Tháo điểm nghẽn để giữ thị trường

“Xanh hóa” với thủy sản Việt Nam đang trở thành yêu cầu bắt buộc khi EU, Mỹ, Nhật Bản siết tiêu chuẩn về phát thải, truy xuất và bao bì tái chế. Thị trường không chỉ đòi hỏi chất lượng và giá, mà còn đòi hỏi dấu chân carbon.

Phân loại thủy hải sản ở cảng cá Phan Thiết, tỉnh Lâm Đồng. (Ảnh THANH HẢI)
Phân loại thủy hải sản ở cảng cá Phan Thiết, tỉnh Lâm Đồng. (Ảnh THANH HẢI)

Cùng với đó, cam kết Net Zero 2050 khiến “xanh hóa” không còn là lựa chọn tự nguyện, mà là điều kiện để duy trì xuất khẩu và cạnh tranh quốc tế.

Theo ông Nguyễn Hoài Nam, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), thời gian qua cộng đồng doanh nghiệp thủy sản đã có những thay đổi từ nhận thức sang hành động, bắt đầu bằng những khâu phát thải lớn. Trước hết, nhiều doanh nghiệp đã chuyển đổi công nghệ làm lạnh, bởi đây là quá trình tiêu tốn năng lượng và phát thải lớn nhất trong chế biến thủy sản.

Kết quả của VASEP cho thấy, hơn 70% các nhà máy chế biến quy mô lớn trong số gần 50 nhà máy tại Đồng bằng sông Cửu Long đã loại bỏ môi chất lạnh HCFC-22 (R22), chuyển sang NH3 (một nguyên liệu chủ chốt trong công nghiệp hóa chất, nổi bật với mật độ năng lượng cao và đặc tính không carbon), với chỉ số làm nóng lên toàn cầu bằng 0.

Cùng với đó, hơn 800 kho lạnh quy mô lớn, sức chứa đến 100.000 tấn đã áp dụng công nghệ NH3 hoặc CO2 siêu tới hạn. Chuyển đổi này không chỉ đáp ứng yêu cầu của Nghị định thư Montreal về loại trừ các chất suy giảm tầng ozone, mà còn mang lại lợi ích kinh tế rõ ràng, giúp doanh nghiệp tiết kiệm khoảng 15 đến 20% chi phí điện năng vận hành, đồng thời giảm phát thải khí nhà kính.

Cùng với đổi mới công nghệ, doanh nghiệp thủy sản đang bước sang giai đoạn quản trị phát thải, bắt đầu từ việc kiểm kê khí nhà kính theo Quyết định số 01/2022/QĐ-TTg ngày 18/1/2022 của Thủ tướng Chính phủ ban hành danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê.

Trong bối cảnh đó, nhiều doanh nghiệp lớn như Công ty cổ Phần Vĩnh Hoàn, Công ty cổ phần Tập đoàn Thủy sản Minh Phú, Công ty cổ phần Thực phẩm Sao Ta đã hoàn thành báo cáo Phạm vi 1 gồm phát thải trực tiếp từ nhiên liệu và rò rỉ môi chất lạnh, Phạm vi 2 gồm phát thải gián tiếp từ tiêu thụ điện năng. Một số doanh nghiệp đã thí điểm đánh giá vòng đời sản phẩm, qua đó nhận diện rõ các điểm phát thải lớn nhất trong chuỗi sản xuất. Kết quả cho thấy, khâu thức ăn trong nuôi trồng thường chiếm hơn 1/2 tổng phát thải, giúp doanh nghiệp có cơ sở tập trung giải pháp đúng chỗ thay vì làm dàn trải.

Hầu hết các nhà máy chế biến thủy sản xuất khẩu, nhất là các doanh nghiệp niêm yết đã lắp đặt hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn theo QCVN 11:2015 trước khi xả thải. Ngoài ra, việc tận dụng phụ phẩm đang tạo giá trị mới cho chuỗi ngành hàng.

Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Việt Nam Food Phan Thanh Lộc cho biết, từ năm 2015 công ty đã hợp tác với các nhà khoa học Trường đại học Nha Trang nghiên cứu, chiết xuất các hợp chất sinh học từ đầu, vỏ tôm. Đến nay, doanh nghiệp đã xử lý từ 35 nghìn đến 50 nghìn tấn phụ phẩm đầu tôm mỗi năm, với tỷ lệ thu hồi dưỡng chất lên tới 80%. Đồng thời, sản xuất ra khoảng 2.000 tấn nguyên liệu thực phẩm; từ 10 nghìn đến 12 nghìn tấn peptides, từ 800 đến 1.000 tấn chitin/chitosan. Đây là cơ sở để hình thành một ngành công nghiệp phụ phẩm đóng góp hàng trăm triệu USD mỗi năm.

Từ năm 2015 công ty đã hợp tác với các nhà khoa học Trường đại học Nha Trang nghiên cứu, chiết xuất các hợp chất sinh học từ đầu, vỏ tôm. Đến nay, doanh nghiệp đã xử lý từ 35 nghìn đến 50 nghìn tấn phụ phẩm đầu tôm mỗi năm, với tỷ lệ thu hồi dưỡng chất lên tới 80%. Đồng thời, sản xuất ra khoảng 2.000 tấn nguyên liệu thực phẩm; từ 10 nghìn đến 12 nghìn tấn peptides, từ 800 đến 1.000 tấn chitin/chitosan. Đây là cơ sở để hình thành một ngành công nghiệp phụ phẩm đóng góp hàng trăm triệu USD mỗi năm.

-----------

Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Việt Nam Food Phan Thanh Lộc

Tuy vậy, việc chuyển đổi xanh vẫn còn những điểm đáng lo, nhất là ở nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ. Áp lực lớn nhất nằm ở chi phí chuyển đổi công nghệ. Hiện vẫn còn hơn 3.000 kho lạnh quy mô vừa và nhỏ sử dụng môi chất R22 hoặc các nhóm HFC có chỉ số làm nóng lên toàn cầu cao.

Trong khi đó, chi phí chuyển đổi vượt quá khả năng tài chính của nhiều đơn vị trong bối cảnh biên lợi nhuận suy giảm. Không chỉ khâu làm lạnh, đầu tư và vận hành hệ thống xử lý nước thải cũng là bài toán nặng chi phí, nhất là khi công nghệ hiện tại ở không ít cơ sở chưa đáp ứng được yêu cầu của quy chuẩn mới. Thêm vào đó, việc chứng nhận và duy trì các chứng nhận quốc tế về bền vững chiếm khoảng 3 đến 5% giá thành sản phẩm, tạo áp lực trực tiếp lên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Bên cạnh vốn, ngành thủy sản còn vướng một điểm nghẽn khó nhìn thấy nhưng tác động rất rõ, đó là thiếu dữ liệu nền quốc gia về phát thải. Hiện chưa có bộ hệ số phát thải đặc thù cho các sản phẩm chủ lực như tôm, cá tra được quốc tế công nhận, khiến nhiều doanh nghiệp phải dùng hệ số mặc định. Các hệ số này thường cao hơn thực tế sản xuất trong nước, dẫn đến bất lợi khi tính dấu chân carbon, nhất là trong bối cảnh các hàng rào thương mại liên quan carbon ngày càng rõ. Một nút thắt khác là thiếu hụt nhân lực kỹ thuật xanh, nhiều nhà máy còn thiếu và yếu đội ngũ kỹ thuật viên vận hành hệ thống lạnh NH3 hoặc CO2, thiếu chuyên viên kiểm kê khí nhà kính có chứng chỉ theo quy định.

Những tồn tại đó đặt ra yêu cầu phải có giải pháp để hỗ trợ doanh nghiệp. Ông Nguyễn Hoài Nam cho rằng, trước hết cần có ưu đãi lãi suất cho các dự án điện mặt trời mái nhà, nâng cấp xử lý nước thải đạt chuẩn quốc tế và đầu tư chế biến sâu phụ phẩm. Cùng với đó là ưu đãi thuế, miễn giảm thuế nhập khẩu đối với thiết bị công nghệ xanh chưa sản xuất trong nước, đồng thời có cơ chế hỗ trợ thuế cho doanh nghiệp áp dụng mô hình sản xuất xanh và kinh tế tuần hoàn.

Một hướng quan trọng khác là hỗ trợ doanh nghiệp kết nối với các quỹ tài chính quốc tế để huy động nguồn lực, bởi nhiều hạng mục xanh cần vốn dài hạn và lãi suất phù hợp mới có thể triển khai. Bên cạnh đó, cần xây dựng cơ sở dữ liệu phát thải quốc gia, nhất là bộ hệ số phát thải chuẩn cho tôm và cá tra, giúp doanh nghiệp có cơ sở tính toán dấu chân carbon. Tăng cường đào tạo và cấp chứng chỉ cho kỹ thuật viên vận hành hệ thống lạnh NH3 hoặc CO2, đồng thời nâng cao năng lực cán bộ môi trường của doanh nghiệp. Công nghệ xử lý nước thải đáp ứng quy chuẩn mới cần được chuyển giao với chi phí hợp lý và dễ vận hành...

Có thể bạn quan tâm

Tọa đàm “Tài nguyên thiên nhiên và chuyển đổi xanh ở Việt Nam”. (Ảnh: TL)

Thúc đẩy chuyển đổi xanh, hướng tới phát triển bền vững

Trong bối cảnh hiện nay, thúc đẩy năng lượng tái tạo, nông nghiệp tuần hoàn, bảo vệ rừng, quản lý bền vững tài nguyên nước và khai thác khoáng sản gắn với công nghệ sạch không chỉ là xu thế tất yếu, mà còn là giải pháp then chốt để hài hòa giữa khai thác và bảo tồn, hướng tới phát triển nhanh và bền vững.

Mô hình nhà máy xanh.

Hiệu quả từ mô hình sử dụng tài nguyên hướng đến phát triển xanh bền vững

Mô hình sản xuất không chất thải của Gốm Đất Việt là minh chứng tiêu biểu cho hướng đi công nghiệp xanh, bền vững tại Việt Nam. Đơn vị đã tận dụng triệt để nguồn tài nguyên đất sét từ mỏ riêng, áp dụng công nghệ hiện đại để tái sử dụng toàn bộ chất thải phát sinh trong quá trình sản xuất, không phát sinh rác thải ra môi trường.

Để đạt được các cam kết khí hậu, chuyển dịch năng lượng xanh trên toàn diện các lĩnh vực, đặc biệt là khối doanh nghiệp sản xuất, không còn là lựa chọn mà là yêu cầu bắt buộc.

Thúc đẩy chuyển đổi số cùng chuyển đổi xanh nhằm bảo đảm phát triển bền vững

Trong dòng chảy chuyển dịch năng lượng toàn cầu, Việt Nam đang bước vào một giai đoạn bản lề, nơi bài toán tăng trưởng không còn tách rời khỏi yêu cầu phát triển bền vững. Cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 đã và đang trở thành áp lực chuyển đổi thật sự đối với nền kinh tế, đặc biệt là khu vực sản xuất công nghiệp.

Quang cảnh hội thảo.

Chuỗi cung ứng tín chỉ carbon, giá trị gia tăng và chiến lược đồng quản trị lưu vực đầu nguồn

Các tham luận được trình bày tại hội thảo chuyên đề “Chuỗi cung ứng tín chỉ carbon, giá trị gia tăng và chiến lược đồng quản trị lưu vực đầu nguồn” đã góp phần nâng cao hiểu biết cả về lý luận và thực tiễn đối với hệ thống carbon rừng tại Việt Nam, với trọng tâm là các hệ sinh thái rừng nhiệt đới và rừng ngập mặn.

Sản phẩm viên nén sinh khối của Nhà máy nhiên liệu sinh khối Erex Sakura Tuyên Quang được thị trường Nhật Bản đón nhận.

Đánh thức tiềm năng năng lượng sinh khối: Hướng đi chiến lược cho mục tiêu Net Zero của Việt Nam

Trong bối cảnh toàn cầu đẩy mạnh chuyển dịch năng lượng nhằm hiện thực hóa cam kết phát thải ròng bằng 0 tại COP26, Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để khai thác hiệu quả các nguồn năng lượng tái tạo, trong đó năng lượng sinh khối được xem là một trụ cột giàu tiềm năng nhưng chưa được phát huy tương xứng.

Việt Nam trong bức tranh nhiên liệu hàng không bền vững khu vực

Việt Nam trong bức tranh nhiên liệu hàng không bền vững khu vực

Báo cáo ASEAN 2050 SAF Outlook công bố vừa qua - do tổ chức tư vấn GHD thực hiện, với sự tài trợ của Quỹ Thương mại và Đầu tư Canada vì phát triển (CTIF), đối tác tri thức Boeing và Ban Thư ký ASEAN - cho thấy Đông Nam Á sở hữu tiềm năng lớn trong sản xuất nhiên liệu hàng không bền vững (SAF) từ phế thải nông lâm nghiệp. 

Cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang tỉnh Điện Biên cùng cán bộ, nhân dân xã Mường Nhà ra quân đào hố trồng cây cà-phê, mắc-ca trong ngày 2/4.

Lực lượng vũ trang tỉnh Điện Biên chung sức cùng nhân dân trồng mới cây cà-phê, mắc-ca

Chủ động triển khai kế hoạch trồng mới cây cà-phê, mắc-ca đã được Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành, ngày 2/4, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Điện Biên tổ chức Hội nghị Ban Chỉ đạo thực hiện chiến dịch "Điện Biên Phủ trong thời bình cơ cấu lại ngành nông nghiệp..." (gọi tắt là BCĐ 1850) của Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Điện Biên.

Hà Nội từng bước đẩy mạnh chuyển đổi phương tiện theo hướng hiện đại, thân thiện môi trường.

Từ ngày 1/4, Hà Nội vận hành 10 tuyến buýt điện

Từ ngày 1/4/2026, Hà Nội đưa vào vận hành 10 tuyến xe buýt điện với tổng số 288 phương tiện. Đây là bước tiến quan trọng trong lộ trình phát triển hệ thống vận tải công cộng xanh, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ và giảm thiểu ô nhiễm không khí đô thị. 

Rừng ngập mặn Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: HỒNG ĐẠT)

Tạo nguồn lực tham gia thị trường tín chỉ carbon

Rừng ngập mặn phân bố tại các vùng chuyển tiếp giữa đất liền và đại dương là hệ sinh thái đặc biệt có năng suất sinh học cao, có khả năng tích lũy một lượng lớn carbon xanh trong sinh khối và trong đất.

Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh hướng đến mô hình thân thiện với môi trường. (Ảnh: KHÁNH TRÌNH)

Giúp doanh nghiệp bứt phá trong chuyển đổi xanh

Với những biến động khó lường về kinh tế, địa chính trị trên toàn cầu, yêu cầu chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng xanh và bền vững không còn là lựa chọn dài hạn mà đã trở thành đòi hỏi cấp bách đối với nền kinh tế Việt Nam.

Người dân thành phố Huế đang quen dần với việc phân loại rác tại nguồn.

Huế tìm giải pháp giảm bao bì nhựa, kết nối chính sách với thực tiễn

Ngày 20/3, tại thành phố Huế, Sở Nông nghiệp và Môi trường phối hợp Viện Nghiên cứu phát triển thành phố Huế (HueIDS) và Dự án “Huế - Đô thị giảm nhựa ở miền trung Việt Nam” (WWF-Việt Nam) tổ chức Diễn đàn quốc gia về thúc đẩy giảm bao bì nhựa thông qua chính sách và thí điểm tại địa phương.

Bốn em trong nhóm Dự án Green Era trao tiền, phối hợp Đoàn Thanh niên Khu bảo tồn Thiên nhiên Đakrông chăm sóc vườn cây. (Ảnh: Quang Huy)

Gieo hạt giống xanh cho một kỷ nguyên xanh

Giữa những thách thức ngày càng gay gắt của biến đổi khí hậu toàn cầu, câu chuyện về Dự án Green Era do một nhóm học sinh trung học phổ thông sáng lập để lại nhiều suy ngẫm sâu sắc.

Chuyển dịch năng lượng tái tạo: Cần chính sách, vốn và trao quyền cho phụ nữ.

Chuyển dịch năng lượng tái tạo: Cần chính sách, vốn và trao quyền cho phụ nữ

Năm 2024, năng lượng tái tạo mới chiếm 12,8% sản lượng điện quốc gia, trong khi mục tiêu đến năm 2050 là 71,5%. Để rút ngắn khoảng cách ấy, Việt Nam cần đồng thời giải ba bài toán: hoàn thiện khung pháp lý, huy động 136,3 tỷ USD vốn đầu tư, và đưa phụ nữ từ vị trí "bên lề" vào trung tâm cuộc chuyển dịch.

Chuyển dịch năng lượng: Khi công nghệ trở thành chìa khóa của Net Zero. Ảnh minh họa.

Chuyển dịch năng lượng: Khi công nghệ trở thành chìa khóa của Net Zero

Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh phát triển kinh tế gắn với yêu cầu bảo vệ môi trường và thực hiện các cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu, năng lượng không còn chỉ là yếu tố bảo đảm cho sản xuất và đời sống, mà đã trở thành trụ cột quan trọng của mô hình tăng trưởng xanh, phát triển bền vững.