Chế biến sâu và nâng tầm công nghệ

Chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần, ông Trần Bình Trọng, Cục trưởng Địa chất và Khoáng sản Việt Nam - Bộ Nông nghiệp và Môi trường, chia sẻ: Trong quá trình cấp phép đầu tư, khai thác đất hiếm phải bảo đảm không chỉ dừng ở khai thác thô mà luôn gắn với chế biến sâu và chuyển giao, nâng tầm công nghệ.

Ông Trần Bình Trọng, Cục trưởng Địa chất và Khoáng sản Việt Nam - Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Ông Trần Bình Trọng, Cục trưởng Địa chất và Khoáng sản Việt Nam - Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

- Thưa ông, hiện nay việc quản lý, khai thác đất hiếm còn gặp những khó khăn, vướng mắc gì?

- Đất hiếm là khoáng sản chiến lược đặc biệt. Vì vậy, mọi hoạt động điều tra, đánh giá, thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng đất hiếm phải tuân thủ chiến lược quốc gia về đất hiếm, quy hoạch về đất hiếm. Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất hiện nay không phải là thiếu tài nguyên, mà là thiếu năng lực để biến tài nguyên đặc biệt này thành giá trị.

Đất hiếm của nước ta được phân bố phức tạp ở địa hình miền núi, điều kiện khai thác khó, chi phí cao. Nhưng vấn đề cốt lõi là chúng ta chưa làm chủ được công nghệ chế biến sâu, chưa hình thành được chuỗi giá trị hoàn chỉnh.

Bên cạnh đó, dữ liệu địa chất ở một số khu vực vẫn cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng điều tra địa chất, đánh giá tiềm năng tài nguyên và thăm dò xác định trữ lượng đất hiếm một cách đồng bộ, chính xác.

Chúng ta không thiếu tài nguyên, nhưng còn thiếu năng lực khai thác hiệu quả và quản trị hiện đại.

- Để chế biến sâu đòi hỏi phải có công nghệ tiên tiến. Những năm qua, vấn đề phối hợp, chuyển giao công nghệ đã được làm tốt chưa, thưa ông?

- Thực tế, vướng mắc lớn nhất lúc này là công nghệ lõi. Các nước đang làm chủ công nghệ này cấm hoặc hạn chế chuyển giao cho các nước, trong đó có Việt Nam.

Hiện nay, phần lớn việc khai thác ở ta mới dừng ở khâu tuyển, tách ban đầu, trong khi giá trị cao nhất nằm ở các khâu phân tách tinh, luyện kim và vật liệu. Đây là những công nghệ mà thế giới nắm giữ rất chặt.

Một điểm nghẽn khác là chính sách chưa đủ mạnh để buộc doanh nghiệp đi vào chế biến sâu. Nếu không siết chặt, rất dễ quay lại mô hình cũ: khai thác-xuất thô-mất giá trị. Luật Địa chất và khoáng sản (sửa đổi) đã xử lý rất rõ vấn đề này theo hướng: cấp phép phải gắn với chế biến sâu và chuyển giao công nghệ.

dat-hiem-co-vai-tro-lon-trong-nganh-cong-nghiep-chip-ban-dan.png
Đất hiếm có vai trò lớn trong ngành công nghiệp chip bán dẫn.

- Xin ông đánh giá về nguy cơ đã được cảnh báo - Đất hiếm có thể bị khai thác bừa bãi nếu khâu quản lý bị thả nổi?

- Nhận định đó là có cơ sở, nhưng cần nhìn đúng bản chất. Chúng ta không thiếu trữ lượng, mà “hiếm” ở khả năng khai thác và chế biến hiệu quả. Nếu quản lý lỏng lẻo, hoàn toàn có thể xảy ra tình trạng khai thác trái phép, thu gom tự phát, gây thất thoát tài nguyên.

- Một vấn đề đặt ra là trong quá trình khai thác, phân tách sẽ tiềm ẩn rủi ro về môi trường. Vậy cần phương án nào để “chặn” đứng những nguy cơ ấy?

- Bảo vệ môi trường là yêu cầu bắt buộc, không còn lựa chọn nào khác. Trong quá trình khai thác, chế biến đất hiếm có thể đi kèm các yếu tố độc hại, phóng xạ, nếu không kiểm soát tốt sẽ gây tác động lớn đến môi trường và cộng đồng.

Luật Địa chất và khoáng sản (sửa đổi) đã thay đổi cách tiếp cận: Cơ quan chức năng sẽ quản lý môi trường xuyên suốt vòng đời dự án; gắn tiêu chuẩn môi trường với điều kiện cấp phép; áp dụng tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị (ESG). Nếu dự án không đáp ứng yêu cầu môi trường thì không được triển khai.

- Nhìn dài hạn, đâu là giải pháp để quản trị tài nguyên đất hiếm minh bạch, hiệu quả và bền vững, thưa ông?

- Có năm nhóm giải pháp cốt lõi. Thứ nhất, quản lý theo chuỗi giá trị: Không quản từng mỏ, mà quản toàn bộ quá trình từ điều tra-thăm dò-khai thác-chế biến-sử dụng.

Thứ hai, làm chủ công nghệ, đây là yếu tố quyết định để giữ lại giá trị trong nước.

Thứ ba, xây dựng hệ thống dữ liệu và giám sát số, quản lý tài nguyên phải dựa trên dữ liệu, truy xuất được toàn bộ quá trình.

Thứ tư, áp dụng cơ chế kiểm soát khoáng sản chiến lược, không xuất khẩu thô, có điều tiết sản lượng, có dự trữ.

Thứ năm, bảo đảm môi trường và trách nhiệm xã hội, phát triển phải đi đôi với bảo vệ môi trường và lợi ích cộng đồng.

Thời gian tới, chúng tôi sẽ tập trung hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về dữ liệu điều tra cơ bản địa chất, thống kê-kiểm kê tài nguyên khoáng sản; triển khai dịch vụ công trực tuyến toàn trình trong giải quyết thủ tục hành chính khoáng sản; đồng thời tăng cường kiểm tra chuyên ngành nhằm kịp thời phát hiện, ngăn chặn vi phạm trong bối cảnh Luật mới được triển khai đồng bộ.
Đối với Đề án “Điều tra, đánh giá tổng thể tiềm năng khoáng sản chiến lược (đất hiếm) trên lãnh thổ Việt Nam (phần đất liền) và thăm dò một số diện tích có triển vọng”, năm 2026 chúng tôi đặt mục tiêu hoàn thành thi công giai đoạn hai và tiếp tục triển khai khai thác thử nghiệm tại tỉnh Phú Thọ.

- Xin trân trọng cảm ơn ông!

Đất hiếm phải được bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả gắn với yêu cầu phát triển bền vững kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước, theo quan điểm xuyên suốt là: Không đánh đổi tài nguyên chiến lược lấy lợi ích ngắn hạn”.

Ông Trần Bình Trọng

Có thể bạn quan tâm

Cán bộ kỹ thuật lấy mẫu cho quá trình nghiên cứu chiết tách. (Nguồn: Viện Công nghệ xạ hiếm)

Nền tảng của công nghiệp xanh

Trong bối cảnh toàn cầu hóa cũng như cam kết lịch sử đưa mức phát thải ròng về “0”, đất hiếm nổi lên như một nhóm vật liệu chiến lược mang tính quyết định, không thể thay thế.

Nếu không được kiểm soát, gánh nặng môi trường do khai thác khoáng sản có thể đè nặng lên vai của cộng đồng dân cư. (Ảnh Hoàng Tuân)

Gia cố “màng lọc” bảo vệ môi trường

Việc tồn tại nhiều điểm khai thác khoáng sản thiếu bền vững, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi sinh đòi hỏi công tác quản lý phải xem xét nghiêm túc, từ đó tìm ra giải pháp phù hợp trong khai thác, tách chế đất hiếm.

Ông Phạm Hùng Cát (trái) chia sẻ nỗi lo lắng khi môi trường bị đe dọa. (Ảnh NAM NGUYỄN)

Bài toán lãng phí kép từ một vụ vi phạm

Từng là một công trường khai thác sôi động, nhưng hiện giờ, khu mỏ đất hiếm thuộc thôn Yên Sơn, xã Xuân Ái (tỉnh Lào Cai) trở nên im lìm. Nhà xưởng bị bỏ hoang, máy móc hoen gỉ, tồn tại nguy cơ đe dọa môi trường nước trong khu vực.

Một dự án khai thác đất hiếm tại bang Alaska (Mỹ).

Điều quan trọng nhất không phải là trữ lượng

Sở hữu tiềm năng đất hiếm đứng thứ hai thế giới, Việt Nam đang nắm trong tay một lợi thế địa kinh tế quan trọng. Tuy nhiên, khoảng cách từ trữ lượng dưới lòng đất đến một ngành công nghiệp mang lại giá trị thực tiễn là một chặng đường dài.

Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên và ông Kim Jung Kwan, Bộ trưởng Thương mại, Công nghiệp và Năng lượng Hàn Quốc (MOTIE).

Tận dụng lợi thế chuỗi cung ứng

Với tiềm năng sẵn có, Việt Nam không chỉ cần khai thác đất hiếm một cách thông minh, mà còn cần xây dựng chuỗi cung ứng minh bạch, tận dụng được các lợi thế về tài nguyên.

Mô hình dự án đường sắt tốc độ cao Hà Nội- Quảng Ninh, với tổng mức đầu tư hơn 5,6 tỷ USD vừa chính thức khởi công tại Quảng Ninh. Ảnh có sử dụng đồ họa AI

ĐỘT PHÁ VỀ KẾT NỐI HẠ TẦNG CHIẾN LƯỢC

Trong bối cảnh thế giới đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông bền vững và hiện đại, đường sắt tốc độ cao không chỉ là biểu tượng của năng lực công nghệ, khả năng tổ chức mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược quốc gia.

Trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, nhiều nghệ sĩ trẻ cùng ekip đã chủ động có các đàm phán đa tầng trong chuyển quyền sử dụng có điều kiện, nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi của mình. Ảnh minh họa: KHIẾU MINH

Lấp đầy những khoảng trống ý thức

Bên cạnh Luật Sở hữu trí tuệ, được ban hành lần đầu vào cuối năm 2005, có hiệu lực từ ngày 1/7/2006 và đến nay, đã qua nhiều lần sửa đổi để phù hợp với diễn tiến của xã hội, Việt Nam hiện có một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật khá đầy đủ liên quan việc bảo vệ quyền tác giả và các quyền liên quan quyền tác giả.

Khoảng cách công nghệ giữa đường sắt hiện hữu và đường sắt tốc độ cao là rất lớn, vì vậy Việt Nam cần chuẩn bị tốt việc đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu tiến tới làm chủ công nghệ. Nguồn VNR

Định hình mạng lưới vận tải quốc gia

Trong bối cảnh thế giới đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông bền vững và hiện đại, đường sắt tốc độ cao không chỉ là biểu tượng của năng lực công nghệ, khả năng tổ chức và tầm nhìn chiến lược quốc gia.

Lớp học nâng cao trình độ về đường sắt tốc độ cao ngành Thi công và Bảo dưỡng công trình.

Mở rộng hợp tác trong đào tạo nguồn nhân lực mới

Một nhiệm vụ mang tính chiến lược, đóng vai trò then chốt trong xây dựng và vận hành đường sắt tốc độ cao, là phải đi trước một bước để đào tạo nguồn nhân lực có đủ năng lực, trình độ tiếp nhận, vận hành, khai thác, bảo trì và từng bước làm chủ các công nghệ tiên tiến, hiện đại đang được áp dụng với đường sắt tốc độ cao.

Ông Nguyễn Quốc Vượng, Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Đường sắt Việt Nam (VNR).

Bài toán về tầm nhìn và khả năng làm chủ công nghệ

Được xác định là lĩnh vực ưu tiên chiến lược, hợp tác phát triển đường sắt, nhất là đường sắt tốc độ cao, của Việt Nam không chỉ là câu chuyện của một công trình hạ tầng, mà là bài toán lớn đặt ra yêu cầu làm chủ công nghệ, đào tạo nhân lực và năng lực nội sinh.

Hành khách xếp hàng lên chuyến tàu G8389 tại nhà ga ở thành phố Nam Kinh (Trung Quốc). (Ảnh Tân Hoa xã)

Kinh nghiệm của Trung Quốc - Quốc gia “đi sau, về trước”

Không chỉ hiện thực hóa được mục tiêu “đi sau, về trước”, nhờ có sự đầu tư bài bản, mà hiện Trung Quốc còn đang “dẫn đầu thế giới” trong phát triển hệ thống đường sắt tốc độ cao. Đây là thành công góp phần quan trọng vào những kỳ tích tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội ở quốc gia này.

Khi Luật Sở hữu trí tuệ và quyền hình ảnh của người sáng tạo được thực thi đầy đủ, các tác giả làm việc trong nhiều lĩnh vực nghệ thuật mới ở Việt Nam sẽ tích cực chủ động tham gia đăng ký bản quyền tác giả hơn nữa. (Trong ảnh: Vở múa đương đại Nón của biên đạo Vũ Ngọc Khải. Ảnh Đại Ngô)

Chuyển dịch tư duy về sở hữu trí tuệ

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam (Nghị quyết 80) đặt mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp 7% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) vào năm 2030 và trở thành trụ cột kinh tế với 9% GDP vào năm 2045.

Bà Phạm Thị Kim Oanh.

Đồng hành để hỗ trợ giới sáng tạo một cách tốt nhất

Nhân Dân cuối tuần có cuộc trao đổi với bà Phạm Thị Kim Oanh, Phó Cục trưởng Bản quyền tác giả, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, về những nỗ lực của cơ quan quản lý nhà nước trong việc đồng hành, khuyến khích các tổ chức, cá nhân chủ động nâng cao hơn nữa ý thức về bảo vệ quyền tác giả và các quyền liên quan quyền tác giả.

Đồi chè Mộc Châu. (Ảnh Huỳnh Văn Truyền)

Chủ động mở những lối đi

Nhiếp ảnh là một trong những lĩnh vực sáng tác mà việc vi phạm bản quyền xảy ra khá thường xuyên, ở nhiều phương thức, cấp độ khác nhau.

Ngành công nghệ cần đặt an toàn của trẻ em vào khâu thiết kế sản phẩm, thay vì coi đó là phần việc xử lý sau cùng. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Đồng hành để bảo vệ

Internet từ lâu đã trở thành một phần tất yếu của cuộc sống, kể cả với trẻ em. Tuy nhiên, mức độ hiện diện cao ấy không đồng nghĩa với việc thế hệ trẻ có đủ năng lực để tự bảo vệ mình.

Trung ương Đoàn luôn chủ động tạo ra các không gian cởi mở để kịp thời lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của trẻ em.

Lắng nghe đúng, hành động trúng

Trong thời đại kỷ nguyên số, không gian mạng không còn là một công cụ hỗ trợ, mà đã trở thành một môi trường sống song hành với đời sống của trẻ em.

Chiến dịch Không một mình, nằm trong chuỗi các hành động nhằm thực hiện Công ước Hà Nội, hướng tới đồng hành với giới trẻ trong phòng, chống bắt cóc online. Ảnh: Hiệp hội An ninh mạng

Nhật ký một ngày online

LTS - Không phải những con số thống kê khô khan, cũng không phải góc nhìn của người lớn, ký sự này được thực hiện bởi chính những “người trong cuộc” - nhóm phóng viên nhí của Tòa soạn Tiếng Xanh (hoạt động dưới sự hướng dẫn của UNICEF Việt Nam).

Thay vì ngăn chặn, Việt Nam đang hướng đến những giải pháp thân thiện, cùng đồng hành với trẻ trên không gian mạng. Trong ảnh: Trích từ cẩm nang “Tự tin chinh phục Vương quốc Social” của Toà soạn Tiếng Xanh.

Từ chính sách đến từng gia đình

Không gian mạng hôm nay đã là một phần của tuổi thơ Việt Nam. Vì thế, bài toán không còn là “có nên cho trẻ dùng mạng xã hội hay không”, mà là làm sao để trẻ em Việt Nam được lớn lên trong một môi trường số an toàn hơn, lành mạnh hơn và công bằng hơn.

Lần đầu tiên trong lịch sử quy hoạch đô thị Việt Nam, Thủ đô Hà Nội được Trung ương giao quyền lập đồ án Quy hoạch, phù hợp việc tổ chức lại địa giới hành chính, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp. Ảnh Thành Đạt

Thách thức trong bước chuyển tư duy

Lời tòa soạn - Theo Quy hoạch Tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm, thành phố sẽ phát triển với cấu trúc đô thị “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm”, điểm nhấn xuyên suốt là văn hiến, văn minh, hiện đại, hạnh phúc, trong đó yếu tố “hạnh phúc” được đặt ở vị trí trung tâm.

Hà Nội định hình cấu trúc đô thị theo không gian phát triển mở “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm”. (Ảnh KHIẾU MINH)

Không để quy hoạch chỉ dừng ở bản vẽ

Quy hoạch Tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm (Quy hoạch) đã được Hội đồng nhân dân thành phố thông qua. Quy hoạch cho thấy tầm chiến lược, có các phân kỳ, giai đoạn thực hiện, nhưng cũng cần giải quyết những khó khăn, thách thức để đi vào đời sống.

Ông Trịnh Quang Dũng, Trưởng phòng Quản lý hoạt động quy hoạch, kiến trúc đô thị, Sở Quy hoạch-Kiến trúc Hà Nội.

Đúc rút bài học thực tiễn, kiến tạo phát triển bền vững

Ông Trịnh Quang Dũng, Trưởng phòng Quản lý hoạt động quy hoạch, kiến trúc đô thị, Sở Quy hoạch-Kiến trúc Hà Nội chia sẻ: Để kiến tạo một Thủ đô phát triển bền vững xuyên thế kỷ, cơ quan chuyên môn không né tránh mà đi sâu nghiên cứu, bắt đúng bệnh...