Tận dụng cơ hội từ trí tuệ nhân tạo

Mặc dù đã đạt được những thành quả ban đầu đáng khích lệ, việc nghiên cứu, phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) của Việt Nam đối mặt với rất nhiều thách thức, nếu không kịp thời khắc phục thì sẽ bỏ lỡ cơ hội phát triển.
Ngày hội Trí tuệ nhân tạo Việt Nam thu hút nhiều người đến trải nghiệm các sản phẩm ứng dụng trí tuệ nhân tạo.
Ngày hội Trí tuệ nhân tạo Việt Nam thu hút nhiều người đến trải nghiệm các sản phẩm ứng dụng trí tuệ nhân tạo.

Tại Ngày hội Trí tuệ nhân tạo Việt Nam do Bộ Khoa học và Công nghệ chỉ đạo vừa được tổ chức, nhiều sản phẩm ứng dụng trí tuệ nhân tạo được giới thiệu, như xử lý hình ảnh siêu âm, hình ảnh dự đoán về thai nhi; một số chatbot có tính năng chuyên biệt hỗ trợ doanh nghiệp, nhà lập trình; các sản phẩm về thị giác máy tính…

Theo đánh giá của Bộ Khoa học và Công nghệ, thời gian qua, trí tuệ nhân tạo được ứng dụng và triển khai trong một số bộ, ngành, và địa phương, hỗ trợ tự động hóa các công đoạn quản lý nhà nước; ứng dụng trong quốc phòng-an ninh; trong các lĩnh vực nông nghiệp, xây dựng, tài nguyên-môi trường, tài chính-ngân hàng, công nghiệp-thương mại, văn hóa, thể thao và du lịch, phát thanh-truyền hình. Công nghệ trí tuệ nhân tạo đang góp phần nâng cao rõ rệt năng suất lao động và cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân.

Nhìn vào các sản phẩm trí tuệ nhân tạo được phát triển thời gian qua cho thấy, một số tập đoàn, doanh nghiệp công nghệ trong nước đã đầu tư nghiên cứu, phát triển dựa trên nguồn dữ liệu và tri thức đặc thù của Việt Nam để giải quyết các nhu cầu của người dùng trong nước.

Tại Ngày hội Trí tuệ nhân tạo Việt Nam, lần đầu sản phẩm ứng dụng trí tuệ nhân tạo tạo sinh (công nghệ tạo hoặc sản xuất nội dung mới) được ra mắt, dưới dạng các trợ lý ảo giúp doanh nghiệp tối ưu hóa quy trình kinh doanh. Điều này chứng tỏ các nhà công nghệ trong nước bám sát xu hướng, khai mở tiềm năng to lớn của công nghệ hàng đầu thế giới này.

Theo ông Lê Hồng Quang, Phó Tổng Giám đốc thường trực Công ty cổ phần Misa, trí tuệ nhân tạo tạo sinh được kỳ vọng đóng góp 14.000 tỷ đồng cho Việt Nam vào năm 2030. Hiện, mức độ ứng dụng trí tuệ nhân tạo tạo sinh chưa nhiều, chỉ có 36% số doanh nghiệp đang tìm hiểu và 9% số doanh nghiệp đã triển khai trên thực tế.

Mặc dù đã đạt được những thành quả ban đầu, nhưng việc phát triển trí tuệ nhân tạo tại Việt Nam còn đối mặt với rất nhiều thách thức, như thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao, cơ sở hạ tầng hạn chế và khung pháp lý cho lĩnh vực này chưa hoàn chỉnh.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đinh Ngọc Minh, Phó Trưởng khoa Khoa học, Kỹ thuật và Công nghệ, kiêm Chủ nhiệm Chương trình Thạc sĩ Trí tuệ nhân tạo, Đại học RMIT, nhu cầu về các chuyên gia và kỹ sư trí tuệ nhân tạo vượt xa số lượng người có đủ trình độ hiện có, do đó, cần đầu tư vào đào tạo và giáo dục, tăng cường hợp tác giữa các tổ chức giáo dục và doanh nghiệp để phát triển chương trình đào tạo chuyên sâu về trí tuệ nhân tạo; xây dựng các chương trình đào tạo, thực tập và nghiên cứu chung với doanh nghiệp để đáp ứng nhu cầu nhân lực lĩnh vực này. Số lượng nhân lực làm về trí tuệ nhân tạo không nhiều, lại phân tán và chưa có sự kết nối, chia sẻ với nhau trong những dự án chung tầm quốc gia.

Thời gian qua, hạ tầng công nghệ thông tin và viễn thông chưa hoàn thiện và đồng bộ đã ảnh hưởng đến khả năng triển khai các giải pháp trí tuệ nhân tạo quy mô lớn. Nhiều doanh nghiệp công nghệ chia sẻ, họ mong muốn được sử dụng chung hệ thống máy hiện đại, tính toán nhanh để huấn luyện các mô hình trí tuệ nhân tạo thế hệ mới từ các đơn vị nghiên cứu công lập hay từ các tập đoàn, doanh nghiệp lớn.

Hiện nay, các trường đại học, doanh nghiệp công nghệ phải thuê máy của nước ngoài với chi phí lớn và tiềm ẩn nguy cơ lộ, lọt các thông tin bí mật... Trong bối cảnh hiện nay, để tận dụng nguồn lực về hạ tầng phục vụ cho phát triển chung thì không thể thiếu chính sách thúc đẩy của Nhà nước.

Dù số lượng doanh nghiệp ứng dụng trí tuệ nhân tạo ngày càng tăng, nhưng nhìn chung vẫn thấp và hầu như mới chỉ ứng dụng trong một vài công đoạn nhỏ của doanh nghiệp, nguyên nhân là do hạn chế về nhận thức, tài chính và hạ tầng của doanh nghiệp. Để thật sự mang lại giá trị cho doanh nghiệp, trí tuệ nhân tạo cần được tích hợp toàn diện vào hoạt động của doanh nghiệp.

Việc triển khai được trí tuệ nhân tạo vào doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc vào công nghệ, độ sẵn sàng của doanh nghiệp mà phụ thuộc rất nhiều yếu tố khác như môi trường kinh doanh, môi trường pháp lý. Thời gian qua, nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của trí tuệ nhân tạo trong việc phát triển kinh tế, xã hội của quốc gia, Đảng, Chính phủ đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách thúc đẩy nghiên cứu, phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo.

Một trong những văn bản pháp lý quan trọng nhất là Quyết định số 127/QĐ-TTg ngày 26/1/2021 về “Chiến lược Quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo đến năm 2030”. Chiến lược đặt ra các mục tiêu cụ thể nhằm thúc đẩy nghiên cứu, phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo, biến đây thành một lĩnh vực công nghệ chủ chốt của Việt Nam trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, đồng thời góp phần vào sự phát triển kinh tế-xã hội và nâng cao vị thế của Việt Nam trong lĩnh vực nghiên cứu và ứng dụng AI cả trong khu vực và toàn cầu.

Người dân tìm hiểu thông tin tại gian hàng của NIPA tại Ngày hội Trí tuệ nhân tạo Việt Nam 2024. (Ảnh BÁ HỘI)

Người dân tìm hiểu thông tin tại gian hàng của NIPA tại Ngày hội Trí tuệ nhân tạo Việt Nam 2024. (Ảnh BÁ HỘI)

Nhiều ý kiến cho rằng, Chiến lược cần được cụ thể hóa thành các cơ chế, chính sách, quy định để bảo đảm có hành lang pháp lý đầy đủ cho phát triển, ứng dụng các sản phẩm trí tuệ nhân tạo, như trong việc định giá sản phẩm ứng dụng trí tuệ nhân tạo, đấu thầu cung cấp sản phẩm công nghệ, phát triển trí tuệ nhân tạo có trách nhiệm…

Khác với các công nghệ truyền thống vốn là lợi thế của các nước phát triển, trí tuệ nhân tạo được cho là một cơ hội cho các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam nắm bắt để vượt lên phía trước. Các nhà công nghệ của Việt Nam khẳng định sẽ biến những khó khăn thành cơ hội để phát triển trí tuệ nhân tạo cho Việt Nam.

Ông Lê Hồng Quang cho biết, thời gian tới, các sản phẩm, giải pháp của đơn vị sẽ tích hợp trí tuệ nhân tạo với tiêu chí dễ tiếp cận, tiết kiệm chi phí và nhanh đưa lại hiệu quả để các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiêp nhỏ và vừa tiếp cận, tăng năng lực cạnh tranh trên thị trường, từ đó đóng góp vào phát triển kinh tế của đất nước.

Tập đoàn FPT cũng đã đầu tư và cung cấp dịch vụ hạ tầng cho tính toán, huấn luyện mô hình trí tuệ nhân tạo, nhất là trong bối cảnh ứng dụng công nghệ nhân tạo tạo sinh đòi hỏi năng lực tính toán lớn.

Giáo sư Vũ Hà Văn, Giám đốc Khoa học VinBigdata cho rằng, cần làm chủ các ứng dụng trí tuệ nhân tạo tạo sinh để tận dụng nguồn dữ liệu của người Việt mà các ứng dụng nước ngoài khó “với” tới được.

Tại sự kiện Ngày hội Trí tuệ nhân tạo Việt Nam, Thứ trưởng Khoa học và Công nghệ Bùi Thế Duy khẳng định, sẽ đẩy mạnh kết nối để tạo nên hệ sinh thái về trí tuệ nhân tạo mạnh mẽ ở Việt Nam, góp phần phát triển kinh tế-xã hội, thúc đẩy nâng cao năng suất, chất lượng của quốc gia.

Có thể bạn quan tâm

Đào tạo an ninh mạng tại CyRadar giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực phòng thủ.

Tăng năng lực phòng vệ của doanh nghiệp

Chuyển đổi số đang mở ra nhiều cơ hội tăng trưởng cho doanh nghiệp Việt Nam nhưng cũng kéo theo những rủi ro an ninh mạng phức tạp. Khi dữ liệu trở thành tài sản chiến lược, khả năng bảo vệ hệ thống và thông tin không còn là vấn đề kỹ thuật mà trở thành năng lực phòng vệ quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp.

Hoạt động nghiên cứu tại Phòng Thí nghiệm trọng điểm Công nghệ Lọc, Hóa dầu (Viện Hóa học công nghiệp Việt Nam).

Đầu tư hạ tầng nghiên cứu cho công nghệ chiến lược

Phát triển hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia là một trong những giải pháp để hiện thực hóa mục tiêu đột phá về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo Nghị quyết 57-NQ/TW. Thực trạng lạc hậu về công nghệ đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tổ chức lại hạ tầng nghiên cứu theo hướng tập trung, đồng bộ và hiệu quả.

Phòng An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao Công an thành phố Đà Nẵng đấu tranh tội phạm trên không gian mạng. (Ảnh: Công Vinh)

Nâng cao ý thức làm chủ, bảo vệ không gian mạng

Tại Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm tiếp tục khẳng định chủ trương của Đảng về bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới, khi nhấn mạnh yêu cầu: Tự chủ chiến lược, có năng lực kiểm soát rủi ro, có thể chế vững, có trật tự xã hội ổn định, có sự hội nhập quốc tế sâu rộng...

UAV được thử nghiệm phun thuốc cho cây cà-phê tại xã Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.

Cơ chế sandbox đã sang giai đoạn triển khai thực tế

Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết, bên cạnh chuẩn bị cấp phép mô hình thử nghiệm có kiểm soát đầu tiên về phát triển kinh tế tầm thấp, ứng dụng phương tiện bay không người lái (UAV) tại tỉnh Điện Biên, một số địa phương, doanh nghiệp cũng bày tỏ quan tâm đến việc triển khai thử nghiệm mô hình sandbox.

Định vị vị thế Việt Nam trên bản đồ sở hữu trí tuệ toàn cầu

Định vị vị thế Việt Nam trên bản đồ sở hữu trí tuệ toàn cầu

Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, sở hữu trí tuệ ngày càng khẳng định vai trò là một trụ cột quan trọng của nền kinh tế tri thức. Những năm qua, Việt Nam đã chủ động hoàn thiện thể chế, từng bước xây dựng hệ thống sở hữu trí tuệ tương thích với chuẩn mực quốc tế và đạt được nhiều kết quả tích cực.

Bảo đảm pháp lý khi chuyển chất xám trí tuệ thành dòng vốn trên thị trường

Bảo đảm pháp lý khi chuyển chất xám trí tuệ thành dòng vốn trên thị trường

Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025 được thông qua cho thấy những vấn đề pháp lý sở hữu trí tuệ đã được điều chỉnh gần và sát thực tiễn hiện nay. Trong đó, việc định giá tài sản sở hữu trí tuệ làm tài sản bảo đảm đang là nội dung thu hút sự quan tâm của đông đảo dư luận, nhất là với giới khởi nghiệp liên quan đổi mới sáng tạo.

Các sản phẩm của Hợp tác xã sản xuất và tiêu thụ dược liệu Yên Sơn (thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình) tăng mạnh về số lượng bán ra thị trường nhờ thực hiện truy xuất nguồn gốc. (Ảnh: Hà An)

Hạ tầng số nông nghiệp và môi trường

Việc nhanh chóng xây dựng hạ tầng số cho ngành nông nghiệp và môi trường không chỉ để đáp ứng các điều kiện cần của thị trường mà còn là cơ sở cho quá trình chuẩn hóa kỹ thuật, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và nâng cao chất lượng cuộc sống của con người.