Thách thức uy tín của FED và nguy cơ lãi suất cao kéo dài

Nếu bỏ qua các tính toán kỹ thuật để nhìn vào bài học lịch sử, câu hỏi đặt ra là ông Powell nên làm gì để khẳng định uy tín của FED trong vấn đề kiểm soát lạm phát.
Chủ tịch Hội đồng Thống đốc Cục Dự trữ liên bang Hoa Kỳ Jerome Powell. Ảnh: Reuters
Chủ tịch Hội đồng Thống đốc Cục Dự trữ liên bang Hoa Kỳ Jerome Powell. Ảnh: Reuters

Trong giới tài chính-tiền tệ toàn cầu, người có quyền lực và tầm ảnh hưởng lớn nhất có lẽ không ai khác ngoài đương kim Chủ tịch Hội đồng Thống đốc Cục Dự trữ liên bang Hoa Kỳ Jerome Powell. Là Chủ tịch đời thứ 16, ông Powell đang điều hành Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (FED) với tổng tài sản lên tới 8,8 nghìn tỷ đô-la (tương đương tổng GDP của Nhật Bản và Đức; cũng tương đương tổng GDP của khoảng 150 quốc gia nhỏ và vừa khác). Không chỉ thế, FED còn là cơ quan có quyền in và tiêu hủy đồng đô-la, điều chỉnh lãi suất quỹ liên bang (lãi suất cơ bản), đặt ra các yêu cầu về dự trữ, điều tiết và giám sát toàn bộ hệ thống ngân hàng.

“Quyền lực càng cao, trách nhiệm càng lớn”[1]

Trong bối cảnh lạm phát tăng cao ở Mỹ cũng như trên phạm vi toàn thế giới hiện nay, mọi động thái dù là nhỏ nhất của ông Powell đang được các nhà lãnh đạo quốc gia và giới chuyên gia trong lĩnh vực theo dõi sát sao.

Trong 10 tháng đầu năm 2022, ông Powell đã chèo lái để FED tăng lãi suất cơ bản nhiều lần. Thế nhưng, lạm phát vẫn chưa có dấu hiệu hạ nhiệt. Chưa kể đến, việc lãi suất tăng cao khiến nền kinh tế xuất hiện nhiều dấu hiệu suy thoái.

Trên bình diện quốc tế, lãi suất ở Mỹ tăng kéo theo đồng đô-la gia tăng giá trị, buộc nhiều quốc gia trên thế giới phải tăng lãi suất của mình để bảo vệ tỷ giá. Đây cũng có thể được xem như hiệu ứng dây chuyền làm giảm tăng trưởng kinh tế và gia tăng nguy cơ suy thoái đối với nền kinh tế toàn cầu.

Trong những ngày vừa qua, nhiều nhà kinh tế học hàng đầu, điển hình như Gregory Mankiw (tác giả của bộ sách giáo khoa kinh tế học phổ biến nhất hiện nay) và Paul Krugman (nhà kinh tế học đat giải Nobel Kinh tế năm 2008, chủ bút chuyên mục nhiều bạn đọc nhất trên trang tin điện tử của Thời báo New York), cùng nhiều chuyên gia tài chính tiền tệ thuộc các định chế tài chính lớn nhất của Mỹ đều đã lên tiếng cảnh báo về việc lãi suất quá cao. Họ cho rằng ông Powell cần khẩn trương điều chỉnh ngay chính sách tiền tệ để không đẩy nền kinh tế Mỹ và toàn cầu vào tình trạng suy thoái.

Ông Powell phải rất thận trọng trong bối cảnh hiện nay. Ảnh: Reuters
Ông Powell phải rất thận trọng trong bối cảnh hiện nay. Ảnh: Reuters

Thách thức của ông Powell

Ông Powell nhậm chức năm 2018, trên cơ sở đề cử của Tổng thống Donald Trump. Năm 2021, ông được tái bổ nhiệm theo đề cử của Tổng thống Joe Biden.

Khi được bổ nhiệm lần đầu, giới quan sát đã thể hiện sự phản đối mạnh mẽ đối với ông Powell vì hai lý do chính: Thứ nhất, người tiền nhiệm của ông, bà Janet Yellen, là một chuyên gia hàng đầu về chính sách tiền tệ, là người tại thời điểm đó đang điều hành FED một cách suất sắc và đáng lẽ phải được tái bổ nhiệm ở nhiệm kỳ hai. Thứ hai, đối lập với các chủ tịch trước đó, bao gồm cả ông Paul Volker, Alan Greenspan, Ben Bernanke và bà Janet Yellen, ông Powell trưởng thành trong môi trường chuyên xử lý các vấn đề mang tính kỹ thuật trong chính sách mà không phải hoạch định chiến lược vĩ mô. Ông có thể rất giỏi trong điều hành hoạt động hàng ngày của FED, nhưng nếu có khủng hoảng xảy ra, giới quan sát cho rằng ông sẽ không đủ khả năng xử lý tốt.

Từ khi nhậm chức tới nay, ông Powell đã đạt được nhiều thành công trong điều hành chính sách tiền tệ, đặc biệt với những động thái quyết liệt trong năm 2021 góp phần giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực của đại dịch Covid-19 tới thị trường tài chính và nền kinh tế.

Ông Powell đang đứng trước những thách thức vĩ mô thực sự.

Tuy nhiên, tại thời điểm này, tình trạng đình lạm (stagflation) - trạng thái nền kinh tế đình đốn đồng thời với lạm phát tăng cao - đang diễn ra không chỉ ở Mỹ mà tại nhiều quốc gia trên thế giới đã đặt ông Powell trước những thách thức vĩ mô thực sự.

Nếu tiếp tục tăng lãi suất, kinh tế suy thoái và thất nghiệp gia tăng, ông Powell sẽ là người phải hứng chịu sự phẫn nộ không chỉ của giới chính trị gia ở Mỹ, người lao động Mỹ, mà còn cả của người dân toàn cầu.

Ngược lại, nếu dừng tăng lãi suất và lạm phát tiếp tục trầm trọng thêm sẽ dẫn đến bào mòn tài sản tích lũy của người dân, suy giảm đầu tư dài hạn, ông Powell cũng vẫn sẽ là người hứng chịu mọi mũi rìu dư luận.

Tăng lãi suất hay không là một bài toán khó giải.

Tăng lãi suất hay không là một bài toán khó giải.

Điều quan trọng nhất đối với FED

Ngày 26 tháng 3 năm 2010 (khi ông Powell vẫn đang là nghiên cứu viên của một trung tâm nghiên cứu với mức lương 1 đô-la/năm), ông Kevin Warsh, thành viên Hội đồng Thống đốc, đã khẳng định rằng: “Tài sản lớn nhất của FED là uy tín thể chế của nó”.

Ở đây, “uy tín” bao gồm sự độc lập về chuyên môn, khả năng bình ổn lạm phát, và độ tin cậy của thông tin, nhất quán về hành động của FED.

Với tất cả tài sản tài chính và quyền lực sâu rộng, tài sản lớn nhất của FED, theo ông Warsh, vẫn là uy tín thể chế của nó.

Một trong những nhiệm vụ căn cốt nhất của ngân hàng trung ương nói chung, và FED nói riêng, là ổn định lạm phát. Để làm được như vậy, ngân hàng trung ương, ngoài những công cụ chính sách, cần phải giữ được uy tín của mình. Điều đó được lý giải trên ba khía cạnh:

Một trong những nhiệm vụ căn cốt nhất của ngân hàng trung ương nói chung, và FED nói riêng, là ổn định lạm phát.

Thứ nhất, ngân hàng trung ương luôn cần thể hiển được sự độc lập về chuyên môn trong việc đánh giá tình hình thực tế và cân nhắc các giải pháp phù hợp. Khi nền kinh tế đối mặt với một cú sốc ảnh hưởng tới tăng trưởng, các chính trị gia thường sẽ quan tâm nhiều tới việc duy trì tốc độ tăng trưởng và hạn chế tình trạng thất nghiệp. Khi không thể điều chỉnh giảm thuế hoặc tăng chi tiêu chính phủ để kích thích tăng trưởng, các chính trị gia sẽ gây áp ực để ngân hàng trung ương nới rộng chính sách tiền tệ. Nếu không khẳng định được sự độc lập về chuyên môn, ngân hàng trung ương sẽ có nguy cơ rơi vào trạng thái xem nhẹ mục tiêu kiểm soát lạm phát và tập trung kích cầu, gây ra hậu quả lâu dài cho sự ổn định đồng tiền quốc gia và nền kinh tế, như đã thấy trong siêu lạm phát ở Đức những năm 1920, Argentina vào những năm 1980 và Zimbabwe vào những năm 2000.

“Tài sản lớn nhất của FED là uy tín thể chế của nó”.

Kevin Warsh

Thứ hai, uy tín của ngân hàng trung ương nằm ở cam kết kiềm chế lạm phát trong trung và dài hạn. Khi thị trường không tin tưởng rằng ngân hàng trung ương sẽ dùng hết của mình để giữ lạm phát ổn định ở mức “chấp nhập được”, thì chính những ước đoán lạm phát cao sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới các hành vi kinh tế, do đó, có thể gây ra lạm phát cao hơn. Khi một mức lạm phát kỳ vọng đã ăn sâu vào nền kinh tế, mọi công cụ chính sách của ngân hàng trung ương đều sẽ bị vô hiệu hoá.

Thứ ba, thị trường cần được bảo đảm rằng những thông tin và quyết định chính sách từ phía ngân hàng trung ương là có độ tin cậy cao - nếu đã tuyên bố tăng hay giảm lãi suất, thì chắc chắn sẽ thực hiện. Đây là một điều rất khó cho các ngân hàng trung ương do cơ chế “không nhất quán thời gian” (time inconsistency) vốn có của chính sách tiền tệ. Cụ thể, tại thời điểm bất kỳ, ngân hàng trung ương có thể đánh giá lạm phát đang tăng cao nên sẽ phải tăng lãi suất vào kỳ sau. Nếu thị trường tin tưởng vào tuyên bố của ngân hàng trung ương và điều chỉnh các hành vi kinh tế tương ứng với lãi suất được điều chỉnh tăng, lạm phát sẽ tự động giảm. Đến thời điểm chính thức ban hành chính sách, ngân hàng trung ương sẽ ở tình trạng “tiến thoái lưỡng nan”: nếu vẫn tiếp tục tăng lãi suất như đã thông báo sẽ có thể đẩy lạm phát xuống quá thấp kéo theo nguy cơ suy thoái kinh tế; Nhưng nếu không tăng lãi suất, ngân hàng trung ương sẽ mất uy tín do không nhất quán giữa lời nói và việc làm.

Đối với cả ba khía cạnh liên quan tới uy tín của FED, ông Powell phải rất thận trọng trong bối cảnh hiện nay.

Trụ sở Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (FED). Ảnh: Reuters

Trụ sở Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (FED). Ảnh: Reuters

Lịch sử uy tín của FED

FED được thành lập năm 1913, với 12 Ngân hàng dữ trự khu vực và 1 Hội đồng Thống đốc đặt tại thủ đô Washinhton DC. Trong giai đoạn 1913-1933, các Ngân hàng dữ trữ khu vực được tự chủ và phân quyền trong rất nhiều hoạt động, bao gồm cả việc quyết định cung cấp thanh khoản trên hệ thống liên ngân hàng và lãi suất khu vực. Trong khi đó, các thành viên chủ chốt của Hội đồng Thống đốc chịu sự chi phối trực tiếp của Bộ Ngân khố Mỹ. Sau năm 1933, quyền lực hệ thống được tập trung nhiều hơn vào Hội đồng Thống đốc và tính độc lập với Chính phủ được khẳng định trong luật. Tuy nhiên, Hội đồng Thống đốc vẫn duy trì “truyền thống” chịu sự chi phối của Bộ Ngân khố Mỹ khi đưa ra các quyết định chính sách.

Với lịch sử phát triển như vậy, vai trò của Hội đồng Thống đốc cũng như cá nhân các Chủ tịch Hội đồng - trước những năm 1980 - không được đề cao. Về cơ bản, FED được thị trường đánh giá là cơ quan phục vụ các mục tiêu mang tính chính trị nhiều hơn, cụ thể là đề cao tăng trưởng kinh tế thay vì kiềm chế lạm phát.

Đỉnh điểm của sự yếu kém của FED trong kiểm soát lạm phát được bộc lộ trong giai đoạn 1970-1979.

Trong suốt những năm 1960, lạm phát ở Mỹ tăng dần lên tới sát 6%; lãi suất cơ bản được đẩy lên gần 9% trong nỗ lực ứng phó. Bước sang thập kỷ 1970s, Arthur Burns và người kế nhiệm của ông, William Miller, tiếp tục điều chỉnh lãi suất cơ bản để kiềm chế lạm phát, nhưng nhanh chóng đảo ngược hành động của mình ngay khi lạm phát bắt đầu giảm xuống vì sợ sẽ làm ảnh hưởng đến tình trạng thất nghiệp và tăng trưởng. Kết quả là cả lạm phát và thất nghiệp đều ở mức cao kỷ lục so với giai đoạn trước đó.

Ông Paul Volcker - người đặt nền móng cho vị thế độc lập toàn diện của FED. Ảnh: Reuters

Ông Paul Volcker - người đặt nền móng cho vị thế độc lập toàn diện của FED. Ảnh: Reuters

Uy tín trong việc kiểm soát lạm phát của FED chỉ được cải thiện khi ông Paul Volcker chính thức đảm nhiệm vị trí Chủ tịch từ ngày 6 tháng 8 năm 1979.

Ngay sau khi nhận chức, ông Volcker đã đẩy lãi suất cơ bản lên cao và - bất chấp sự phản đối của Tổng thống Jimmy Carter và Ronald Reagan - giữ lãi suất cơ bản ở mức cao trong suốt 8 năm tiếp theo. Lạm phát giảm dần, với cái giá phải trả là thất nghiệp gia tăng kỷ lục, lên tới mức hơn 10% vào năm 1982. Tới tận khi ông Volcker rời ghế chủ tịch vào tháng 8/1987, tỷ lệ lạm phát mới dịch về ở mức hơn 6,5%.

Dù phải chịu áp lực chính trị nặng nề tại thời điểm đó, sự độc lập theo luật của FED đã cho phép Volcker tiếp tục chính sách của mình. Dù đã bắt nền kinh tế trải qua thời kỳ tỷ lệ thất nghiệp cao, nhiệm kỳ của ông đã mang lại cho FED uy tín chưa bao giờ có được. Trên thực tế, cũng phải từ nhiệm kỳ của ông trở đi, giới quan sát mới thực sự quan tâm ai là chủ tịch của FED và người đó có quan điểm điều hành thế nào.

Ông Powell phải làm gì?

Cho dù mọi sự so sánh đều khập khiễng, nhưng có vẻ như ông Powell đang đứng trước bối cảnh kinh tế tương tự như khi ông Volcker nhậm chức.

Kể từ Khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2009 tới nay, lãi suất cơ bản luôn được giữ ở mức rất thấp; lạm phát ổn định ở mức thấp và tỷ lệ thất nghiệp luôn tiến triển theo xu thế tích cực (trừ giai đoạn Covid-19 2020-2021).

Tuy nhiên, đến thời điểm tháng 11/2022, lạm phát đã vọt lên mức cao nhất trong vòng 40 năm qua; lãi suất cơ bản cũng đã được nâng lên ở mức cao nhất trong vòng 10 năm trở lại đây. Như đã phân tích ở trên, ông Powell đang chịu áp lực rất lớn để ngừng nâng lãi suất, vì nếu tiếp tục tăng lãi suất sẽ có nguy cơ đẩy nền kinh tế Mỹ và thế giới vào giai đoạn suy thoái trong những tháng cuối năm 2022 và năm 2023.

Cá nhân ông Powell sẽ được lịch sử ghi nhận như Arthur Burns và William Miller, những người bất lực trước lạm phát; hay như Paul Volcker, người đặt nền móng cho vị thế độc lập toàn diện của FED? (Ảnh: Wall Street Journal)

Cá nhân ông Powell sẽ được lịch sử ghi nhận như Arthur Burns và William Miller, những người bất lực trước lạm phát; hay như Paul Volcker, người đặt nền móng cho vị thế độc lập toàn diện của FED? (Ảnh: Wall Street Journal)

Nếu bỏ qua các tính toán kỹ thuật để nhìn vào bài học lịch sử, câu hỏi đặt ra là ông Powell nên làm gì để khẳng định uy tín của FED trong vấn đề kiểm soát lạm phát. Thêm vào đó, cá nhân ông Powell sẽ được lịch sử ghi nhận như Arthur Burns và William Miller, những người bất lực trước lạm phát; hay như Paul Volcker, người đặt nền móng cho vị thế độc lập toàn diện của FED và đến nay vẫn luôn được công nhận là một trong những người đứng đầu ngân hàng trung ương giỏi nhất mọi thời đại?

Theo đó, câu trả lời sẽ khá rõ ràng: ông Powell sẽ tiếp tục tăng lãi suất cơ bản và duy trì nó ở mức cao cho đến sau khi lạm phát quay trở về mức chấp nhận được - không sớm hơn dù chỉ một phút.

Thế giới, vì vậy, có lẽ nên chuẩn bị sẵn sàng cho một thời kỳ lãi suất cao kéo dài.


[1] S. Lee and S. Ditko, Amazing Fantasy No. 15: “SpiderMan,” p. 13 (1962)

Có thể bạn quan tâm

Năm 2026 ghi dấu chặng đường vẻ vang 80 năm ngành thống kê Việt Nam. (Ảnh: HNV)

Chặng đường 80 năm vẻ vang ngành thống kê Việt Nam

Năm 2026 này đánh dấu chặng đường 80 năm vẻ vang của ngành thống kê Việt Nam, ghi dấu sự ra đời của Nha Thống kê Việt Nam – tiền thân của Cục Thống kê ngày nay. Phát huy truyền thống, ngành thống kê tiếp tục vững bước, xứng đáng đóng vai trò chiến lược trong phát triển kinh tế-xã hội, nhất là trong kỷ nguyên mới hiện nay.

(Ảnh: NGỌC BÍCH)

Giá vàng ngày 1/5: Vàng miếng SJC "bốc hơi" gần 11 triệu đồng/lượng tính từ đầu tháng 4

Giá vàng thế giới hôm nay (1/5) giảm sau phiên tăng mạnh hôm qua, giao dịch quanh mốc 4.600 USD/ounce trong bối cảnh môi trường lãi suất cao làm ảnh hưởng đến đà tăng của giá vàng. Trong nước, giá vàng giữ nguyên do thị trường đang trong kỳ nghỉ lễ 30/4-1/5; giá vàng SJC  bán ra ở mức 166 triệu đồng/lượng.

Chủ tịch Hội đồng thành viên EVNSPC Lê Văn Trang thăm và động viên cán bộ, kỹ sư, công nhân thi công tại dự án điện dịp Lễ 30/4 và 1/5.

Đồng bộ nhiều giải pháp để tăng năng lực cung ứng điện cho miền nam

Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng trưởng mạnh mẽ cùng áp lực từ biến đổi khí hậu và các đợt nắng nóng cực đoan, ngành điện miền nam đã và đang triển khai hàng loạt giải pháp đồng bộ nhằm bảo đảm cung ứng điện ổn định, phục vụ phát triển kinh tế-xã hội và đời sống người dân.

Chỉ số MXV-Index.

MXV-Index tăng phiên thứ 10 liên tiếp, duy trì trên vùng cao kỷ lục 2.900 điểm

Bất chấp áp lực lạm phát và việc Fed duy trì lãi suất ở mức cao, dòng tiền đầu tư vẫn chảy về thị trường hàng hóa. Lực mua chiếm ưu thế, kéo giá bạch kim bật tăng mạnh, tiến sát mốc 2.000 USD/ounce sau chuỗi 5 phiên giảm, trong khi giá cao su duy trì đà đi lên nhờ tác động từ dầu mỏ và nhu cầu xe năng lượng mới. 

Tiến sĩ Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Nghiên cứu và quản lý kinh tế Trung ương.

Tự chủ chiến lược để tăng trưởng thực chất

Trong bài phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương lần thứ 2, khóa XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân hãy hành động theo phương châm Tự chủ chiến lược-Kiên định hai mục tiêu chiến lược 100 năm-Chung sức, đồng lòng, quyết tâm, quyết liệt vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của Nhân dân.

Công chức Thuế cơ sở 4 (An Giang) hướng dẫn chủ hộ kinh doanh cách kê khai hàng hóa. (Ảnh: KIỀU DIỄM)

Giảm gánh nặng thuế cho hộ kinh doanh

Theo quy định mới về chính sách thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, cả nước sẽ có khoảng hơn 2,5 triệu hộ, cá nhân kinh doanh và 230 nghìn doanh nghiệp được miễn thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp.

HTX Nông sản an toàn Liên Hiệp (tỉnh Ninh Bình) tham gia dự án tăng cường chuỗi giá trị cây trồng an toàn tại các tỉnh phía bắc. (Ảnh: BẢO TOÀN)

Nâng cao chuỗi giá trị cây trồng an toàn

Đến nay, dự án tăng cường chuỗi giá trị cây trồng an toàn tại các tỉnh phía bắc đã thu được nhiều kết quả tích cực khi lợi nhuận tăng, nhiều diện tích được áp dụng thực hành nông nghiệp tốt (GAP), các hợp tác xã mở rộng kênh bán hàng… Từ thành công đó, nhiều địa phương trong vùng hưởng lợi đang có kế hoạch nhân rộng.

Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An Hoàng Phú Hiền kiểm tra công tác giải phóng mặt bằng dự án đường cao tốc Vinh-Thanh Thủy.

Gấp rút khởi công đường cao tốc Vinh-Thanh Thủy

Tỉnh Nghệ An vừa điều chỉnh mốc thời gian khởi công dự án đường bộ cao tốc Vinh-Thanh Thủy vào giữa tháng 5, thay cho thời gian dự kiến ban đầu là dịp 30/4. Các khâu chuẩn bị đang được các sở, ban, ngành và các địa phương liên quan tích cực triển khai.

Chuyển đổi xanh không trở thành yêu cầu cấp thiết, vừa mang tính trước mắt, vừa là chiến lược dài hạn của ngành.

Chuyển xanh logistics: Đòn bẩy ứng phó biến động và kiến tạo tăng trưởng bền vững

Trong bối cảnh địa chính trị thế giới diễn biến phức tạp, ngành logistics toàn cầu nói chung và tại Việt Nam nói riêng đang chịu tác động mạnh mẽ từ các cú sốc về năng lượng và đứt gãy chuỗi cung ứng. Chuyển đổi xanh không trở thành yêu cầu cấp thiết, vừa mang tính trước mắt, vừa là chiến lược dài hạn của ngành.

Hướng tới nền nông nghiệp carbon thấp là chìa khóa để Việt Nam khẳng định vị thế trong nền kinh tế xanh toàn cầu. (Ảnh: NGUYỄN THỊ THÚY HẰNG)

Phát triển nông nghiệp theo chuỗi giá trị: Từ liên kết sản xuất đến kiến tạo hệ sinh thái bền vững

Trong bối cảnh nông nghiệp Việt Nam đang dần “chuyển mình” từ tư duy sản lượng sang tư duy giá trị, phát triển theo chuỗi giá trị đang không còn là lựa chọn, mà trở thành con đường tất yếu để nâng cao sức cạnh tranh, cải thiện thu nhập cho nông dân và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Người sáng lập thương hiệu thịt lợn sạch Sáng Nhung: “Làm nông nghiệp sạch không có chỗ cho thử nghiệm”

Người sáng lập thương hiệu thịt lợn sạch Sáng Nhung: “Làm nông nghiệp sạch không có chỗ cho thử nghiệm”

Từ một người nông dân từng trải qua biến cố với thực phẩm bẩn, ông Nguyễn Ngọc Sáng, Giám đốc Hợp tác xã Sản xuất và Chế biến thực phẩm an toàn Sáng Nhung (Tuyên Quang) đã lựa chọn con đường khó: Xây dựng chuỗi nông nghiệp sạch khép kín, nuôi lợn bằng thảo dược và theo đuổi mô hình kinh tế tuần hoàn.  

Một góc đô thị tại Vinhomes Oceanpark 2 (Hưng Yên).

Sức bật mạnh mẽ của Hưng Yên

Sau khi hợp nhất, tỉnh Hưng Yên có thế và lực rất lớn để tăng tốc phát triển trên nhiều lĩnh vực. Nằm giữa vùng tăng trưởng động lực phía bắc gồm Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh, tỉnh có điều kiện thuận lợi thu hút đầu tư, tăng thu ngân sách, tập trung đầu tư đồng bộ cơ sở hạ tầng và nâng cao đời sống cho nhân dân.

PlasmaMed - Dấu ấn sản phẩm Thương hiệu quốc gia từ khát vọng làm chủ công nghệ y sinh

PlasmaMed - Dấu ấn sản phẩm Thương hiệu quốc gia từ khát vọng làm chủ công nghệ y sinh

Trong bối cảnh ngành y tế Việt Nam đứng trước yêu cầu đổi mới về công nghệ và nâng cao chất lượng điều trị, việc xuất hiện những sản phẩm “Make in Vietnam” mang hàm lượng khoa học cao không chỉ góp phần cải thiện hiệu quả chăm sóc sức khỏe mà còn khẳng định năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ của doanh nghiệp trong nước.

EVNNPC chủ động các giải pháp linh hoạt, bền vững bảo đảm cung ứng điện trong cao điểm nắng nóng.

EVNNPC chủ động các giải pháp linh hoạt, bền vững bảo đảm cung ứng điện trong cao điểm nắng nóng

Trong bối cảnh mùa hè năm 2026 được dự báo tiếp tục xuất hiện nhiều đợt nắng nóng gay gắt, nhu cầu sử dụng điện tăng cao trên diện rộng, Tổng công ty Điện lực miền Bắc (EVNNPC) đã chủ động triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm bảo đảm cung cấp điện an toàn, ổn định cho sản xuất và sinh hoạt của người dân.