Cùng với đó, cam kết Net Zero 2050 khiến “xanh hóa” không còn là lựa chọn tự nguyện, mà là điều kiện để duy trì xuất khẩu và cạnh tranh quốc tế.
Theo ông Nguyễn Hoài Nam, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), thời gian qua cộng đồng doanh nghiệp thủy sản đã có những thay đổi từ nhận thức sang hành động, bắt đầu bằng những khâu phát thải lớn. Trước hết, nhiều doanh nghiệp đã chuyển đổi công nghệ làm lạnh, bởi đây là quá trình tiêu tốn năng lượng và phát thải lớn nhất trong chế biến thủy sản.
Kết quả của VASEP cho thấy, hơn 70% các nhà máy chế biến quy mô lớn trong số gần 50 nhà máy tại Đồng bằng sông Cửu Long đã loại bỏ môi chất lạnh HCFC-22 (R22), chuyển sang NH3 (một nguyên liệu chủ chốt trong công nghiệp hóa chất, nổi bật với mật độ năng lượng cao và đặc tính không carbon), với chỉ số làm nóng lên toàn cầu bằng 0.
Cùng với đó, hơn 800 kho lạnh quy mô lớn, sức chứa đến 100.000 tấn đã áp dụng công nghệ NH3 hoặc CO2 siêu tới hạn. Chuyển đổi này không chỉ đáp ứng yêu cầu của Nghị định thư Montreal về loại trừ các chất suy giảm tầng ozone, mà còn mang lại lợi ích kinh tế rõ ràng, giúp doanh nghiệp tiết kiệm khoảng 15 đến 20% chi phí điện năng vận hành, đồng thời giảm phát thải khí nhà kính.
Cùng với đổi mới công nghệ, doanh nghiệp thủy sản đang bước sang giai đoạn quản trị phát thải, bắt đầu từ việc kiểm kê khí nhà kính theo Quyết định số 01/2022/QĐ-TTg ngày 18/1/2022 của Thủ tướng Chính phủ ban hành danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê.
Trong bối cảnh đó, nhiều doanh nghiệp lớn như Công ty cổ Phần Vĩnh Hoàn, Công ty cổ phần Tập đoàn Thủy sản Minh Phú, Công ty cổ phần Thực phẩm Sao Ta đã hoàn thành báo cáo Phạm vi 1 gồm phát thải trực tiếp từ nhiên liệu và rò rỉ môi chất lạnh, Phạm vi 2 gồm phát thải gián tiếp từ tiêu thụ điện năng. Một số doanh nghiệp đã thí điểm đánh giá vòng đời sản phẩm, qua đó nhận diện rõ các điểm phát thải lớn nhất trong chuỗi sản xuất. Kết quả cho thấy, khâu thức ăn trong nuôi trồng thường chiếm hơn 1/2 tổng phát thải, giúp doanh nghiệp có cơ sở tập trung giải pháp đúng chỗ thay vì làm dàn trải.
Hầu hết các nhà máy chế biến thủy sản xuất khẩu, nhất là các doanh nghiệp niêm yết đã lắp đặt hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn theo QCVN 11:2015 trước khi xả thải. Ngoài ra, việc tận dụng phụ phẩm đang tạo giá trị mới cho chuỗi ngành hàng.
Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Việt Nam Food Phan Thanh Lộc cho biết, từ năm 2015 công ty đã hợp tác với các nhà khoa học Trường đại học Nha Trang nghiên cứu, chiết xuất các hợp chất sinh học từ đầu, vỏ tôm. Đến nay, doanh nghiệp đã xử lý từ 35 nghìn đến 50 nghìn tấn phụ phẩm đầu tôm mỗi năm, với tỷ lệ thu hồi dưỡng chất lên tới 80%. Đồng thời, sản xuất ra khoảng 2.000 tấn nguyên liệu thực phẩm; từ 10 nghìn đến 12 nghìn tấn peptides, từ 800 đến 1.000 tấn chitin/chitosan. Đây là cơ sở để hình thành một ngành công nghiệp phụ phẩm đóng góp hàng trăm triệu USD mỗi năm.
Từ năm 2015 công ty đã hợp tác với các nhà khoa học Trường đại học Nha Trang nghiên cứu, chiết xuất các hợp chất sinh học từ đầu, vỏ tôm. Đến nay, doanh nghiệp đã xử lý từ 35 nghìn đến 50 nghìn tấn phụ phẩm đầu tôm mỗi năm, với tỷ lệ thu hồi dưỡng chất lên tới 80%. Đồng thời, sản xuất ra khoảng 2.000 tấn nguyên liệu thực phẩm; từ 10 nghìn đến 12 nghìn tấn peptides, từ 800 đến 1.000 tấn chitin/chitosan. Đây là cơ sở để hình thành một ngành công nghiệp phụ phẩm đóng góp hàng trăm triệu USD mỗi năm.
-----------
Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Việt Nam Food Phan Thanh Lộc
Tuy vậy, việc chuyển đổi xanh vẫn còn những điểm đáng lo, nhất là ở nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ. Áp lực lớn nhất nằm ở chi phí chuyển đổi công nghệ. Hiện vẫn còn hơn 3.000 kho lạnh quy mô vừa và nhỏ sử dụng môi chất R22 hoặc các nhóm HFC có chỉ số làm nóng lên toàn cầu cao.
Trong khi đó, chi phí chuyển đổi vượt quá khả năng tài chính của nhiều đơn vị trong bối cảnh biên lợi nhuận suy giảm. Không chỉ khâu làm lạnh, đầu tư và vận hành hệ thống xử lý nước thải cũng là bài toán nặng chi phí, nhất là khi công nghệ hiện tại ở không ít cơ sở chưa đáp ứng được yêu cầu của quy chuẩn mới. Thêm vào đó, việc chứng nhận và duy trì các chứng nhận quốc tế về bền vững chiếm khoảng 3 đến 5% giá thành sản phẩm, tạo áp lực trực tiếp lên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Bên cạnh vốn, ngành thủy sản còn vướng một điểm nghẽn khó nhìn thấy nhưng tác động rất rõ, đó là thiếu dữ liệu nền quốc gia về phát thải. Hiện chưa có bộ hệ số phát thải đặc thù cho các sản phẩm chủ lực như tôm, cá tra được quốc tế công nhận, khiến nhiều doanh nghiệp phải dùng hệ số mặc định. Các hệ số này thường cao hơn thực tế sản xuất trong nước, dẫn đến bất lợi khi tính dấu chân carbon, nhất là trong bối cảnh các hàng rào thương mại liên quan carbon ngày càng rõ. Một nút thắt khác là thiếu hụt nhân lực kỹ thuật xanh, nhiều nhà máy còn thiếu và yếu đội ngũ kỹ thuật viên vận hành hệ thống lạnh NH3 hoặc CO2, thiếu chuyên viên kiểm kê khí nhà kính có chứng chỉ theo quy định.
Những tồn tại đó đặt ra yêu cầu phải có giải pháp để hỗ trợ doanh nghiệp. Ông Nguyễn Hoài Nam cho rằng, trước hết cần có ưu đãi lãi suất cho các dự án điện mặt trời mái nhà, nâng cấp xử lý nước thải đạt chuẩn quốc tế và đầu tư chế biến sâu phụ phẩm. Cùng với đó là ưu đãi thuế, miễn giảm thuế nhập khẩu đối với thiết bị công nghệ xanh chưa sản xuất trong nước, đồng thời có cơ chế hỗ trợ thuế cho doanh nghiệp áp dụng mô hình sản xuất xanh và kinh tế tuần hoàn.
Một hướng quan trọng khác là hỗ trợ doanh nghiệp kết nối với các quỹ tài chính quốc tế để huy động nguồn lực, bởi nhiều hạng mục xanh cần vốn dài hạn và lãi suất phù hợp mới có thể triển khai. Bên cạnh đó, cần xây dựng cơ sở dữ liệu phát thải quốc gia, nhất là bộ hệ số phát thải chuẩn cho tôm và cá tra, giúp doanh nghiệp có cơ sở tính toán dấu chân carbon. Tăng cường đào tạo và cấp chứng chỉ cho kỹ thuật viên vận hành hệ thống lạnh NH3 hoặc CO2, đồng thời nâng cao năng lực cán bộ môi trường của doanh nghiệp. Công nghệ xử lý nước thải đáp ứng quy chuẩn mới cần được chuyển giao với chi phí hợp lý và dễ vận hành...