng được các lợi thế về tài nguyên.

Mô hình dự án đường sắt tốc độ cao Hà Nội- Quảng Ninh, với tổng mức đầu tư hơn 5,6 tỷ USD vừa chính thức khởi công tại Quảng Ninh. Ảnh có sử dụng đồ họa AI

ĐỘT PHÁ VỀ KẾT NỐI HẠ TẦNG CHIẾN LƯỢC

Trong bối cảnh thế giới đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông bền vững và hiện đại, đường sắt tốc độ cao không chỉ là biểu tượng của năng lực công nghệ, khả năng tổ chức mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược quốc gia.

Trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, nhiều nghệ sĩ trẻ cùng ekip đã chủ động có các đàm phán đa tầng trong chuyển quyền sử dụng có điều kiện, nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi của mình. Ảnh minh họa: KHIẾU MINH

Lấp đầy những khoảng trống ý thức

Bên cạnh Luật Sở hữu trí tuệ, được ban hành lần đầu vào cuối năm 2005, có hiệu lực từ ngày 1/7/2006 và đến nay, đã qua nhiều lần sửa đổi để phù hợp với diễn tiến của xã hội, Việt Nam hiện có một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật khá đầy đủ liên quan việc bảo vệ quyền tác giả và các quyền liên quan quyền tác giả.

Khoảng cách công nghệ giữa đường sắt hiện hữu và đường sắt tốc độ cao là rất lớn, vì vậy Việt Nam cần chuẩn bị tốt việc đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu tiến tới làm chủ công nghệ. Nguồn VNR

Định hình mạng lưới vận tải quốc gia

Trong bối cảnh thế giới đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông bền vững và hiện đại, đường sắt tốc độ cao không chỉ là biểu tượng của năng lực công nghệ, khả năng tổ chức và tầm nhìn chiến lược quốc gia.

Lớp học nâng cao trình độ về đường sắt tốc độ cao ngành Thi công và Bảo dưỡng công trình.

Mở rộng hợp tác trong đào tạo nguồn nhân lực mới

Một nhiệm vụ mang tính chiến lược, đóng vai trò then chốt trong xây dựng và vận hành đường sắt tốc độ cao, là phải đi trước một bước để đào tạo nguồn nhân lực có đủ năng lực, trình độ tiếp nhận, vận hành, khai thác, bảo trì và từng bước làm chủ các công nghệ tiên tiến, hiện đại đang được áp dụng với đường sắt tốc độ cao.

Ông Nguyễn Quốc Vượng, Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Đường sắt Việt Nam (VNR).

Bài toán về tầm nhìn và khả năng làm chủ công nghệ

Được xác định là lĩnh vực ưu tiên chiến lược, hợp tác phát triển đường sắt, nhất là đường sắt tốc độ cao, của Việt Nam không chỉ là câu chuyện của một công trình hạ tầng, mà là bài toán lớn đặt ra yêu cầu làm chủ công nghệ, đào tạo nhân lực và năng lực nội sinh.

Hành khách xếp hàng lên chuyến tàu G8389 tại nhà ga ở thành phố Nam Kinh (Trung Quốc). (Ảnh Tân Hoa xã)

Kinh nghiệm của Trung Quốc - Quốc gia “đi sau, về trước”

Không chỉ hiện thực hóa được mục tiêu “đi sau, về trước”, nhờ có sự đầu tư bài bản, mà hiện Trung Quốc còn đang “dẫn đầu thế giới” trong phát triển hệ thống đường sắt tốc độ cao. Đây là thành công góp phần quan trọng vào những kỳ tích tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội ở quốc gia này.

Khi Luật Sở hữu trí tuệ và quyền hình ảnh của người sáng tạo được thực thi đầy đủ, các tác giả làm việc trong nhiều lĩnh vực nghệ thuật mới ở Việt Nam sẽ tích cực chủ động tham gia đăng ký bản quyền tác giả hơn nữa. (Trong ảnh: Vở múa đương đại Nón của biên đạo Vũ Ngọc Khải. Ảnh Đại Ngô)

Chuyển dịch tư duy về sở hữu trí tuệ

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam (Nghị quyết 80) đặt mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp 7% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) vào năm 2030 và trở thành trụ cột kinh tế với 9% GDP vào năm 2045.

Bà Phạm Thị Kim Oanh.

Đồng hành để hỗ trợ giới sáng tạo một cách tốt nhất

Nhân Dân cuối tuần có cuộc trao đổi với bà Phạm Thị Kim Oanh, Phó Cục trưởng Bản quyền tác giả, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, về những nỗ lực của cơ quan quản lý nhà nước trong việc đồng hành, khuyến khích các tổ chức, cá nhân chủ động nâng cao hơn nữa ý thức về bảo vệ quyền tác giả và các quyền liên quan quyền tác giả.

Đồi chè Mộc Châu. (Ảnh Huỳnh Văn Truyền)

Chủ động mở những lối đi

Nhiếp ảnh là một trong những lĩnh vực sáng tác mà việc vi phạm bản quyền xảy ra khá thường xuyên, ở nhiều phương thức, cấp độ khác nhau.

Ngành công nghệ cần đặt an toàn của trẻ em vào khâu thiết kế sản phẩm, thay vì coi đó là phần việc xử lý sau cùng. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Đồng hành để bảo vệ

Internet từ lâu đã trở thành một phần tất yếu của cuộc sống, kể cả với trẻ em. Tuy nhiên, mức độ hiện diện cao ấy không đồng nghĩa với việc thế hệ trẻ có đủ năng lực để tự bảo vệ mình.

Trung ương Đoàn luôn chủ động tạo ra các không gian cởi mở để kịp thời lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của trẻ em.

Lắng nghe đúng, hành động trúng

Trong thời đại kỷ nguyên số, không gian mạng không còn là một công cụ hỗ trợ, mà đã trở thành một môi trường sống song hành với đời sống của trẻ em.

Chiến dịch Không một mình, nằm trong chuỗi các hành động nhằm thực hiện Công ước Hà Nội, hướng tới đồng hành với giới trẻ trong phòng, chống bắt cóc online. Ảnh: Hiệp hội An ninh mạng

Nhật ký một ngày online

LTS - Không phải những con số thống kê khô khan, cũng không phải góc nhìn của người lớn, ký sự này được thực hiện bởi chính những “người trong cuộc” - nhóm phóng viên nhí của Tòa soạn Tiếng Xanh (hoạt động dưới sự hướng dẫn của UNICEF Việt Nam).

Thay vì ngăn chặn, Việt Nam đang hướng đến những giải pháp thân thiện, cùng đồng hành với trẻ trên không gian mạng. Trong ảnh: Trích từ cẩm nang “Tự tin chinh phục Vương quốc Social” của Toà soạn Tiếng Xanh.

Từ chính sách đến từng gia đình

Không gian mạng hôm nay đã là một phần của tuổi thơ Việt Nam. Vì thế, bài toán không còn là “có nên cho trẻ dùng mạng xã hội hay không”, mà là làm sao để trẻ em Việt Nam được lớn lên trong một môi trường số an toàn hơn, lành mạnh hơn và công bằng hơn.

Lần đầu tiên trong lịch sử quy hoạch đô thị Việt Nam, Thủ đô Hà Nội được Trung ương giao quyền lập đồ án Quy hoạch, phù hợp việc tổ chức lại địa giới hành chính, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp. Ảnh Thành Đạt

Thách thức trong bước chuyển tư duy

Lời tòa soạn - Theo Quy hoạch Tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm, thành phố sẽ phát triển với cấu trúc đô thị “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm”, điểm nhấn xuyên suốt là văn hiến, văn minh, hiện đại, hạnh phúc, trong đó yếu tố “hạnh phúc” được đặt ở vị trí trung tâm.

Hà Nội định hình cấu trúc đô thị theo không gian phát triển mở “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm”. (Ảnh KHIẾU MINH)

Không để quy hoạch chỉ dừng ở bản vẽ

Quy hoạch Tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm (Quy hoạch) đã được Hội đồng nhân dân thành phố thông qua. Quy hoạch cho thấy tầm chiến lược, có các phân kỳ, giai đoạn thực hiện, nhưng cũng cần giải quyết những khó khăn, thách thức để đi vào đời sống.