Tháo gỡ nút thắt vốn và đầu tư

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt, biến động thị trường khó đoán định, đòi hỏi từ người tiêu dùng cũng cao hơn, nông nghiệp Việt Nam đứng trước yêu cầu phải chuyển dịch xanh, nâng cao giá trị.

Chuyển dịch xanh đang mở ra cơ hội để nông sản Việt Nam tái định vị trên thị trường quốc tế. (Trong ảnh: Trồng sầu riêng cho năng suất cao ở xã Trường Long, TP Cần Thơ). (Ảnh Phương Bằng)
Chuyển dịch xanh đang mở ra cơ hội để nông sản Việt Nam tái định vị trên thị trường quốc tế. (Trong ảnh: Trồng sầu riêng cho năng suất cao ở xã Trường Long, TP Cần Thơ). (Ảnh Phương Bằng)

Tăng trưởng xanh không chỉ là lựa chọn, mà là xu thế tất yếu để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, bảo đảm sinh kế cho nông dân và nền kinh tế phát triển bền vững.

Triển vọng từ chuyển đổi chiến lược

Nông nghiệp Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt mang tính lịch sử. Từ một nền sản xuất thiên về sản lượng, phụ thuộc vào tài nguyên và lao động giá rẻ, nông nghiệp buộc phải chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên chất lượng, giá trị gia tăng và tính bền vững. Đó không chỉ là yêu cầu nội tại, mà còn là áp lực từ thị trường quốc tế khi các tiêu chuẩn xanh, sạch, truy xuất nguồn gốc ngày càng trở nên khắt khe.

Nhìn từ thực tiễn, triển vọng của nông nghiệp xanh đang mở ra phía trước. Việt Nam có lợi thế lớn về điều kiện tự nhiên, đa dạng sinh học và hệ sinh thái nông nghiệp phong phú. Những vùng sản xuất trọng điểm như Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên hay Đồng bằng sông Hồng đều có thể trở thành các trung tâm sản xuất nông nghiệp xanh nếu được tổ chức lại theo hướng hiện đại và bền vững.

Đặc biệt, xu hướng tiêu dùng toàn cầu đang chuyển dịch mạnh sang các sản phẩm thân thiện môi trường, giảm phát thải và có trách nhiệm xã hội. Đây chính là “cánh cửa cơ hội” để nông sản Việt Nam tái định vị trên thị trường quốc tế. Những ngành hàng chủ lực như lúa gạo, cà-phê, trái cây, thủy sản nếu đáp ứng được các tiêu chuẩn xanh có thể gia tăng đáng kể giá trị xuất khẩu, thay vì chỉ cạnh tranh bằng giá thấp như trước đây.

Không chỉ dừng lại ở thị trường xuất khẩu, nông nghiệp xanh còn góp phần nâng cao chất lượng sống. Người tiêu dùng Việt Nam ngày càng quan tâm đến an toàn thực phẩm, sức khỏe, môi trường và trách nhiệm xã hội. Điều này tạo ra một thị trường nội địa đủ lớn để thúc đẩy sản xuất xanh phát triển bền vững.

Ở góc độ vĩ mô, chuyển đổi xanh trong nông nghiệp còn là một trong những trụ cột quan trọng để Việt Nam thực hiện cam kết giảm phát thải ròng bằng “0”. Với tỷ trọng phát thải đáng kể từ hoạt động sản xuất nông nghiệp. Việc thay đổi phương thức canh tác, sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn và ứng dụng công nghệ mới sẽ tạo ra những tác động tích cực lâu dài.

Định hướng phát triển nền nông nghiệp bền vững, tăng trưởng xanh cần tiếp cận vùng, theo chuỗi giá trị nông sản, phát huy đổi mới sáng tạo và những ưu thế của kinh tế số (digital economy), kinh tế chia sẻ (sharing economy). Chuyển đổi mô hình phát triển vùng từ phân tán, nhỏ lẻ sang tập trung; phát triển cụm ngành kinh tế nông nghiệp gắn kết với các khu vực đô thị hóa, công nghiệp hóa tạo ra sự phát triển đột phá. Sản xuất nông nghiệp có trách nhiệm, hiện đại, hiệu quả và bền vững; phát triển nông nghiệp sinh thái, hữu cơ, tuần hoàn, phát thải carbon thấp, thân thiện với môi trường.

Tuy nhiên, triển vọng chỉ có thể trở thành hiện thực nếu có những thay đổi căn bản về cách thức đầu tư và tổ chức lại nguồn lực phát triển. Việc chuyển đổi sang phương thức kinh doanh nông nghiệp của vùng Đồng bằng sông Cửu Long và làm nông tử tế đòi hỏi phải nghiên cứu, kết nối thực tiễn, ứng dụng mạnh mẽ hơn nữa khoa học công nghệ trong việc xây dựng chuỗi liên kết, chọn các tiêu chuẩn phù hợp, xây dựng hệ thống kiểm soát chất lượng tin cậy làm công cụ, xây dựng các tác nhân nòng cốt tham gia chuỗi và hướng đến cộng đồng.

Nghịch lý về tỷ trọng, cơ cấu đầu tư vào nông nghiệp

Một trong những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay của nông nghiệp xanh chính là câu chuyện nguồn vốn. Mặc dù nông nghiệp đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế và sinh kế của hàng chục triệu người dân, nhưng tỷ trọng đầu tư cho lĩnh vực này vẫn còn khiêm tốn so với công nghiệp và dịch vụ.

Cơ cấu đầu tư công cho nông nghiệp vẫn nặng về hạ tầng “cứng”, nhất là thủy lợi. Đây là những lĩnh vực cần thiết, nhưng chưa đủ để tạo ra bước đột phá trong bối cảnh mới. Trong khi đó, các yếu tố mang tính quyết định cho chuyển đổi xanh như khoa học công nghệ, nhất là công nghệ lõi như trí tuệ nhân tạo, IoT, Big data, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo hay phát triển chuỗi giá trị ngày càng được quan tâm, nhưng chưa được đầu tư tương xứng.

Thực tế cho thấy, nhiều mô hình nông nghiệp bền vững, nhất là sản xuất lúa phát thải thấp, đang gặp khó khăn trong tiếp cận tín dụng. Các ngân hàng thương mại vẫn còn e ngại do rủi ro cao, trong khi các cơ chế tín dụng xanh chưa thật sự phát huy hiệu quả. Điều này dẫn đến tình trạng “khát vốn” ngay trong những lĩnh vực được coi là ưu tiên phát triển.

Một bất cập khác là thiếu các công cụ và tiêu chuẩn đo lường, kiểm chứng mức độ “xanh” trong sản xuất nông nghiệp. Việc thiếu dữ liệu minh bạch và hệ thống kiểm kê phát thải khiến nhiều doanh nghiệp và hợp tác xã khó tiếp cận các nguồn tài chính quốc tế, nhất là tín chỉ carbon - một thị trường đầy tiềm năng nhưng còn khá mới mẻ ở Việt Nam.

Bên cạnh đó, sự liên kết giữa các chủ thể trong chuỗi giá trị nông nghiệp vẫn còn lỏng lẻo. Đầu tư công chưa thật sự đóng vai trò “vốn mồi” để dẫn dắt và kích hoạt nguồn lực tư nhân. Trong khi đó, doanh nghiệp - lực lượng có khả năng tổ chức sản xuất theo quy mô lớn và ứng dụng công nghệ - lại chưa được tạo đủ động lực để tham gia sâu vào quá trình chuyển đổi xanh.

Có thể nói, nút thắt không chỉ nằm ở quy mô vốn, mà quan trọng hơn là ở cách thức phân bổ và sử dụng vốn. Thiếu vốn, dẫn đến nghẽn mạch đầu tư cho cơ sở hạ tầng, khoa học công nghệ, chuyển đổi số cho phát triển nông nghiệp. Nếu không thay đổi, rất khó để nông nghiệp Việt Nam bứt phá trong giai đoạn kỷ nguyên vươn mình.

Khơi thông động lực cho kỷ nguyên xanh

Để đưa nông nghiệp Việt Nam bước vào kỷ nguyên xanh, điều cốt lõi là phải tái định hình vai trò của Nhà nước, doanh nghiệp và người nông dân trong một hệ sinh thái phát triển mới.

Trước hết, đầu tư công cần được định hướng lại theo hướng “đầu tư cho đổi mới”, thay vì chỉ tập trung vào “đầu tư cho sản xuất”. Điều này đòi hỏi phải tăng tỷ trọng đầu tư cho khoa học công nghệ, chuyển đổi số, nghiên cứu và phát triển giống cây trồng, vật nuôi thích ứng với biến đổi khí hậu. Đồng thời, cần xây dựng hệ thống dữ liệu nông nghiệp hiện đại, phục vụ việc quản lý, truy xuất nguồn gốc và đo lường phát thải.

Cần hoàn thiện khung thể chế cho tài chính xanh trong nông nghiệp. Cần có các chính sách khuyến khích mạnh mẽ hơn để phát triển tín dụng xanh, quỹ đầu tư xanh và thị trường tín chỉ carbon. Nhà nước có thể đóng vai trò bảo lãnh hoặc chia sẻ rủi ro để thu hút các tổ chức tài chính tham gia lĩnh vực này.

Song song đó, cần thúc đẩy mạnh mẽ mô hình hợp tác công-tư (PPP) trong nông nghiệp. Thông qua PPP, đầu tư công sẽ đóng vai trò “kích hoạt”, tạo điều kiện để doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, từ sản xuất đến chế biến và tiêu thụ. Đây cũng là cách hiệu quả để huy động nguồn lực xã hội cho phát triển nông nghiệp xanh.

Đối với doanh nghiệp, cần tạo môi trường thuận lợi để họ trở thành “đầu tàu” trong chuyển đổi xanh. Điều này bao gồm cải cách thủ tục hành chính, bảo đảm quyền tiếp cận đất đai, tín dụng và thông tin thị trường. Đồng thời, cần có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu, ứng dụng công nghệ và xây dựng thương hiệu nông sản.

Các hợp tác xã trong nông nghiệp, nông thôn và người nông dân - chủ thể trung tâm của quá trình này - cần được hỗ trợ để nâng cao năng lực sản xuất và thích ứng với những yêu cầu mới. Việc đào tạo, chuyển giao kỹ thuật, tổ chức lại sản xuất theo mô hình hợp tác xã, liên kết chuỗi sẽ giúp các hợp tác xã, nông dân không bị “bỏ lại phía sau” trong quá trình chuyển đổi.

Từ thực tiễn Đồng bằng sông Cửu Long và các vùng nông nghiệp khác của quốc gia, có thể thấy rõ vai trò của việc tổ chức lại sản xuất theo hướng “thuận thiên”. Những mô hình canh tác lúa-tôm, lúa chất lượng cao hay sản xuất giảm phát thải không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế, mà còn góp phần bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Đây là những kinh nghiệm quý cần được nhân rộng trên phạm vi cả nước.

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, GPS, ứng dụng viễn thám, điện toán đám mây, mạng internet tích hợp, smartphone, thương mại điện tử của một quốc gia đang phát triển như Việt Nam đã cung cấp nền tảng công nghệ để phát triển mạnh mẽ hơn nền nông nghiệp số đang bước đường khai phá. Một hệ sinh thái, hạ tầng kỹ thuật cho kinh tế số, nông nghiệp số đang được hình thành, giúp chắp cánh cho những ý tưởng kinh doanh mới và ứng dụng vượt trội và phát triển xanh, bền vững.

Nông nghiệp Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để tái định vị mình trong chuỗi giá trị toàn cầu. Nhưng cơ hội chỉ trở thành hiện thực nếu chúng ta có đủ quyết tâm và hành động kịp thời. Khi Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, doanh nghiệp là động lực và nông dân là trung tâm hưởng lợi, một nền nông nghiệp xanh, hiện đại và thịnh vượng hoàn toàn nằm trong tầm tay ■

Chuyển đổi xanh không chỉ là câu chuyện của riêng ngành nông nghiệp, mà cần sự phối hợp đồng bộ giữa các ngành, các cấp và toàn xã hội. Từ quy hoạch phát triển vùng, chính sách thương mại đến giáo dục và truyền thông, tất cả đều phải hướng tới mục tiêu chung là xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại, bền vững và có trách nhiệm.

Có thể bạn quan tâm

Cầu Trần Hưng Đạo (Hà Nội), công trình hạ tầng trọng điểm, được đẩy nhanh tiến độ từ các chính sách khơi thông nguồn lực đất đai theo Luật Đất đai năm 2024. Ảnh: Thành Đạt

Thể chế hóa chủ trương, mở đường cho phát triển

Trong giai đoạn phát triển mới, việc sửa đổi Luật Đất đai năm 2024 hướng tới thể chế hóa và hiện thực hóa tinh thần xuyên suốt trong Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.

Dự án Luật Đất đai (sửa đổi) được kỳ vọng sẽ khơi thông nguồn lực đất đai và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, tổ chức, doanh nghiệp. Ảnh: Thành Đạt

Định vị vai trò mới trong phát triển đất nước

Khi mục tiêu phát triển thay đổi, từ vai trò đến tư duy quản lý, cách thức sử dụng đất đai cũng phải thay đổi. Đây được xác định là nhiệm vụ quan trọng, đã được Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan chỉ rõ.

Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức lấy ý kiến góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi). Ảnh: Hữu Hùng

Hoàn thiện cơ chế, tháo gỡ triệt để vướng mắc phát sinh

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của cơ quan chịu trách nhiệm soạn thảo, cơ quan thẩm định, các chuyên gia, luật sư đối với nội dung dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), nhằm đẩy nhanh tiến trình thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng, tạo môi trường đầu tư minh bạch hơn, dư địa khai thác hiệu quả hơn nguồn lực đất đai phục vụ phát triển kinh tế-xã hội và tiếp tục tháo gỡ triệt để vướng mắc phát sinh trong quá trình thực thi.

Cơ sở dữ liệu đất đai và cơ sở dữ liệu công chứng có chức năng khác nhau nhưng bổ trợ cho nhau.

Bảo đảm an toàn pháp lý trong giao dịch đất đai

Nội dung Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã cơ bản thể chế hóa đầy đủ các chủ trương lớn của Đảng về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, vẫn có một số vấn đề cần tiếp tục được rà soát, làm rõ, nhất là trong quy trình giao dịch đất đai.

Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã có nhiều điểm mới về hình thức bồi thường, chất lượng và địa điểm tái định cư cho người bị thu hồi đất. Trong ảnh: Người dân bị thu hồi đất phục vụ mở đường ở Đê La Thành về tái định cư tại Khu CT3 Nghĩa Đô, TP Hà Nội. Ảnh: HIẾU MINH

Minh bạch giá đất và phương án phục hồi sinh kế

Đã có nhiều điểm mới về hình thức bồi thường, chất lượng và địa điểm tái định cư, suất tái định cư tối thiểu cũng như cơ chế xác định giá bồi thường. Song, để bảo đảm tốt hơn quyền lợi của cả chủ đầu tư lẫn người có đất bị thu hồi và hạn chế vướng mắc trong giải phóng mặt bằng, Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) vẫn cần tiếp tục hoàn thiện một số quy định về vấn đề minh bạch giá đất và phương án phục hồi sinh kế.

Không gian trải nghiệm sáng tạo tại Trường Phổ thông dân tộc nội trú Trung học phổ thông tỉnh Lai Châu khuyến khích học sinh làm quen, thực hành kỹ thuật tạo hình truyền thống của các dân tộc tại địa phương. (Trong ảnh: Các em học sinh trải nghiệm thực hành kỹ thuật vẽ sáp ong của đồng bào Mông hoa). Ảnh: Vũ Công

Hoàn thiện hệ sinh thái giáo dục nghệ thuật hiện đại

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam xác định phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Một trong những mục tiêu đến năm 2030 mà Nghị quyết đề ra là 100% học sinh, học viên, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân được tiếp cận, tham gia hiệu quả, thường xuyên các hoạt động nghệ thuật, giáo dục di sản văn hóa.

Học phần Trải nghiệm hoạt động mỹ thuật của sinh viên Khoa Sư phạm Mỹ thuật, Trường đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương hiện được tích hợp đa dạng các hình thức đánh giá, khuyến khích sự sáng tạo của sinh viên. Nguồn ảnh: NUAE-Khoa Sư phạm Mỹ thuật.

Thúc đẩy tích hợp và tiếp cận liên ngành

Việc các cơ sở giáo dục đẩy mạnh chuyển đổi số, khai thác học liệu số, tăng cường thực hành, trải nghiệm đồng thời phối hợp với các tổ chức, cá nhân triển khai đa dạng các hoạt động giáo dục nghệ thuật trong và ngoài nhà trường, khuyến khích học sinh sáng tạo, cảm thụ và phát huy giá trị văn hóa truyền thống thể hiện rõ tinh thần đổi mới giáo dục nghệ thuật ở nước ta.

Giảng viên và sinh viên Khoa Nghệ thuật, Trường đại học Sư phạm Hà Nội tham gia Chương trình văn nghệ chào mừng “80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam”, tháng 1/2026.

Dịch chuyển phương pháp, chú trọng nguồn lực

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số nhà nghiên cứu, giảng viên, giáo viên bậc phổ thông về cách thức đổi mới giáo dục nghệ thuật, mức độ ứng dụng công nghệ trong giảng dạy và học tập, giúp cả thầy và trò vừa phát huy được tinh thần sáng tạo, nâng cao nhận thức thẩm mỹ, vừa góp phần bảo tồn, nhân lên giá trị nghệ thuật truyền thống của dân tộc.

Học sinh Trường tiểu học Phương Mai, Thành phố Hà Nội, tham dự Chương trình giao lưu Giáo dục kỹ năng tham gia giao thông an toàn cấp tiểu học năm học 2025-2026.

Để học sinh được sống trong âm nhạc

Giờ đây, chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi học sinh có thể tiếp cận vô số ca khúc, thể loại và xu hướng âm nhạc của Việt Nam cũng như thế giới. Nhưng nghe nhiều không đồng nghĩa với biết nghe; tiếp xúc âm nhạc thường xuyên cũng chưa chắc tạo nên năng lực cảm thụ âm nhạc. Bởi vậy, bên cạnh việc trang bị kiến thức, tăng cường các hoạt động trải nghiệm cần được xem là một nội dung quan trọng của giáo dục âm nhạc trong nhà trường.

Học sinh Trường THCS Lê Ngọc Hân tham gia triển lãm tranh và giao lưu với các bác, các chú thương binh tại Trung tâm Điều dưỡng thương binh ở tỉnh Ninh Bình. Ảnh: Lê Ngọc

Xây dựng môi trường khuyến khích sự sáng tạo

Giáo dục nghệ thuật ở bậc phổ thông hiện nay là con đường quan trọng để phát triển cảm xúc, khả năng quan sát, tư duy sáng tạo và phát triển nhân cách của học sinh. Trong đó, môn Mĩ thuật góp phần giúp học sinh biết cảm thụ cái đẹp, biết biểu đạt suy nghĩ và cảm xúc của mình, biết sáng tạo và làm cho môi trường sống chung quanh trở nên đẹp hơn.

Cấu trúc mô hình SMART - MUSIC, một phương pháp giáo dục âm nhạc có thể phù hợp với học sinh có nhu cầu giáo dục đặc biệt.

Ứng dụng công nghệ trong giáo dục đặc biệt

Việc ứng dụng công nghệ số trong dạy học âm nhạc cho học sinh có nhu cầu giáo dục đặc biệt mở ra khả năng tăng cường tính trực quan, linh hoạt và cá nhân hóa quá trình học tập. Những đặc điểm khác biệt về khả năng chú ý, giao tiếp, ghi nhớ và tốc độ tiếp thu của học sinh tự kỷ hoặc khuyết tật trí tuệ đặt ra yêu cầu lựa chọn nội dung, phương pháp và học liệu phù hợp với từng cá nhân.

Xây dựng trường học hạnh phúc không chỉ là một khẩu hiệu. Trong ảnh: Cô và trò Trường THPT Việt Đức. Ảnh: Thành Đạt

Đổi mới bắt đầu từ người thầy

Năm học 2026-2027 được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt kỳ vọng trở thành một năm học “hoàn toàn khác”, với những chuyển biến thực chất trong chất lượng giáo dục và đời sống nhà giáo.

Phát triển nghề nghiệp thông qua các lớp đào tạo, tập huấn hiệu quả sẽ giúp giáo viên vững bước trên hành trình nghề nghiệp. Trong ảnh: Lớp đào tạo kỹ năng đặt câu hỏi trong môn Ngữ văn tại Trường THCS Nguyễn Du (Hà Nội).

Mọi cải cách đều phải xuất phát từ lớp học

Một chương trình có thể được thiết kế rất hiện đại, một nền tảng số có thể được giới thiệu với nhiều tính năng, một chủ trương có thể đúng về tầm nhìn, nhưng khi bước qua cánh cửa lớp học, chất lượng của đổi mới vẫn phụ thuộc vào người giáo viên. Liệu họ có hiểu chủ trương, tin vào ý nghĩa của nó, có đủ năng lực, thời gian và quyền chủ động để hiện thực hóa nó hay không?

TS Vũ Minh Đức - Cục trưởng Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo).

Hành lang pháp lý bảo vệ người thầy

Năm học 2026-2027 đánh dấu một cột mốc đặc biệt, khi Luật Nhà giáo chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2026. Lần đầu trong lịch sử giáo dục Việt Nam, vị thế, quyền lợi và trách nhiệm của người thầy được thể chế hóa bằng một đạo luật riêng. Để làm rõ những chính sách mới mang tính đột phá - từ tiền lương, phụ cấp, tuyển dụng đến bảo vệ quyền hành nghề của giáo viên, phóng viên Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với TS Vũ Minh Đức - Cục trưởng Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo) chung quanh vấn đề này.

Khoảnh khắc cô Vũ Minh Trang, giáo viên chủ nhiệm lớp 6C Trường THCS Nguyễn Du “khoe” những thành quả đáng trân trọng nhất của mỗi giáo viên. Ảnh: Thành Đạt

Khoảng trống sau mỗi tiết dạy

Trên thực tế, nhiều giáo viên cho biết họ có thể hoàn thành tốt các công việc chuyên môn, từ soạn giáo án đến đứng lớp nhiều tiết. Song, điều khiến họ cảm thấy áp lực hơn cả là việc phải xử lý những vấn đề “ngoài giờ”. Chăm sóc sức khỏe tinh thần cho đội ngũ giáo viên đang được đặt ra cấp bách.

Cô giáo Quàng Thị Diên thường xuyên “lấy mình ra làm gương” tham gia mọi hoạt động với học sinh.

Cúi xuống ngang tầm mắt học sinh

Rời sân trường, điều gì thật sự ở lại trong trái tim một đứa trẻ? Đó chắc chắn không chỉ là những bài giảng từ trang sách, trong giờ học chính.

Công binh mũ nồi xanh Việt Nam lần đầu làm nhiệm vụ tại châu Phi. Ảnh: Thành Đạt

Sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân

“Với việc lần đầu tiên Nghị quyết Đại hội Đảng xác định Ngoại giao, đối ngoại là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”, đối ngoại không đơn thuần là lĩnh vực quan hệ với bên ngoài mà đã trở thành cấu phần năng lực tổng hợp quốc gia. Đối ngoại không chỉ là nhiệm vụ của riêng cơ quan đối ngoại, mà là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị” – Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, trong lễ khai mạc Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33 (ngày 1/8/2026, tại Hà Nội).

Quỹ “Truyền thống và Hữu nghị” trao tặng bằng khen những sinh viên có thành tích học tập xuất sắc.

Mang tri thức trở về

Từ nước Nga nhìn về quê hương, hầu như tất cả cộng đồng người Việt Nam tại Nga nói chung và đội ngũ trí thức... nói riêng đều có một niềm tin lớn lao đặt vào tương lai đất nước. Trong tinh thần chung đó, niềm mong mỏi được “trở về Việt Nam”, hay “kết thúc khóa học sớm để trở về Việt Nam” từ các chuyên gia, nghiên cứu sinh, sinh viên... để cống hiến, để làm việc, ngày càng trở nên thiết tha hơn.

Tác giả cùng Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại thành phố Saint Petersburg Evgeny Grigoriev (giữa) và Phó Chủ tịch Vyacheslav Kalganov (bên trái).

Con tàu lớn tiến nhanh về phía trước

Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại thành phố Saint Petersburg Evgeny Grigoriev bước vào cửa, Phó Chủ tịch Vyacheslav Kalganov lên tiếng: “Người bạn phóng viên Báo Nhân Dân à, anh biết đấy, một phần cuộc đời của ông Evgeny Grigoriev đây gắn liền với Đông Nam Á. Và khi tôi đến Ủy ban, ông ấy nói với tôi rằng, ông ấy chỉ có một đề nghị thôi, là hãy dành sự quan tâm lớn đến hợp tác với các nước Đông Nam Á, như Việt Nam, Lào, Campuchia”.

Phó Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế Trần Nhất Hoàng.

Sức mạnh mềm quốc gia có thể đến từ những điều thật giản dị

Được tổ chức định kỳ 5 năm, mỗi kỳ kéo dài sáu tháng, triển lãm World Expo (Expo) là một trong ba sự kiện có quy mô, ảnh hưởng lớn nhất toàn cầu, bên cạnh Cúp Bóng đá thế giới (World Cup) và Thế vận hội Olympic. Tại đây, nhà triển lãm của một quốc gia được ví như hình ảnh thu nhỏ của quốc gia đó, nơi thể hiện những nét đặc sắc nhất về văn hóa và con người, đồng thời chứa đựng một cách sống động những khát vọng chung về tương lai nhân loại.

Những người bạn du khách đến và mang về bao kỷ niệm khó quên với đất nước Việt Nam.

Ra về với hành lý đầy ắp kỷ niệm

Có những vị khách du lịch đến Việt Nam với một chiếc vali trống, rồi lấp đầy nó bằng những câu chuyện, những món ăn, những người bạn…, và cả lời hẹn tái ngộ. Ở chiều ngược lại, những người trẻ Việt Nam sống xa quê cũng đang tìm cách đưa tiếng Việt, những ký ức về quê hương đến với bạn bè quốc tế.

Đại sứ Cuba tại Việt Nam Rogelio Polanco Fuentes.

“Gìn giữ và làm phong phú thêm di sản hữu nghị Việt Nam – Cuba”

Trao đổi với Nhân Dân cuối tuần, Đại sứ Cuba tại Việt Nam Rogelio Polanco Fuentes bày tỏ niềm tin tưởng vào tương lai tươi sáng của mối quan hệ hữu nghị sắt son giữa hai dân tộc, cũng như những định hướng về chính sách đối ngoại được Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua.

Nền kinh tế có độ mở cao như Việt Nam rất cần những khuôn khổ hợp tác ổn định. Ảnh: Thành Đạt

Rộng mở không gian hợp tác kinh tế từ các FTA thế hệ mới

Mạng lưới các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới mà Việt Nam đã tham gia có độ phủ rộng hầu hết các châu lục, với gần 60 nền kinh tế có tổng GDP chiếm gần 90% GDP thế giới. Đây là cơ hội để Việt Nam kết nối sâu hơn vào chuỗi giá trị và mạng lưới sản xuất toàn cầu. Song, cơ hội chỉ trở thành sức bật khi Việt Nam chuyển hóa được các cam kết FTA thành động lực cải cách thể chế, nâng cấp doanh nghiệp.

Nghị quyết số 80-NQ/TW coi văn hóa là sức mạnh nội sinh, nguồn lực và là động lực của phát triển nhanh, bền vững. Trong ảnh: Chương trình “Tổ quốc trong tim” năm 2026 do Báo Nhân Dân tổ chức. Ảnh: Thành Đạt

Từ mùa thu độc lập đến sức mạnh văn hóa thời đại

Tám mươi mốt năm trước, mùa Thu năm 1945 mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam. Hôm nay, khi đất nước bước vào một chặng phát triển mới, nội hàm của khái niệm “độc lập” đang được làm giàu thêm bằng yêu cầu tự chủ phát triển, tự chủ sáng tạo và khả năng tự thích ứng của quốc gia.

“Kiến tạo” đã trở thành tư duy của một đất nước ngày càng chủ động đóng góp cho hòa bình, ổn định, phát triển và thịnh vượng. Ảnh: Thành Đạt

Lợi ích dân tộc trong lợi ích chung nhân loại

81 năm đã đi qua kể từ thời khắc lịch sử huy hoàng “trời thu xanh ngát sáng Tuyên ngôn”. Hơn tám thập niên là một quãng thời gian đủ dài để một dân tộc đi qua biết bao biến thiên thời cuộc, bao thăng trầm lịch sử