Thách thức uy tín của FED và nguy cơ lãi suất cao kéo dài

Nếu bỏ qua các tính toán kỹ thuật để nhìn vào bài học lịch sử, câu hỏi đặt ra là ông Powell nên làm gì để khẳng định uy tín của FED trong vấn đề kiểm soát lạm phát.
Chủ tịch Hội đồng Thống đốc Cục Dự trữ liên bang Hoa Kỳ Jerome Powell. Ảnh: Reuters
Chủ tịch Hội đồng Thống đốc Cục Dự trữ liên bang Hoa Kỳ Jerome Powell. Ảnh: Reuters

Trong giới tài chính-tiền tệ toàn cầu, người có quyền lực và tầm ảnh hưởng lớn nhất có lẽ không ai khác ngoài đương kim Chủ tịch Hội đồng Thống đốc Cục Dự trữ liên bang Hoa Kỳ Jerome Powell. Là Chủ tịch đời thứ 16, ông Powell đang điều hành Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (FED) với tổng tài sản lên tới 8,8 nghìn tỷ đô-la (tương đương tổng GDP của Nhật Bản và Đức; cũng tương đương tổng GDP của khoảng 150 quốc gia nhỏ và vừa khác). Không chỉ thế, FED còn là cơ quan có quyền in và tiêu hủy đồng đô-la, điều chỉnh lãi suất quỹ liên bang (lãi suất cơ bản), đặt ra các yêu cầu về dự trữ, điều tiết và giám sát toàn bộ hệ thống ngân hàng.

“Quyền lực càng cao, trách nhiệm càng lớn”[1]

Trong bối cảnh lạm phát tăng cao ở Mỹ cũng như trên phạm vi toàn thế giới hiện nay, mọi động thái dù là nhỏ nhất của ông Powell đang được các nhà lãnh đạo quốc gia và giới chuyên gia trong lĩnh vực theo dõi sát sao.

Trong 10 tháng đầu năm 2022, ông Powell đã chèo lái để FED tăng lãi suất cơ bản nhiều lần. Thế nhưng, lạm phát vẫn chưa có dấu hiệu hạ nhiệt. Chưa kể đến, việc lãi suất tăng cao khiến nền kinh tế xuất hiện nhiều dấu hiệu suy thoái.

Trên bình diện quốc tế, lãi suất ở Mỹ tăng kéo theo đồng đô-la gia tăng giá trị, buộc nhiều quốc gia trên thế giới phải tăng lãi suất của mình để bảo vệ tỷ giá. Đây cũng có thể được xem như hiệu ứng dây chuyền làm giảm tăng trưởng kinh tế và gia tăng nguy cơ suy thoái đối với nền kinh tế toàn cầu.

Trong những ngày vừa qua, nhiều nhà kinh tế học hàng đầu, điển hình như Gregory Mankiw (tác giả của bộ sách giáo khoa kinh tế học phổ biến nhất hiện nay) và Paul Krugman (nhà kinh tế học đat giải Nobel Kinh tế năm 2008, chủ bút chuyên mục nhiều bạn đọc nhất trên trang tin điện tử của Thời báo New York), cùng nhiều chuyên gia tài chính tiền tệ thuộc các định chế tài chính lớn nhất của Mỹ đều đã lên tiếng cảnh báo về việc lãi suất quá cao. Họ cho rằng ông Powell cần khẩn trương điều chỉnh ngay chính sách tiền tệ để không đẩy nền kinh tế Mỹ và toàn cầu vào tình trạng suy thoái.

Ông Powell phải rất thận trọng trong bối cảnh hiện nay. Ảnh: Reuters
Ông Powell phải rất thận trọng trong bối cảnh hiện nay. Ảnh: Reuters

Thách thức của ông Powell

Ông Powell nhậm chức năm 2018, trên cơ sở đề cử của Tổng thống Donald Trump. Năm 2021, ông được tái bổ nhiệm theo đề cử của Tổng thống Joe Biden.

Khi được bổ nhiệm lần đầu, giới quan sát đã thể hiện sự phản đối mạnh mẽ đối với ông Powell vì hai lý do chính: Thứ nhất, người tiền nhiệm của ông, bà Janet Yellen, là một chuyên gia hàng đầu về chính sách tiền tệ, là người tại thời điểm đó đang điều hành FED một cách suất sắc và đáng lẽ phải được tái bổ nhiệm ở nhiệm kỳ hai. Thứ hai, đối lập với các chủ tịch trước đó, bao gồm cả ông Paul Volker, Alan Greenspan, Ben Bernanke và bà Janet Yellen, ông Powell trưởng thành trong môi trường chuyên xử lý các vấn đề mang tính kỹ thuật trong chính sách mà không phải hoạch định chiến lược vĩ mô. Ông có thể rất giỏi trong điều hành hoạt động hàng ngày của FED, nhưng nếu có khủng hoảng xảy ra, giới quan sát cho rằng ông sẽ không đủ khả năng xử lý tốt.

Từ khi nhậm chức tới nay, ông Powell đã đạt được nhiều thành công trong điều hành chính sách tiền tệ, đặc biệt với những động thái quyết liệt trong năm 2021 góp phần giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực của đại dịch Covid-19 tới thị trường tài chính và nền kinh tế.

Ông Powell đang đứng trước những thách thức vĩ mô thực sự.

Tuy nhiên, tại thời điểm này, tình trạng đình lạm (stagflation) - trạng thái nền kinh tế đình đốn đồng thời với lạm phát tăng cao - đang diễn ra không chỉ ở Mỹ mà tại nhiều quốc gia trên thế giới đã đặt ông Powell trước những thách thức vĩ mô thực sự.

Nếu tiếp tục tăng lãi suất, kinh tế suy thoái và thất nghiệp gia tăng, ông Powell sẽ là người phải hứng chịu sự phẫn nộ không chỉ của giới chính trị gia ở Mỹ, người lao động Mỹ, mà còn cả của người dân toàn cầu.

Ngược lại, nếu dừng tăng lãi suất và lạm phát tiếp tục trầm trọng thêm sẽ dẫn đến bào mòn tài sản tích lũy của người dân, suy giảm đầu tư dài hạn, ông Powell cũng vẫn sẽ là người hứng chịu mọi mũi rìu dư luận.

Tăng lãi suất hay không là một bài toán khó giải.

Tăng lãi suất hay không là một bài toán khó giải.

Điều quan trọng nhất đối với FED

Ngày 26 tháng 3 năm 2010 (khi ông Powell vẫn đang là nghiên cứu viên của một trung tâm nghiên cứu với mức lương 1 đô-la/năm), ông Kevin Warsh, thành viên Hội đồng Thống đốc, đã khẳng định rằng: “Tài sản lớn nhất của FED là uy tín thể chế của nó”.

Ở đây, “uy tín” bao gồm sự độc lập về chuyên môn, khả năng bình ổn lạm phát, và độ tin cậy của thông tin, nhất quán về hành động của FED.

Với tất cả tài sản tài chính và quyền lực sâu rộng, tài sản lớn nhất của FED, theo ông Warsh, vẫn là uy tín thể chế của nó.

Một trong những nhiệm vụ căn cốt nhất của ngân hàng trung ương nói chung, và FED nói riêng, là ổn định lạm phát. Để làm được như vậy, ngân hàng trung ương, ngoài những công cụ chính sách, cần phải giữ được uy tín của mình. Điều đó được lý giải trên ba khía cạnh:

Một trong những nhiệm vụ căn cốt nhất của ngân hàng trung ương nói chung, và FED nói riêng, là ổn định lạm phát.

Thứ nhất, ngân hàng trung ương luôn cần thể hiển được sự độc lập về chuyên môn trong việc đánh giá tình hình thực tế và cân nhắc các giải pháp phù hợp. Khi nền kinh tế đối mặt với một cú sốc ảnh hưởng tới tăng trưởng, các chính trị gia thường sẽ quan tâm nhiều tới việc duy trì tốc độ tăng trưởng và hạn chế tình trạng thất nghiệp. Khi không thể điều chỉnh giảm thuế hoặc tăng chi tiêu chính phủ để kích thích tăng trưởng, các chính trị gia sẽ gây áp ực để ngân hàng trung ương nới rộng chính sách tiền tệ. Nếu không khẳng định được sự độc lập về chuyên môn, ngân hàng trung ương sẽ có nguy cơ rơi vào trạng thái xem nhẹ mục tiêu kiểm soát lạm phát và tập trung kích cầu, gây ra hậu quả lâu dài cho sự ổn định đồng tiền quốc gia và nền kinh tế, như đã thấy trong siêu lạm phát ở Đức những năm 1920, Argentina vào những năm 1980 và Zimbabwe vào những năm 2000.

“Tài sản lớn nhất của FED là uy tín thể chế của nó”.

Kevin Warsh

Thứ hai, uy tín của ngân hàng trung ương nằm ở cam kết kiềm chế lạm phát trong trung và dài hạn. Khi thị trường không tin tưởng rằng ngân hàng trung ương sẽ dùng hết của mình để giữ lạm phát ổn định ở mức “chấp nhập được”, thì chính những ước đoán lạm phát cao sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới các hành vi kinh tế, do đó, có thể gây ra lạm phát cao hơn. Khi một mức lạm phát kỳ vọng đã ăn sâu vào nền kinh tế, mọi công cụ chính sách của ngân hàng trung ương đều sẽ bị vô hiệu hoá.

Thứ ba, thị trường cần được bảo đảm rằng những thông tin và quyết định chính sách từ phía ngân hàng trung ương là có độ tin cậy cao - nếu đã tuyên bố tăng hay giảm lãi suất, thì chắc chắn sẽ thực hiện. Đây là một điều rất khó cho các ngân hàng trung ương do cơ chế “không nhất quán thời gian” (time inconsistency) vốn có của chính sách tiền tệ. Cụ thể, tại thời điểm bất kỳ, ngân hàng trung ương có thể đánh giá lạm phát đang tăng cao nên sẽ phải tăng lãi suất vào kỳ sau. Nếu thị trường tin tưởng vào tuyên bố của ngân hàng trung ương và điều chỉnh các hành vi kinh tế tương ứng với lãi suất được điều chỉnh tăng, lạm phát sẽ tự động giảm. Đến thời điểm chính thức ban hành chính sách, ngân hàng trung ương sẽ ở tình trạng “tiến thoái lưỡng nan”: nếu vẫn tiếp tục tăng lãi suất như đã thông báo sẽ có thể đẩy lạm phát xuống quá thấp kéo theo nguy cơ suy thoái kinh tế; Nhưng nếu không tăng lãi suất, ngân hàng trung ương sẽ mất uy tín do không nhất quán giữa lời nói và việc làm.

Đối với cả ba khía cạnh liên quan tới uy tín của FED, ông Powell phải rất thận trọng trong bối cảnh hiện nay.

Trụ sở Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (FED). Ảnh: Reuters

Trụ sở Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (FED). Ảnh: Reuters

Lịch sử uy tín của FED

FED được thành lập năm 1913, với 12 Ngân hàng dữ trự khu vực và 1 Hội đồng Thống đốc đặt tại thủ đô Washinhton DC. Trong giai đoạn 1913-1933, các Ngân hàng dữ trữ khu vực được tự chủ và phân quyền trong rất nhiều hoạt động, bao gồm cả việc quyết định cung cấp thanh khoản trên hệ thống liên ngân hàng và lãi suất khu vực. Trong khi đó, các thành viên chủ chốt của Hội đồng Thống đốc chịu sự chi phối trực tiếp của Bộ Ngân khố Mỹ. Sau năm 1933, quyền lực hệ thống được tập trung nhiều hơn vào Hội đồng Thống đốc và tính độc lập với Chính phủ được khẳng định trong luật. Tuy nhiên, Hội đồng Thống đốc vẫn duy trì “truyền thống” chịu sự chi phối của Bộ Ngân khố Mỹ khi đưa ra các quyết định chính sách.

Với lịch sử phát triển như vậy, vai trò của Hội đồng Thống đốc cũng như cá nhân các Chủ tịch Hội đồng - trước những năm 1980 - không được đề cao. Về cơ bản, FED được thị trường đánh giá là cơ quan phục vụ các mục tiêu mang tính chính trị nhiều hơn, cụ thể là đề cao tăng trưởng kinh tế thay vì kiềm chế lạm phát.

Đỉnh điểm của sự yếu kém của FED trong kiểm soát lạm phát được bộc lộ trong giai đoạn 1970-1979.

Trong suốt những năm 1960, lạm phát ở Mỹ tăng dần lên tới sát 6%; lãi suất cơ bản được đẩy lên gần 9% trong nỗ lực ứng phó. Bước sang thập kỷ 1970s, Arthur Burns và người kế nhiệm của ông, William Miller, tiếp tục điều chỉnh lãi suất cơ bản để kiềm chế lạm phát, nhưng nhanh chóng đảo ngược hành động của mình ngay khi lạm phát bắt đầu giảm xuống vì sợ sẽ làm ảnh hưởng đến tình trạng thất nghiệp và tăng trưởng. Kết quả là cả lạm phát và thất nghiệp đều ở mức cao kỷ lục so với giai đoạn trước đó.

Ông Paul Volcker - người đặt nền móng cho vị thế độc lập toàn diện của FED. Ảnh: Reuters

Ông Paul Volcker - người đặt nền móng cho vị thế độc lập toàn diện của FED. Ảnh: Reuters

Uy tín trong việc kiểm soát lạm phát của FED chỉ được cải thiện khi ông Paul Volcker chính thức đảm nhiệm vị trí Chủ tịch từ ngày 6 tháng 8 năm 1979.

Ngay sau khi nhận chức, ông Volcker đã đẩy lãi suất cơ bản lên cao và - bất chấp sự phản đối của Tổng thống Jimmy Carter và Ronald Reagan - giữ lãi suất cơ bản ở mức cao trong suốt 8 năm tiếp theo. Lạm phát giảm dần, với cái giá phải trả là thất nghiệp gia tăng kỷ lục, lên tới mức hơn 10% vào năm 1982. Tới tận khi ông Volcker rời ghế chủ tịch vào tháng 8/1987, tỷ lệ lạm phát mới dịch về ở mức hơn 6,5%.

Dù phải chịu áp lực chính trị nặng nề tại thời điểm đó, sự độc lập theo luật của FED đã cho phép Volcker tiếp tục chính sách của mình. Dù đã bắt nền kinh tế trải qua thời kỳ tỷ lệ thất nghiệp cao, nhiệm kỳ của ông đã mang lại cho FED uy tín chưa bao giờ có được. Trên thực tế, cũng phải từ nhiệm kỳ của ông trở đi, giới quan sát mới thực sự quan tâm ai là chủ tịch của FED và người đó có quan điểm điều hành thế nào.

Ông Powell phải làm gì?

Cho dù mọi sự so sánh đều khập khiễng, nhưng có vẻ như ông Powell đang đứng trước bối cảnh kinh tế tương tự như khi ông Volcker nhậm chức.

Kể từ Khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2009 tới nay, lãi suất cơ bản luôn được giữ ở mức rất thấp; lạm phát ổn định ở mức thấp và tỷ lệ thất nghiệp luôn tiến triển theo xu thế tích cực (trừ giai đoạn Covid-19 2020-2021).

Tuy nhiên, đến thời điểm tháng 11/2022, lạm phát đã vọt lên mức cao nhất trong vòng 40 năm qua; lãi suất cơ bản cũng đã được nâng lên ở mức cao nhất trong vòng 10 năm trở lại đây. Như đã phân tích ở trên, ông Powell đang chịu áp lực rất lớn để ngừng nâng lãi suất, vì nếu tiếp tục tăng lãi suất sẽ có nguy cơ đẩy nền kinh tế Mỹ và thế giới vào giai đoạn suy thoái trong những tháng cuối năm 2022 và năm 2023.

Cá nhân ông Powell sẽ được lịch sử ghi nhận như Arthur Burns và William Miller, những người bất lực trước lạm phát; hay như Paul Volcker, người đặt nền móng cho vị thế độc lập toàn diện của FED? (Ảnh: Wall Street Journal)

Cá nhân ông Powell sẽ được lịch sử ghi nhận như Arthur Burns và William Miller, những người bất lực trước lạm phát; hay như Paul Volcker, người đặt nền móng cho vị thế độc lập toàn diện của FED? (Ảnh: Wall Street Journal)

Nếu bỏ qua các tính toán kỹ thuật để nhìn vào bài học lịch sử, câu hỏi đặt ra là ông Powell nên làm gì để khẳng định uy tín của FED trong vấn đề kiểm soát lạm phát. Thêm vào đó, cá nhân ông Powell sẽ được lịch sử ghi nhận như Arthur Burns và William Miller, những người bất lực trước lạm phát; hay như Paul Volcker, người đặt nền móng cho vị thế độc lập toàn diện của FED và đến nay vẫn luôn được công nhận là một trong những người đứng đầu ngân hàng trung ương giỏi nhất mọi thời đại?

Theo đó, câu trả lời sẽ khá rõ ràng: ông Powell sẽ tiếp tục tăng lãi suất cơ bản và duy trì nó ở mức cao cho đến sau khi lạm phát quay trở về mức chấp nhận được - không sớm hơn dù chỉ một phút.

Thế giới, vì vậy, có lẽ nên chuẩn bị sẵn sàng cho một thời kỳ lãi suất cao kéo dài.


[1] S. Lee and S. Ditko, Amazing Fantasy No. 15: “SpiderMan,” p. 13 (1962)

Có thể bạn quan tâm

Sản xuất hàng dệt may xuất khẩu tại Tổng công ty May 10.

Bài 2: Khẳng định vị thế toàn cầu

Theo Quyết định 1643/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chiến lược phát triển ngành dệt may và da giày Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2035”

Thành phố Hồ Chí Minh đặt mục tiêu trở thành siêu đô thị có trung tâm dịch vụ hàng đầu Đông Nam Á. Trong ảnh: Một góc cảng Cái Mép. (Ảnh: THẾ ANH)

Vị thế trong chuỗi dịch vụ toàn cầu

Với những dư địa được tạo lập sau hợp nhất, Thành phố Hồ Chí Minh đặt mục tiêu trở thành siêu đô thị có trung tâm dịch vụ hiện đại, giá trị gia tăng cao của khu vực. Đây vừa là trụ cột chiến lược trong mô hình tăng trưởng, vừa là yêu cầu tất yếu để khẳng định vị thế của thành phố trong chuỗi dịch vụ toàn cầu.

Thu hoạch lúa ST25, giống lúa cho gạo ngon nhất thế giới, theo mô hình canh tác xanh tại thành phố Cần Thơ. (Ảnh: Nguyễn Phong)

Kết nối, hình thành vùng nguyên liệu, tiêu thụ nông sản bền vững

Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về tổ chức lại sản xuất nông nghiệp, nhiều địa phương đang kết nối các hộ sản xuất nhỏ lẻ, hình thành vùng nguyên liệu tập trung và chuỗi liên kết giá trị. Đây chính là nền tảng để nâng cao hiệu quả sản xuất, gia tăng sức cạnh tranh và phát triển nông nghiệp bền vững.

Phối cảnh Khu đô thị thể thao Olympic 9.171ha tại Thủ đô Hà Nội.

Mở dư địa tăng trưởng mới từ kinh tế thể thao

Nhìn nhận kinh tế thể thao là thành tố quan trọng trong sự nghiệp phát triển thể dục, thể thao nước nhà, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế-xã hội của địa phương, một số tỉnh ủy, thành ủy, chính quyền các tỉnh, thành phố đang chú trọng xây dựng chính sách, tạo khung khổ pháp lý để phát huy hiệu quả lĩnh vực này.

Bà Ngô Thị Nhung, Phó Giám đốc Kho bạc Nhà nước thông tin về tình hình hoạt động của Kho bạc Nhà nước những tháng đầu năm.

Công tác quản lý, điều hành ngân quỹ nhà nước tiếp tục được bảo đảm

Bám sát các chủ trương điều hành kinh tế-xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026, Kho bạc Nhà nước tiếp tục điều hành ngân quỹ nhà nước tập trung, thống nhất, an toàn, chủ động, công khai, minh bạch và hiệu quả, đáp ứng đầy đủ, kịp thời các nhu cầu chi của ngân sách nhà nước và các đơn vị có giao dịch với Kho bạc Nhà nước.

Những điểm mới đáng chú ý của Nghị định số 200/2026/NĐ-CP về chào bán trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ

Những điểm mới đáng chú ý của Nghị định số 200/2026/NĐ-CP về chào bán trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ

Ngày 5/6/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 200/2026/NĐ-CP quy định về chào bán trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ tại thị trường trong nước và chào bán trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế (thay thế Nghị định số 153/2020/NĐ-CP, Nghị định số 65/2022/NĐ-CP và Nghị định số 08/2023/NĐ-CP).

Bộ trưởng Xây dựng Trần Hồng Minh chủ trì Hội nghị tổng kết tình hình thực hiện các dự án đường bộ cao tốc giai đoạn 2021-2025 thuộc danh mục 3.000 km. (Ảnh: Cổng thông tin Bộ Xây dựng)

Hiện thực hóa mục tiêu 3.000km đường bộ cao tốc

Với sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ và sự vào cuộc trách nhiệm của toàn hệ thống, ngành xây dựng và giao thông đã tạo nên những dấu ấn mang tính lịch sử. Tính đến cuối năm 2025, tổng chiều dài đường bộ cao tốc đưa vào khai thác đã vượt mốc 3.300km, mở ra không gian phát triển mới cho các vùng kinh tế trọng điểm và cả nước.

Chủ tịch Tập đoàn BRG, Phó Chủ tịch Thường trực Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á, Quyền Chủ tịch Hội doanh nhân tư nhân Việt Nam phát biểu tại Đại hội.

Phát triển nguồn lực phụ nữ vì mục tiêu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ XIV đã tín nhiệm bầu bà Nguyễn Thị Nga - Chủ tịch Tập đoàn BRG, Phó Chủ tịch Thường trực Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á (SeABank), Quyền Chủ tịch Hội Doanh nhân tư nhân Việt Nam tiếp tục tham gia Ban Chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam nhiệm kỳ 2026-2031.

Đại diện Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam, đại diện tỉnh Bắc Ninh và các chuyên gia thảo luận tại Diễn đàn.

Chuyên gia chỉ rõ thách thức doanh nghiệp phải vượt qua để đạt tăng trưởng 2 con số

Trong khuôn khổ Vòng đối thoại địa phương Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam (VPSF) 2026, do Trung ương Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam triển khai tại tỉnh Bắc Ninh ngày 19/6, nhiều chuyên gia đã phân tích sâu, đưa ra đề xuất, giải pháp đột phá để doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp trẻ Bắc Ninh nói riêng phát huy lợi thế.

Bà Phạm Thị Hiền Trang, Giám đốc chuỗi Winmert+ trao quà tặng đến bà con xã Mèo Vạc.

5.000 phần quà WinMart+ trao tặng bà con Mèo Vạc, đánh dấu cửa hàng thứ 5.000

Ngày 18/6, chuỗi cửa hàng WinMart+ chính thức ra mắt cửa hàng thứ 5.000 trên toàn quốc tại xã Mèo Vạc, tỉnh Tuyên Quang. Đây là cột mốc ý nghĩa trên hành trình phát triển của mạng lưới bán lẻ có quy mô lớn nhất cả nước, đồng thời khẳng định cam kết mạnh mẽ của doanh nghiệp góp phần hiện đại hóa hạ tầng bán lẻ Việt Nam.

111 đồng chí trong Ban Chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam khóa XIV, nhiệm kỳ 2026-2031 đại diện cho các tầng lớp phụ nữ, các dân tộc, tôn giáo, lĩnh vực công tác và thành phần xã hội trên cả nước.

Đồng chí Đỗ Nguyệt Ánh tham gia Ban Chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam khóa XIV

Trong khuôn khổ Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2026-2031 diễn ra tại Hà Nội trong hai ngày 17 và 18/6, đồng chí Đỗ Nguyệt Ánh, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng công ty Điện lực miền bắc (EVNNPC), đã được tín nhiệm bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam khóa XIV.

Ông Nguyễn Quang Trí, Giám đốc Điều hành Marketing Vinamilk và ông Đỗ Thanh Tuấn, Giám đốc Đối Ngoại Vinamilk cùng 5 giải thưởng đạt được tại Giải thưởng Đổi mới sáng tạo ngành Sữa toàn cầu 2026, Barcelona-Tây Ban Nha. (Ảnh: Xavier)

Vinamilk chào đón kỷ niệm 50 năm thành lập với 5 giải thưởng quốc tế tại Hội nghị Sữa toàn cầu 2026

Tại World Dairy Innovation Awards 2026 (Giải thưởng Đổi mới sáng tạo ngành Sữa toàn cầu 2026) diễn ra trong khuôn khổ Hội nghị Sữa toàn cầu tại Barcelona (Tây Ban Nha), vượt qua nhiều tên tuổi lớn của ngành sữa thế giới, Vinamilk đã giành 5 giải thưởng từ 17 đề cử lọt vào vòng chung kết.

Ảnh minh họa: Kitco.com

Sáng 19/6, giá bạc quay đầu giảm

Sáng 19/6, giá bạc thế giới quay đầu giảm về ngưỡng gần 65 USD/ounce. Cùng chiều với thị trường thế giới, nhiều doanh nghiệp trong nước cũng điều chỉnh giá bạc giảm theo cả 2 chiều mua-bán.

Dòng vốn xanh tiếp tục mở rộng. (Đồ họa HỒNG ANH)

Mở lối cho dòng vốn xanh

Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững, yêu cầu về chất lượng tăng trưởng, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn và thực hành các tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị doanh nghiệp (ESG) đang ngày càng trở nên cấp thiết.