Tài sản công dôi dư sẽ “đi” về đâu?

Việc tinh gọn tổ chức bộ máy, sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã, bỏ cấp huyện là quyết định lịch sử, tạo không gian phát triển cho đất nước vươn mình, hướng tới giàu mạnh và hùng cường. Trong khối lượng công việc khổng lồ, phức tạp, nhạy cảm mà chúng ta đang làm, không thể không nói đến số tài sản công dôi dư, nhất là công sở sẽ “đi” về đâu, sử dụng như thế nào để không lãng phí, thất thoát. Tìm lời đáp cho vấn đề này không hề đơn giản.
Quản lý và sử dụng hợp lý công sở dôi dư sau sắp xếp là đòi hỏi cấp bách. Ảnh: MỸ HÀO
Quản lý và sử dụng hợp lý công sở dôi dư sau sắp xếp là đòi hỏi cấp bách. Ảnh: MỸ HÀO

Theo dự kiến số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương sau sáp nhập còn hơn 50%; gần 700 đơn vị hành chính cấp huyện không còn nữa; 10.035 đơn vị cấp xã cũng giảm còn khoảng 30%-40%. Như vậy là sẽ có hàng nghìn công sở dôi dư và số lượng rất lớn phương tiện, trang bị làm việc, từ bàn ghế đến máy móc và nhiều tài sản có giá trị khác được mua sắm từ nguồn ngân sách nhà nước cần có phương án xử lý hiệu quả, không để lãng phí, thất thoát.

“Cha chung” ai cũng phải khóc

Chủ trương tinh gọn tổ chức bộ máy, sáp nhập đơn vị hành chính theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp, gồm cấp tỉnh và cấp xã là một cuộc cách mạng với quy mô chưa từng có. Các cơ quan Trung ương gương mẫu làm trước, cán bộ, công chức, viên chức các bộ, ngành... đã về ngôi nhà chung sau hợp nhất, nhưng nhiều trụ sở làm việc vẫn đang “nằm lại phía sau”. Cán bộ cấp tỉnh, huyện, xã cũng đang nghe ngóng quyết định từ Trung ương. Dự kiến ngày 1/7 tới, cấp xã sau sáp nhập sẽ đi vào hoạt động; đối với cấp tỉnh là từ ngày 30/8/2025. Trong khi chúng ta “vừa chạy vừa xếp hàng”, dồn sức cho nhiều việc phải hoàn thành sớm, trước mắt là sửa đổi luật, nghiên cứu, lấy ý kiến các cấp, các ngành, địa phương, hoàn thiện đề án sáp nhập đơn vị hành chính, đặc biệt là việc tinh giản, sắp xếp cán bộ để ai có thể tiếp tục công tác, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ giai đoạn phát triển mới của đất nước; ai nằm trong danh sách dôi dư và chế độ, chính sách đối với họ như thế nào. Việc tính toán, sử dụng tài sản công, nhất là công sở dôi dư chưa được quan tâm đúng mức trong lúc này.

Vấn đề sáp nhập đơn vị hành chính trước đây chúng ta đã làm và số tài sản, công sở dôi dư được các ngành, địa phương liên quan cố gắng xử lý bằng cách chuyển mục đích sử dụng. Nhưng nhiều nơi không tránh khỏi lãng phí, thất thoát, thậm chí có nơi công sở bị bỏ không trong thời gian dài. Trụ sở làm việc của một số tỉnh ủy, ủy ban nhân dân tỉnh có diện tích rộng, xây dựng kiên cố, nhiều nhà làm việc, hội trường, nhà phục vụ, được sử dụng cho một số cơ quan với số lượng cán bộ công chức, viên chức không nhiều. Đó là chưa kể đến hàng loạt công sở của các sở, ngành cấp tỉnh, rồi trụ sở làm việc cấp xã cũng trong tình trạng tương tự. Khó nhất là công năng của trụ sở mỗi cấp mỗi khác; nhiều nơi muốn sử dụng được, “chủ mới” phải bỏ một khoản kinh phí nhất định để cải tạo.

Để tài sản công dôi dư không lãng phí, thất thoát, thiết nghĩ “việc cần làm ngay” khi các tổ chức chưa có đủ thời gian giải quyết là mọi cơ quan, cán bộ, công chức, viên chức cần có ý thức cao trong việc quản lý, bảo quản, bảo đảm mọi trang thiết bị không bị hư hỏng, mất mát; công sở không bị bỏ không. Ai cũng phải trân trọng, bảo vệ tài sản công như tài sản của chính mình, tránh kiểu “cha chung không ai khóc”.

Lúc này càng phải thấm nhuần lời dặn của Bác Hồ kính yêu: “Phải quý trọng của công: Tất cả cái ăn, cái mặc, cái dùng của các cô, các chú là mồ hôi nước mắt của đồng bào. Phải tiết kiệm, giữ gìn, không được lãng phí”. (Hồ Chí Minh toàn Tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, tập 9, H. 2011, trg 221).

Để lãng phí, thất thoát là có tội với dân

Thực hiện chủ trương sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, sáp nhập đơn vị hành chính, Tổng Bí thư Tô Lâm cùng Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã chỉ đạo rất quyết liệt theo tinh thần “vừa chạy vừa xếp hàng”, nhưng không được nóng vội, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ nặng nề này một cách triệt để, toàn diện. Trong bài viết Chống lãng phí, đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ ra tác hại và các giải pháp để chữa trị căn bệnh lãng phí. Đây là vấn đề cần quán triệt thật tốt khi tinh gọn tổ chức bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

Dù chưa mang lại kết quả như mong muốn, nhưng việc xử lý tài sản công, nhất là công sở dôi dư khi sáp nhập các đơn vị hành chính trước đây cho chúng ta nhiều kinh nghiệm, kể cả những việc chưa làm được. Ngay từ bây giờ, trong quá trình chuẩn bị sáp nhập đơn vị hành chính, cần tính đến việc quản lý tài sản công dôi dư, nhất là các trang thiết bị hiện đại, đắt tiền để có thể tiếp tục sử dụng khi bộ máy mới sau sáp nhập đi vào hoạt động, hạn chế tối đa mua sắm mới. Các đơn vị cần tổng kiểm kê tài sản đến khi hoàn tất việc sáp nhập. Đối với tài sản dôi dư hoặc phải xử lý thì lập hồ sơ báo cáo cấp có thẩm quyền quyết định. Việc bàn giao, tiếp nhận phải công khai, minh bạch và đầy đủ.

Các cơ quan sau sáp nhập chịu trách nhiệm quản lý và tìm cách chuyển đổi mục đích sử dụng công sở dôi dư của tỉnh, thành phố, huyện. Trong đó nhiều trụ sở làm việc của huyện và các ban, ngành cùng cấp có thể giao cho xã sử dụng làm nơi làm việc. Đối với công sở của tỉnh, các sở, ban, ngành cần được tính toán kỹ lưỡng, hợp lý để tránh tình trạng bỏ không lâu ngày, đây là khối lượng tài sản lớn nhưng rất khó chuyển đổi mục đích sử dụng vì công năng hoàn toàn khác. Một số ý kiến cho rằng có thể giao cho các trường học, hoặc bệnh viện sử dụng.

Chủ trương chống lãng phí nói chung, lãng phí tài sản công nói riêng luôn được Đảng, Nhà nước ta quan tâm từ trước đến nay. Nhưng tình trạng lãng phí vẫn còn diễn ra khá phổ biến, làm suy giảm nguồn lực con người, tài chính, giảm lòng tin của người dân với Đảng, Nhà nước, là rào cản vô hình trong phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.

Trong bối cảnh giao thời hiện nay, khi các cấp đang trong quá trình sáp nhập, giải thể (cấp huyện), công tác quản lý tài sản công vốn đã khó lại càng khó hơn, bởi tính chất của công việc, bởi nhiều cán bộ, công chức, viên chức bị tư tưởng sáp nhập chi phối mà xao nhãng công việc, thậm chí thiếu ý thức trong quản lý, không quý trọng tài sản công. Hơn bao giờ hết các cấp ủy, cơ quan cần xác định không để tài sản công dôi dư lãng phí, thất thoát là nhiệm vụ cấp bách; quán triệt đến mọi cán bộ, công chức, viên chức, thực hiện nghiêm Quy định số 189, ngày 8/10/2024 của Bộ Chính trị quy định về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công và Chương trình tổng thể của Chính phủ về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 ban hành theo Quyết định số 1719/QĐ-TTg, ngày 31/12/2024.

Có thể bạn quan tâm

Chương trình nghệ thuật đặc biệt Xuân Quê hương 2026. Ảnh: An Đăng

Nối vòng tay lớn, phát huy nguồn lực kiều bào

Trong giai đoạn phát triển mới, việc ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW là yêu cầu khách quan, đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về người Việt Nam ở nước ngoài và công tác người Việt Nam ở nước ngoài.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp cán bộ, nhân viên Đại sứ quán và đại diện cộng đồng người Việt Nam tại Canada. Ảnh: Thống Nhất

Tầm nhìn chiến lược trong giai đoạn phát triển mới

Nhất quán tinh thần đoàn kết trong đường lối chiến lược về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW - văn kiện chính trị quan trọng thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược của Đảng trong giai đoạn phát triển mới.

TS Trần Hải Linh.

Hun đúc sức mạnh đại đoàn kết vì khát vọng chung

Thực tế minh chứng, đại đoàn kết không thể chỉ được thể hiện bằng khẩu hiệu mà phải được cụ thể hóa bằng cơ chế tham gia, đối thoại, phản biện, ghi nhận và sử dụng thực chất những đóng góp của kiều bào. Đó là khẳng định của TS Trần Hải Linh, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nhân và Đầu tư Việt Nam-Hàn Quốc, Chủ tịch sáng lập Hội Chuyên gia, Trí thức Việt Nam-Hàn Quốc, khi trả lời phỏng vấn Nhân Dân cuối tuần.

Trại hè "Việt Nam 2026 - tôn vinh tiếng Việt gắn kết cộng đồng" được tổ chức dành riêng cho con em kiều bào ở xa Tổ quốc. Ảnh: UBNVNONN

Giữ tiếng Việt - Giữ một con đường trở về quê hương

Dù ở Tokyo, Paris, Seoul, Bangkok, Vientiane hay bất cứ nơi nào trên thế giới, khi một người trẻ tự hào nói hai tiếng Việt Nam, chúng ta biết rằng quê hương vẫn đang hiện diện trong trái tim các em. Bởi vậy, gìn giữ tiếng Việt không đơn thuần là gìn giữ sự tồn tại của một ngôn ngữ, mà đó là giữ một con đường trở về quê hương.

Cộng đồng người Việt tại Nga - nhịp cầu vững chắc nối tình hữu nghị Việt-Nga. Ảnh: Tâm Hằng

Chất xúc tác khơi lên tiềm lực kiều bào

Hơn 6,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ hướng về quê hương, mà nhờ sự gắn kết của các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, có thể cùng hơn 100 triệu người Việt Nam trong nước tạo thành một mạng lưới chung của trí tuệ, khát vọng và hành động.

Nghị quyết số 23-NQ/TW mang tới những định hướng quan trọng và rất mới về giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và tăng cường gắn kết với quê hương. Ảnh: Xuân Giao

Xây những nhịp cầu mang văn hóa Việt Nam ra thế giới

Bên cạnh câu hỏi quen thuộc “Kiều bào có thể đóng góp gì cho đất nước?”, chúng ta cần đặt thêm một câu hỏi quan trọng không kém: “Đất nước có thể tạo điều kiện ra sao để kiều bào phát huy tốt nhất khả năng đóng góp của mình?”. Đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt đối với một cộng đồng đông đảo, đa dạng và có lịch sử hình thành rất khác nhau như người Việt Nam ở nước ngoài.

Minh họa: PHAN DUY THANH

Thách thức trong kỷ nguyên dữ liệu

Trong thời đại mà mỗi phần trăm thành tích đều được đo đạc và tối ưu bằng dữ liệu, thế giới đã bước sang cuộc đua mới, nơi cảm biến và những con số có thể quyết định ranh giới thắng thua.

Vận động viên Hoàng Quý Phước là trường hợp hiếm hoi thuộc chương trình thí điểm khoa học đặc thù.

Khoảng trống còn thiếu

Muốn chinh phục mục tiêu giành từ năm đến bảy Huy chương vàng ASIAD, và phấn đấu có thành tích ổn định ở các kỳ Olympic, thể thao Việt Nam cần nhanh chóng ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào công tác đào tạo và huấn luyện vận động viên. Tuy nhiên, đây vẫn đang là mắt xích yếu nhất, đồng thời là bài toán lớn đầy thách thức ở thời điểm hiện tại.

Chuyên gia Dương Đức Thủy

“Chúng ta đã có máy, nhưng lại để trong kho!”

Đó là câu mà chuyên gia Dương Đức Thủy thốt lên trong cuộc trả lời phỏng vấn Nhân Dân cuối tuần. Bởi, vấn đề của điền kinh Việt Nam không chỉ là thiếu thiết bị, mà là thiếu cả thói quen dùng dữ liệu và tư duy chuyên nghiệp, từ nhà quản lý đến chính vận động viên.

Hệ thống SportVU tạo ra cuộc cách mạng ở nhiều môn thể thao tại Mỹ.

Từ tên lửa đến vạch ba điểm

Từ những năm 2005, hai nhà khoa học Israel với chuyên môn theo dõi tên lửa, Gal Oz và Miky Tamir, đã mang phương pháp định vị vật thể trong môi trường biến động đến với thể thao.

Nguyễn Thanh Nhàn ăn mừng bàn thắng mang về Huy chương vàng SEA Games 33, với chiếc "áo yếm" Catapult bên trong.

Cất cánh trên đường băng công nghệ

Thể thao không còn thuần túy là trò chơi của con người, khi những ứng dụng khoa học công nghệ đã đi sâu vào từng ngõ ngách, giúp các chuyên gia “số hóa” năng lực vận động viên bằng hồ sơ vận động chi tiết, từ đó nâng hiệu quả tập luyện và thi đấu.

Công nghệ TrackMan thay đổi hoàn toàn tư duy huấn luyện, sang áp dụng khoa học dữ liệu. Ảnh: Thành Đạt

Bệ phóng cho những “cỗ máy” bắn bóng

Dù sở hữu hệ thống sân tập, thi đấu tiêu chuẩn, cùng số lượng người chơi tăng nhanh, golf Việt Nam vẫn gặp nhiều thách thức trong quá trình đào tạo vận động viên đỉnh cao.

Cầu Trần Hưng Đạo (Hà Nội), công trình hạ tầng trọng điểm, được đẩy nhanh tiến độ từ các chính sách khơi thông nguồn lực đất đai theo Luật Đất đai năm 2024. Ảnh: Thành Đạt

Thể chế hóa chủ trương, mở đường cho phát triển

Trong giai đoạn phát triển mới, việc sửa đổi Luật Đất đai năm 2024 hướng tới thể chế hóa và hiện thực hóa tinh thần xuyên suốt trong Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.

Dự án Luật Đất đai (sửa đổi) được kỳ vọng sẽ khơi thông nguồn lực đất đai và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, tổ chức, doanh nghiệp. Ảnh: Thành Đạt

Định vị vai trò mới trong phát triển đất nước

Khi mục tiêu phát triển thay đổi, từ vai trò đến tư duy quản lý, cách thức sử dụng đất đai cũng phải thay đổi. Đây được xác định là nhiệm vụ quan trọng, đã được Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan chỉ rõ.

Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức lấy ý kiến góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi). Ảnh: Hữu Hùng

Hoàn thiện cơ chế, tháo gỡ triệt để vướng mắc phát sinh

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của cơ quan chịu trách nhiệm soạn thảo, cơ quan thẩm định, các chuyên gia, luật sư đối với nội dung dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), nhằm đẩy nhanh tiến trình thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng, tạo môi trường đầu tư minh bạch hơn, dư địa khai thác hiệu quả hơn nguồn lực đất đai phục vụ phát triển kinh tế-xã hội và tiếp tục tháo gỡ triệt để vướng mắc phát sinh trong quá trình thực thi.

Cơ sở dữ liệu đất đai và cơ sở dữ liệu công chứng có chức năng khác nhau nhưng bổ trợ cho nhau.

Bảo đảm an toàn pháp lý trong giao dịch đất đai

Nội dung Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã cơ bản thể chế hóa đầy đủ các chủ trương lớn của Đảng về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, vẫn có một số vấn đề cần tiếp tục được rà soát, làm rõ, nhất là trong quy trình giao dịch đất đai.

Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã có nhiều điểm mới về hình thức bồi thường, chất lượng và địa điểm tái định cư cho người bị thu hồi đất. Trong ảnh: Người dân bị thu hồi đất phục vụ mở đường ở Đê La Thành về tái định cư tại Khu CT3 Nghĩa Đô, TP Hà Nội. Ảnh: HIẾU MINH

Minh bạch giá đất và phương án phục hồi sinh kế

Đã có nhiều điểm mới về hình thức bồi thường, chất lượng và địa điểm tái định cư, suất tái định cư tối thiểu cũng như cơ chế xác định giá bồi thường. Song, để bảo đảm tốt hơn quyền lợi của cả chủ đầu tư lẫn người có đất bị thu hồi và hạn chế vướng mắc trong giải phóng mặt bằng, Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) vẫn cần tiếp tục hoàn thiện một số quy định về vấn đề minh bạch giá đất và phương án phục hồi sinh kế.

Không gian trải nghiệm sáng tạo tại Trường Phổ thông dân tộc nội trú Trung học phổ thông tỉnh Lai Châu khuyến khích học sinh làm quen, thực hành kỹ thuật tạo hình truyền thống của các dân tộc tại địa phương. (Trong ảnh: Các em học sinh trải nghiệm thực hành kỹ thuật vẽ sáp ong của đồng bào Mông hoa). Ảnh: Vũ Công

Hoàn thiện hệ sinh thái giáo dục nghệ thuật hiện đại

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam xác định phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Một trong những mục tiêu đến năm 2030 mà Nghị quyết đề ra là 100% học sinh, học viên, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân được tiếp cận, tham gia hiệu quả, thường xuyên các hoạt động nghệ thuật, giáo dục di sản văn hóa.

Học phần Trải nghiệm hoạt động mỹ thuật của sinh viên Khoa Sư phạm Mỹ thuật, Trường đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương hiện được tích hợp đa dạng các hình thức đánh giá, khuyến khích sự sáng tạo của sinh viên. Nguồn ảnh: NUAE-Khoa Sư phạm Mỹ thuật.

Thúc đẩy tích hợp và tiếp cận liên ngành

Việc các cơ sở giáo dục đẩy mạnh chuyển đổi số, khai thác học liệu số, tăng cường thực hành, trải nghiệm đồng thời phối hợp với các tổ chức, cá nhân triển khai đa dạng các hoạt động giáo dục nghệ thuật trong và ngoài nhà trường, khuyến khích học sinh sáng tạo, cảm thụ và phát huy giá trị văn hóa truyền thống thể hiện rõ tinh thần đổi mới giáo dục nghệ thuật ở nước ta.

Giảng viên và sinh viên Khoa Nghệ thuật, Trường đại học Sư phạm Hà Nội tham gia Chương trình văn nghệ chào mừng “80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam”, tháng 1/2026.

Dịch chuyển phương pháp, chú trọng nguồn lực

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số nhà nghiên cứu, giảng viên, giáo viên bậc phổ thông về cách thức đổi mới giáo dục nghệ thuật, mức độ ứng dụng công nghệ trong giảng dạy và học tập, giúp cả thầy và trò vừa phát huy được tinh thần sáng tạo, nâng cao nhận thức thẩm mỹ, vừa góp phần bảo tồn, nhân lên giá trị nghệ thuật truyền thống của dân tộc.

Học sinh Trường tiểu học Phương Mai, Thành phố Hà Nội, tham dự Chương trình giao lưu Giáo dục kỹ năng tham gia giao thông an toàn cấp tiểu học năm học 2025-2026.

Để học sinh được sống trong âm nhạc

Giờ đây, chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi học sinh có thể tiếp cận vô số ca khúc, thể loại và xu hướng âm nhạc của Việt Nam cũng như thế giới. Nhưng nghe nhiều không đồng nghĩa với biết nghe; tiếp xúc âm nhạc thường xuyên cũng chưa chắc tạo nên năng lực cảm thụ âm nhạc. Bởi vậy, bên cạnh việc trang bị kiến thức, tăng cường các hoạt động trải nghiệm cần được xem là một nội dung quan trọng của giáo dục âm nhạc trong nhà trường.

Học sinh Trường THCS Lê Ngọc Hân tham gia triển lãm tranh và giao lưu với các bác, các chú thương binh tại Trung tâm Điều dưỡng thương binh ở tỉnh Ninh Bình. Ảnh: Lê Ngọc

Xây dựng môi trường khuyến khích sự sáng tạo

Giáo dục nghệ thuật ở bậc phổ thông hiện nay là con đường quan trọng để phát triển cảm xúc, khả năng quan sát, tư duy sáng tạo và phát triển nhân cách của học sinh. Trong đó, môn Mĩ thuật góp phần giúp học sinh biết cảm thụ cái đẹp, biết biểu đạt suy nghĩ và cảm xúc của mình, biết sáng tạo và làm cho môi trường sống chung quanh trở nên đẹp hơn.

Cấu trúc mô hình SMART - MUSIC, một phương pháp giáo dục âm nhạc có thể phù hợp với học sinh có nhu cầu giáo dục đặc biệt.

Ứng dụng công nghệ trong giáo dục đặc biệt

Việc ứng dụng công nghệ số trong dạy học âm nhạc cho học sinh có nhu cầu giáo dục đặc biệt mở ra khả năng tăng cường tính trực quan, linh hoạt và cá nhân hóa quá trình học tập. Những đặc điểm khác biệt về khả năng chú ý, giao tiếp, ghi nhớ và tốc độ tiếp thu của học sinh tự kỷ hoặc khuyết tật trí tuệ đặt ra yêu cầu lựa chọn nội dung, phương pháp và học liệu phù hợp với từng cá nhân.

Xây dựng trường học hạnh phúc không chỉ là một khẩu hiệu. Trong ảnh: Cô và trò Trường THPT Việt Đức. Ảnh: Thành Đạt

Đổi mới bắt đầu từ người thầy

Năm học 2026-2027 được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt kỳ vọng trở thành một năm học “hoàn toàn khác”, với những chuyển biến thực chất trong chất lượng giáo dục và đời sống nhà giáo.

Phát triển nghề nghiệp thông qua các lớp đào tạo, tập huấn hiệu quả sẽ giúp giáo viên vững bước trên hành trình nghề nghiệp. Trong ảnh: Lớp đào tạo kỹ năng đặt câu hỏi trong môn Ngữ văn tại Trường THCS Nguyễn Du (Hà Nội).

Mọi cải cách đều phải xuất phát từ lớp học

Một chương trình có thể được thiết kế rất hiện đại, một nền tảng số có thể được giới thiệu với nhiều tính năng, một chủ trương có thể đúng về tầm nhìn, nhưng khi bước qua cánh cửa lớp học, chất lượng của đổi mới vẫn phụ thuộc vào người giáo viên. Liệu họ có hiểu chủ trương, tin vào ý nghĩa của nó, có đủ năng lực, thời gian và quyền chủ động để hiện thực hóa nó hay không?

TS Vũ Minh Đức - Cục trưởng Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo).

Hành lang pháp lý bảo vệ người thầy

Năm học 2026-2027 đánh dấu một cột mốc đặc biệt, khi Luật Nhà giáo chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2026. Lần đầu trong lịch sử giáo dục Việt Nam, vị thế, quyền lợi và trách nhiệm của người thầy được thể chế hóa bằng một đạo luật riêng. Để làm rõ những chính sách mới mang tính đột phá - từ tiền lương, phụ cấp, tuyển dụng đến bảo vệ quyền hành nghề của giáo viên, phóng viên Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với TS Vũ Minh Đức - Cục trưởng Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo) chung quanh vấn đề này.

Khoảnh khắc cô Vũ Minh Trang, giáo viên chủ nhiệm lớp 6C Trường THCS Nguyễn Du “khoe” những thành quả đáng trân trọng nhất của mỗi giáo viên. Ảnh: Thành Đạt

Khoảng trống sau mỗi tiết dạy

Trên thực tế, nhiều giáo viên cho biết họ có thể hoàn thành tốt các công việc chuyên môn, từ soạn giáo án đến đứng lớp nhiều tiết. Song, điều khiến họ cảm thấy áp lực hơn cả là việc phải xử lý những vấn đề “ngoài giờ”. Chăm sóc sức khỏe tinh thần cho đội ngũ giáo viên đang được đặt ra cấp bách.