Thách thức uy tín của FED và nguy cơ lãi suất cao kéo dài

Nếu bỏ qua các tính toán kỹ thuật để nhìn vào bài học lịch sử, câu hỏi đặt ra là ông Powell nên làm gì để khẳng định uy tín của FED trong vấn đề kiểm soát lạm phát.
Chủ tịch Hội đồng Thống đốc Cục Dự trữ liên bang Hoa Kỳ Jerome Powell. Ảnh: Reuters
Chủ tịch Hội đồng Thống đốc Cục Dự trữ liên bang Hoa Kỳ Jerome Powell. Ảnh: Reuters

Trong giới tài chính-tiền tệ toàn cầu, người có quyền lực và tầm ảnh hưởng lớn nhất có lẽ không ai khác ngoài đương kim Chủ tịch Hội đồng Thống đốc Cục Dự trữ liên bang Hoa Kỳ Jerome Powell. Là Chủ tịch đời thứ 16, ông Powell đang điều hành Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (FED) với tổng tài sản lên tới 8,8 nghìn tỷ đô-la (tương đương tổng GDP của Nhật Bản và Đức; cũng tương đương tổng GDP của khoảng 150 quốc gia nhỏ và vừa khác). Không chỉ thế, FED còn là cơ quan có quyền in và tiêu hủy đồng đô-la, điều chỉnh lãi suất quỹ liên bang (lãi suất cơ bản), đặt ra các yêu cầu về dự trữ, điều tiết và giám sát toàn bộ hệ thống ngân hàng.

“Quyền lực càng cao, trách nhiệm càng lớn”[1]

Trong bối cảnh lạm phát tăng cao ở Mỹ cũng như trên phạm vi toàn thế giới hiện nay, mọi động thái dù là nhỏ nhất của ông Powell đang được các nhà lãnh đạo quốc gia và giới chuyên gia trong lĩnh vực theo dõi sát sao.

Trong 10 tháng đầu năm 2022, ông Powell đã chèo lái để FED tăng lãi suất cơ bản nhiều lần. Thế nhưng, lạm phát vẫn chưa có dấu hiệu hạ nhiệt. Chưa kể đến, việc lãi suất tăng cao khiến nền kinh tế xuất hiện nhiều dấu hiệu suy thoái.

Trên bình diện quốc tế, lãi suất ở Mỹ tăng kéo theo đồng đô-la gia tăng giá trị, buộc nhiều quốc gia trên thế giới phải tăng lãi suất của mình để bảo vệ tỷ giá. Đây cũng có thể được xem như hiệu ứng dây chuyền làm giảm tăng trưởng kinh tế và gia tăng nguy cơ suy thoái đối với nền kinh tế toàn cầu.

Trong những ngày vừa qua, nhiều nhà kinh tế học hàng đầu, điển hình như Gregory Mankiw (tác giả của bộ sách giáo khoa kinh tế học phổ biến nhất hiện nay) và Paul Krugman (nhà kinh tế học đat giải Nobel Kinh tế năm 2008, chủ bút chuyên mục nhiều bạn đọc nhất trên trang tin điện tử của Thời báo New York), cùng nhiều chuyên gia tài chính tiền tệ thuộc các định chế tài chính lớn nhất của Mỹ đều đã lên tiếng cảnh báo về việc lãi suất quá cao. Họ cho rằng ông Powell cần khẩn trương điều chỉnh ngay chính sách tiền tệ để không đẩy nền kinh tế Mỹ và toàn cầu vào tình trạng suy thoái.

Ông Powell phải rất thận trọng trong bối cảnh hiện nay. Ảnh: Reuters
Ông Powell phải rất thận trọng trong bối cảnh hiện nay. Ảnh: Reuters

Thách thức của ông Powell

Ông Powell nhậm chức năm 2018, trên cơ sở đề cử của Tổng thống Donald Trump. Năm 2021, ông được tái bổ nhiệm theo đề cử của Tổng thống Joe Biden.

Khi được bổ nhiệm lần đầu, giới quan sát đã thể hiện sự phản đối mạnh mẽ đối với ông Powell vì hai lý do chính: Thứ nhất, người tiền nhiệm của ông, bà Janet Yellen, là một chuyên gia hàng đầu về chính sách tiền tệ, là người tại thời điểm đó đang điều hành FED một cách suất sắc và đáng lẽ phải được tái bổ nhiệm ở nhiệm kỳ hai. Thứ hai, đối lập với các chủ tịch trước đó, bao gồm cả ông Paul Volker, Alan Greenspan, Ben Bernanke và bà Janet Yellen, ông Powell trưởng thành trong môi trường chuyên xử lý các vấn đề mang tính kỹ thuật trong chính sách mà không phải hoạch định chiến lược vĩ mô. Ông có thể rất giỏi trong điều hành hoạt động hàng ngày của FED, nhưng nếu có khủng hoảng xảy ra, giới quan sát cho rằng ông sẽ không đủ khả năng xử lý tốt.

Từ khi nhậm chức tới nay, ông Powell đã đạt được nhiều thành công trong điều hành chính sách tiền tệ, đặc biệt với những động thái quyết liệt trong năm 2021 góp phần giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực của đại dịch Covid-19 tới thị trường tài chính và nền kinh tế.

Ông Powell đang đứng trước những thách thức vĩ mô thực sự.

Tuy nhiên, tại thời điểm này, tình trạng đình lạm (stagflation) - trạng thái nền kinh tế đình đốn đồng thời với lạm phát tăng cao - đang diễn ra không chỉ ở Mỹ mà tại nhiều quốc gia trên thế giới đã đặt ông Powell trước những thách thức vĩ mô thực sự.

Nếu tiếp tục tăng lãi suất, kinh tế suy thoái và thất nghiệp gia tăng, ông Powell sẽ là người phải hứng chịu sự phẫn nộ không chỉ của giới chính trị gia ở Mỹ, người lao động Mỹ, mà còn cả của người dân toàn cầu.

Ngược lại, nếu dừng tăng lãi suất và lạm phát tiếp tục trầm trọng thêm sẽ dẫn đến bào mòn tài sản tích lũy của người dân, suy giảm đầu tư dài hạn, ông Powell cũng vẫn sẽ là người hứng chịu mọi mũi rìu dư luận.

Tăng lãi suất hay không là một bài toán khó giải.

Tăng lãi suất hay không là một bài toán khó giải.

Điều quan trọng nhất đối với FED

Ngày 26 tháng 3 năm 2010 (khi ông Powell vẫn đang là nghiên cứu viên của một trung tâm nghiên cứu với mức lương 1 đô-la/năm), ông Kevin Warsh, thành viên Hội đồng Thống đốc, đã khẳng định rằng: “Tài sản lớn nhất của FED là uy tín thể chế của nó”.

Ở đây, “uy tín” bao gồm sự độc lập về chuyên môn, khả năng bình ổn lạm phát, và độ tin cậy của thông tin, nhất quán về hành động của FED.

Với tất cả tài sản tài chính và quyền lực sâu rộng, tài sản lớn nhất của FED, theo ông Warsh, vẫn là uy tín thể chế của nó.

Một trong những nhiệm vụ căn cốt nhất của ngân hàng trung ương nói chung, và FED nói riêng, là ổn định lạm phát. Để làm được như vậy, ngân hàng trung ương, ngoài những công cụ chính sách, cần phải giữ được uy tín của mình. Điều đó được lý giải trên ba khía cạnh:

Một trong những nhiệm vụ căn cốt nhất của ngân hàng trung ương nói chung, và FED nói riêng, là ổn định lạm phát.

Thứ nhất, ngân hàng trung ương luôn cần thể hiển được sự độc lập về chuyên môn trong việc đánh giá tình hình thực tế và cân nhắc các giải pháp phù hợp. Khi nền kinh tế đối mặt với một cú sốc ảnh hưởng tới tăng trưởng, các chính trị gia thường sẽ quan tâm nhiều tới việc duy trì tốc độ tăng trưởng và hạn chế tình trạng thất nghiệp. Khi không thể điều chỉnh giảm thuế hoặc tăng chi tiêu chính phủ để kích thích tăng trưởng, các chính trị gia sẽ gây áp ực để ngân hàng trung ương nới rộng chính sách tiền tệ. Nếu không khẳng định được sự độc lập về chuyên môn, ngân hàng trung ương sẽ có nguy cơ rơi vào trạng thái xem nhẹ mục tiêu kiểm soát lạm phát và tập trung kích cầu, gây ra hậu quả lâu dài cho sự ổn định đồng tiền quốc gia và nền kinh tế, như đã thấy trong siêu lạm phát ở Đức những năm 1920, Argentina vào những năm 1980 và Zimbabwe vào những năm 2000.

“Tài sản lớn nhất của FED là uy tín thể chế của nó”.

Kevin Warsh

Thứ hai, uy tín của ngân hàng trung ương nằm ở cam kết kiềm chế lạm phát trong trung và dài hạn. Khi thị trường không tin tưởng rằng ngân hàng trung ương sẽ dùng hết của mình để giữ lạm phát ổn định ở mức “chấp nhập được”, thì chính những ước đoán lạm phát cao sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới các hành vi kinh tế, do đó, có thể gây ra lạm phát cao hơn. Khi một mức lạm phát kỳ vọng đã ăn sâu vào nền kinh tế, mọi công cụ chính sách của ngân hàng trung ương đều sẽ bị vô hiệu hoá.

Thứ ba, thị trường cần được bảo đảm rằng những thông tin và quyết định chính sách từ phía ngân hàng trung ương là có độ tin cậy cao - nếu đã tuyên bố tăng hay giảm lãi suất, thì chắc chắn sẽ thực hiện. Đây là một điều rất khó cho các ngân hàng trung ương do cơ chế “không nhất quán thời gian” (time inconsistency) vốn có của chính sách tiền tệ. Cụ thể, tại thời điểm bất kỳ, ngân hàng trung ương có thể đánh giá lạm phát đang tăng cao nên sẽ phải tăng lãi suất vào kỳ sau. Nếu thị trường tin tưởng vào tuyên bố của ngân hàng trung ương và điều chỉnh các hành vi kinh tế tương ứng với lãi suất được điều chỉnh tăng, lạm phát sẽ tự động giảm. Đến thời điểm chính thức ban hành chính sách, ngân hàng trung ương sẽ ở tình trạng “tiến thoái lưỡng nan”: nếu vẫn tiếp tục tăng lãi suất như đã thông báo sẽ có thể đẩy lạm phát xuống quá thấp kéo theo nguy cơ suy thoái kinh tế; Nhưng nếu không tăng lãi suất, ngân hàng trung ương sẽ mất uy tín do không nhất quán giữa lời nói và việc làm.

Đối với cả ba khía cạnh liên quan tới uy tín của FED, ông Powell phải rất thận trọng trong bối cảnh hiện nay.

Trụ sở Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (FED). Ảnh: Reuters

Trụ sở Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (FED). Ảnh: Reuters

Lịch sử uy tín của FED

FED được thành lập năm 1913, với 12 Ngân hàng dữ trự khu vực và 1 Hội đồng Thống đốc đặt tại thủ đô Washinhton DC. Trong giai đoạn 1913-1933, các Ngân hàng dữ trữ khu vực được tự chủ và phân quyền trong rất nhiều hoạt động, bao gồm cả việc quyết định cung cấp thanh khoản trên hệ thống liên ngân hàng và lãi suất khu vực. Trong khi đó, các thành viên chủ chốt của Hội đồng Thống đốc chịu sự chi phối trực tiếp của Bộ Ngân khố Mỹ. Sau năm 1933, quyền lực hệ thống được tập trung nhiều hơn vào Hội đồng Thống đốc và tính độc lập với Chính phủ được khẳng định trong luật. Tuy nhiên, Hội đồng Thống đốc vẫn duy trì “truyền thống” chịu sự chi phối của Bộ Ngân khố Mỹ khi đưa ra các quyết định chính sách.

Với lịch sử phát triển như vậy, vai trò của Hội đồng Thống đốc cũng như cá nhân các Chủ tịch Hội đồng - trước những năm 1980 - không được đề cao. Về cơ bản, FED được thị trường đánh giá là cơ quan phục vụ các mục tiêu mang tính chính trị nhiều hơn, cụ thể là đề cao tăng trưởng kinh tế thay vì kiềm chế lạm phát.

Đỉnh điểm của sự yếu kém của FED trong kiểm soát lạm phát được bộc lộ trong giai đoạn 1970-1979.

Trong suốt những năm 1960, lạm phát ở Mỹ tăng dần lên tới sát 6%; lãi suất cơ bản được đẩy lên gần 9% trong nỗ lực ứng phó. Bước sang thập kỷ 1970s, Arthur Burns và người kế nhiệm của ông, William Miller, tiếp tục điều chỉnh lãi suất cơ bản để kiềm chế lạm phát, nhưng nhanh chóng đảo ngược hành động của mình ngay khi lạm phát bắt đầu giảm xuống vì sợ sẽ làm ảnh hưởng đến tình trạng thất nghiệp và tăng trưởng. Kết quả là cả lạm phát và thất nghiệp đều ở mức cao kỷ lục so với giai đoạn trước đó.

Ông Paul Volcker - người đặt nền móng cho vị thế độc lập toàn diện của FED. Ảnh: Reuters

Ông Paul Volcker - người đặt nền móng cho vị thế độc lập toàn diện của FED. Ảnh: Reuters

Uy tín trong việc kiểm soát lạm phát của FED chỉ được cải thiện khi ông Paul Volcker chính thức đảm nhiệm vị trí Chủ tịch từ ngày 6 tháng 8 năm 1979.

Ngay sau khi nhận chức, ông Volcker đã đẩy lãi suất cơ bản lên cao và - bất chấp sự phản đối của Tổng thống Jimmy Carter và Ronald Reagan - giữ lãi suất cơ bản ở mức cao trong suốt 8 năm tiếp theo. Lạm phát giảm dần, với cái giá phải trả là thất nghiệp gia tăng kỷ lục, lên tới mức hơn 10% vào năm 1982. Tới tận khi ông Volcker rời ghế chủ tịch vào tháng 8/1987, tỷ lệ lạm phát mới dịch về ở mức hơn 6,5%.

Dù phải chịu áp lực chính trị nặng nề tại thời điểm đó, sự độc lập theo luật của FED đã cho phép Volcker tiếp tục chính sách của mình. Dù đã bắt nền kinh tế trải qua thời kỳ tỷ lệ thất nghiệp cao, nhiệm kỳ của ông đã mang lại cho FED uy tín chưa bao giờ có được. Trên thực tế, cũng phải từ nhiệm kỳ của ông trở đi, giới quan sát mới thực sự quan tâm ai là chủ tịch của FED và người đó có quan điểm điều hành thế nào.

Ông Powell phải làm gì?

Cho dù mọi sự so sánh đều khập khiễng, nhưng có vẻ như ông Powell đang đứng trước bối cảnh kinh tế tương tự như khi ông Volcker nhậm chức.

Kể từ Khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2009 tới nay, lãi suất cơ bản luôn được giữ ở mức rất thấp; lạm phát ổn định ở mức thấp và tỷ lệ thất nghiệp luôn tiến triển theo xu thế tích cực (trừ giai đoạn Covid-19 2020-2021).

Tuy nhiên, đến thời điểm tháng 11/2022, lạm phát đã vọt lên mức cao nhất trong vòng 40 năm qua; lãi suất cơ bản cũng đã được nâng lên ở mức cao nhất trong vòng 10 năm trở lại đây. Như đã phân tích ở trên, ông Powell đang chịu áp lực rất lớn để ngừng nâng lãi suất, vì nếu tiếp tục tăng lãi suất sẽ có nguy cơ đẩy nền kinh tế Mỹ và thế giới vào giai đoạn suy thoái trong những tháng cuối năm 2022 và năm 2023.

Cá nhân ông Powell sẽ được lịch sử ghi nhận như Arthur Burns và William Miller, những người bất lực trước lạm phát; hay như Paul Volcker, người đặt nền móng cho vị thế độc lập toàn diện của FED? (Ảnh: Wall Street Journal)

Cá nhân ông Powell sẽ được lịch sử ghi nhận như Arthur Burns và William Miller, những người bất lực trước lạm phát; hay như Paul Volcker, người đặt nền móng cho vị thế độc lập toàn diện của FED? (Ảnh: Wall Street Journal)

Nếu bỏ qua các tính toán kỹ thuật để nhìn vào bài học lịch sử, câu hỏi đặt ra là ông Powell nên làm gì để khẳng định uy tín của FED trong vấn đề kiểm soát lạm phát. Thêm vào đó, cá nhân ông Powell sẽ được lịch sử ghi nhận như Arthur Burns và William Miller, những người bất lực trước lạm phát; hay như Paul Volcker, người đặt nền móng cho vị thế độc lập toàn diện của FED và đến nay vẫn luôn được công nhận là một trong những người đứng đầu ngân hàng trung ương giỏi nhất mọi thời đại?

Theo đó, câu trả lời sẽ khá rõ ràng: ông Powell sẽ tiếp tục tăng lãi suất cơ bản và duy trì nó ở mức cao cho đến sau khi lạm phát quay trở về mức chấp nhận được - không sớm hơn dù chỉ một phút.

Thế giới, vì vậy, có lẽ nên chuẩn bị sẵn sàng cho một thời kỳ lãi suất cao kéo dài.


[1] S. Lee and S. Ditko, Amazing Fantasy No. 15: “SpiderMan,” p. 13 (1962)

Có thể bạn quan tâm

Dệt zèng, một sản phẩm du lịch đặc trưng của đồng bào A Lưới, giúp bà con giảm nghèo.

Lấy sinh kế làm gốc để giảm nghèo

Tại thành phố Huế, Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững cùng các chương trình khác giai đoạn 2021-2025 tại hai xã miền núi Nam Đông và A Lưới đã từng bước giảm tỷ lệ hộ nghèo và nâng cao năng lực tự vươn lên của người dân.

Dự án xây dựng Cảng hàng không quốc tế Long Thành đã hoàn thành giai đoạn 1.

Phấn đấu vận hành đồng bộ Cảng hàng không quốc tế Long Thành trong năm 2026

Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà vừa có ý kiến chỉ đạo yêu cầu các bộ, ngành, địa phương và đơn vị liên quan tập trung cao độ mọi nguồn lực, khẩn trương triển khai các hạng mục trọng điểm, bảo đảm tiến độ dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành giai đoạn 1, hướng tới mục tiêu đưa công trình vận hành đồng bộ trong năm 2026.

Nhiều sản phẩm thủ công mỹ nghệ, làng nghề truyền thống phục vụ Tết được giới thiệu tại Triển lãm.

Triển lãm hàng thủ công mỹ nghệ phục vụ Tết Nguyên đán

Tối 28/1, tại Điểm du lịch Làng nghề tăm hương Quảng Phú Cầu (xã Ứng Thiên, Hà Nội), Sở Công thương Hà Nội phối hợp Ủy ban nhân dân xã Ứng Thiên khai mạc Triển lãm các sản phẩm, mẫu thiết kế hàng thủ công mỹ nghệ mới, sáng tạo gắn với các hoạt động phục vụ Xuân Bính Ngọ 2026.

Nông sản Việt Nam thu hút đông khách quốc tế quan tâm tìm hiểu. (Ảnh: AGRITRADE)

Việt Nam tham dự Hội chợ Gulfood Dubai 2026

Hội chợ quốc tế về thực phẩm và đồ uống Gulfood 2026 diễn ra trong các ngày 26 đến 30/1 tại Trung tâm triển lãm Dubai Exhibition Centre, Dubai, UAE. Khu gian hàng Việt Nam do Trung tâm Xúc tiến thương mại nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Môi trường thực hiện đã tiếp đón hàng nghìn lượt khách ngay trong ngày đầu khai mạc (26/1).

Ảnh minh họa.

Chứng khoán ngày 28/1: Cổ phiếu ngân hàng và bất động sản bị bán mạnh, VN-Index giảm tiếp gần 28 điểm

Phiên giao dịch ngày 28/1, thị trường chứng khoán Việt Nam chìm trong sắc đỏ. Các nhóm ngành cổ phiếu như ngân hàng, bất động sản... cùng hàng loạt cổ phiếu lớn giảm sàn kéo chỉ số VN-Index lao dốc, thủng ngưỡng 1.800 điểm. Dù lực cầu bắt đáy xuất hiện cuối phiên, VN-Index vẫn giảm 27,59 điểm, xuống mức 1.802,91 điểm.

Cảng hàng không quốc tế Phú Quốc - Cửa ngõ kết nối đảo ngọc với thế giới.

Cảng hàng không quốc tế Phú Quốc – Cửa ngõ kết nối đảo ngọc với thế giới

Cảng hàng không quốc tế Phú Quốc là cửa ngõ quan trọng, góp phần đưa đảo ngọc trở thành điểm đến du lịch hàng đầu khu vực và quốc tế. Với vị trí chiến lược tại cực nam Tổ quốc, sân bay Phú Quốc đã và đang khẳng định vai trò then chốt trong việc kết nối Phú Quốc với thế giới, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội.

Công nhân làm việc tại một nhà máy lọc dầu. (Nguồn: THX/TTXVN)

Giá dầu lập đỉnh 15 tháng, kim loại quý kéo MXV-Index giảm mạnh

Thị trường hàng hóa vừa trải qua một phiên giao dịch đầy biến động với diễn biến phân hóa. Áp lực chốt lời mạnh trên thị trường bạc và bạch kim đã góp phần kéo chỉ số MXV-Index giảm 1,7%, xuống còn 2.685 điểm, chấm dứt chuỗi tăng 5 phiên liên tiếp trước đó.

Ủy ban nhân dân xã Cà Ná (Khánh Hòa) dựng pa-nô tuyên truyền về quy hoạch các dự án trọng điểm để thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội của địa phương trong tương lai. (Ảnh: NGUYỄN TRUNG)

Khánh Hòa phê duyệt kết quả lựa chọn nhà đầu tư Dự án nhà máy nhiệt điện LNG Cà Ná

Ngày 28/1, Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa ban hành Quyết định số 399/QĐ-UBND phê duyệt kết quả lựa chọn nhà đầu tư thực hiện Dự án nhà máy nhiệt điện LNG Cà Ná - dự án trọng điểm có ý nghĩa chiến lược trong bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội của địa phương.

Phú Quốc trước vận hội APEC 2027 - Khẳng định vị thế đô thị biển đảo tầm cỡ quốc tế.

Phú Quốc trước vận hội APEC 2027 - Khẳng định vị thế đô thị biển đảo tầm cỡ quốc tế

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã xác định rõ mục tiêu đưa Việt Nam trở thành điểm đến của những sự kiện quốc tế. Việc đặc khu Phú Quốc là địa điểm tổ chức Hội nghị cấp cao APEC 2027 là vinh dự lớn đối với đất nước, là cơ hội để Đảo Ngọc khẳng định vị thế trung tâm kinh tế-du lịch-đối ngoại tầm vóc khu vực và thế giới.

Đoàn đại biểu cấp cao Đảng, Nhà nước Lào làm việc tại Tập đoàn Điện lực Việt Nam.

Tăng cường hợp tác điện lực Việt Nam-Lào trong bối cảnh nhu cầu năng lượng gia tăng

Những năm qua, hợp tác trong lĩnh vực năng lượng, nhất là trong kết nối hạ tầng hệ thống điện và trao đổi điện năng Việt Nam và Lào được đẩy mạnh, có thể coi là điểm sáng trong quan hệ hợp tác kinh tế giữa hai nước. Hiện tổng công suất từ các nhà máy điện tại Lào đã vận hành và bán điện về Việt Nam là 2.379MW.

Mỗi ngày có hàng trăm công nhân, thiết bị đang tập trung thi công các gói thầu thuộc dự án đường Động lực Điện Biên.

Hối hả trên công trình đường động lực Điện Biên

Nỗ lực vì mục tiêu hoàn thành Đường giao thông kết nối các khu vực kinh tế trọng điểm dọc trục QL279, QL12 (gọi tắt là đường Động lực Điện Biên), suốt nhiều ngày qua hàng nghìn công nhân cùng máy móc, thiết bị miệt mài làm việc. Cả kỳ nghỉ Tết Dương lịch 2026 vừa qua, công trường ngày đêm vẫn rầm rập tiếng máy, tiếng người…

Các giải pháp công nghệ cho ô-tô điện được trưng bày tại Triển lãm Thành tựu đất nước "80 năm hành trình Độc lập-Tự do-Hạnh phúc". (Ảnh: Thế Đại)

Kinh tế số thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng

Việt Nam đang bước vào giai đoạn tăng tốc chiến lược để thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Lực lượng Quản lý thị trường Quảng Ninh kiểm tra cơ sở kinh doanh của ông Trần Hữu Quyền ở phường Móng Cái 2.

Quảng Ninh: Bảo đảm bình ổn thị trường trong dịp Tết Bính Ngọ 2026

Thực hiện tháng cao điểm đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả và an toàn vệ sinh thực phẩm dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026; Lực lượng Quản lý thị trường tỉnh Quảng Ninh đã phát hiện và xử lý vi phạm với tổng số tiền phạt hơn 13 tỷ đồng. Góp phần bình ổn thị trường và bảo đảm sức khỏe cho nhân dân.

Ảnh minh họa.

Thanh khoản suy giảm mạnh, VN-Index mất hơn 13 điểm trước áp lực từ nhóm bất động sản

Phiên giao dịch ngày 27/1, thị trường chứng khoán Việt Nam phân hóa rõ nét. Thanh khoản toàn thị trường giảm sâu, tổng giá trị giao dịch chỉ đạt hơn 27.781 tỷ đồng. Áp lực điều chỉnh mạnh tại nhóm bất động sản cùng diễn biến bán ròng của khối ngoại đã kéo VN-Index giảm 13,22 điểm, xuống mức 1.830,5 điểm khi kết thúc phiên.

[Video] Từ năm 2026, thêm 2 trường hợp được cấp sổ đỏ lần đầu

[Video] Từ năm 2026, thêm 2 trường hợp được cấp sổ đỏ lần đầu

Theo Luật Đất đai năm 2024 và Nghị quyết 254/2025 của Quốc hội, từ năm 2026, Luật Đất đai bổ sung hai trường hợp được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất lần đầu, nhằm tháo gỡ vướng mắc tồn tại kéo dài trong công tác quản lý, sử dụng đất đai.