- Thưa ông, hiện nay việc quản lý, khai thác đất hiếm còn gặp những khó khăn, vướng mắc gì?
- Đất hiếm là khoáng sản chiến lược đặc biệt. Vì vậy, mọi hoạt động điều tra, đánh giá, thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng đất hiếm phải tuân thủ chiến lược quốc gia về đất hiếm, quy hoạch về đất hiếm. Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất hiện nay không phải là thiếu tài nguyên, mà là thiếu năng lực để biến tài nguyên đặc biệt này thành giá trị.
Đất hiếm của nước ta được phân bố phức tạp ở địa hình miền núi, điều kiện khai thác khó, chi phí cao. Nhưng vấn đề cốt lõi là chúng ta chưa làm chủ được công nghệ chế biến sâu, chưa hình thành được chuỗi giá trị hoàn chỉnh.
Bên cạnh đó, dữ liệu địa chất ở một số khu vực vẫn cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng điều tra địa chất, đánh giá tiềm năng tài nguyên và thăm dò xác định trữ lượng đất hiếm một cách đồng bộ, chính xác.
Chúng ta không thiếu tài nguyên, nhưng còn thiếu năng lực khai thác hiệu quả và quản trị hiện đại.
- Để chế biến sâu đòi hỏi phải có công nghệ tiên tiến. Những năm qua, vấn đề phối hợp, chuyển giao công nghệ đã được làm tốt chưa, thưa ông?
- Thực tế, vướng mắc lớn nhất lúc này là công nghệ lõi. Các nước đang làm chủ công nghệ này cấm hoặc hạn chế chuyển giao cho các nước, trong đó có Việt Nam.
Hiện nay, phần lớn việc khai thác ở ta mới dừng ở khâu tuyển, tách ban đầu, trong khi giá trị cao nhất nằm ở các khâu phân tách tinh, luyện kim và vật liệu. Đây là những công nghệ mà thế giới nắm giữ rất chặt.
Một điểm nghẽn khác là chính sách chưa đủ mạnh để buộc doanh nghiệp đi vào chế biến sâu. Nếu không siết chặt, rất dễ quay lại mô hình cũ: khai thác-xuất thô-mất giá trị. Luật Địa chất và khoáng sản (sửa đổi) đã xử lý rất rõ vấn đề này theo hướng: cấp phép phải gắn với chế biến sâu và chuyển giao công nghệ.
- Xin ông đánh giá về nguy cơ đã được cảnh báo - Đất hiếm có thể bị khai thác bừa bãi nếu khâu quản lý bị thả nổi?
- Nhận định đó là có cơ sở, nhưng cần nhìn đúng bản chất. Chúng ta không thiếu trữ lượng, mà “hiếm” ở khả năng khai thác và chế biến hiệu quả. Nếu quản lý lỏng lẻo, hoàn toàn có thể xảy ra tình trạng khai thác trái phép, thu gom tự phát, gây thất thoát tài nguyên.
- Một vấn đề đặt ra là trong quá trình khai thác, phân tách sẽ tiềm ẩn rủi ro về môi trường. Vậy cần phương án nào để “chặn” đứng những nguy cơ ấy?
- Bảo vệ môi trường là yêu cầu bắt buộc, không còn lựa chọn nào khác. Trong quá trình khai thác, chế biến đất hiếm có thể đi kèm các yếu tố độc hại, phóng xạ, nếu không kiểm soát tốt sẽ gây tác động lớn đến môi trường và cộng đồng.
Luật Địa chất và khoáng sản (sửa đổi) đã thay đổi cách tiếp cận: Cơ quan chức năng sẽ quản lý môi trường xuyên suốt vòng đời dự án; gắn tiêu chuẩn môi trường với điều kiện cấp phép; áp dụng tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị (ESG). Nếu dự án không đáp ứng yêu cầu môi trường thì không được triển khai.
- Nhìn dài hạn, đâu là giải pháp để quản trị tài nguyên đất hiếm minh bạch, hiệu quả và bền vững, thưa ông?
- Có năm nhóm giải pháp cốt lõi. Thứ nhất, quản lý theo chuỗi giá trị: Không quản từng mỏ, mà quản toàn bộ quá trình từ điều tra-thăm dò-khai thác-chế biến-sử dụng.
Thứ hai, làm chủ công nghệ, đây là yếu tố quyết định để giữ lại giá trị trong nước.
Thứ ba, xây dựng hệ thống dữ liệu và giám sát số, quản lý tài nguyên phải dựa trên dữ liệu, truy xuất được toàn bộ quá trình.
Thứ tư, áp dụng cơ chế kiểm soát khoáng sản chiến lược, không xuất khẩu thô, có điều tiết sản lượng, có dự trữ.
Thứ năm, bảo đảm môi trường và trách nhiệm xã hội, phát triển phải đi đôi với bảo vệ môi trường và lợi ích cộng đồng.
Thời gian tới, chúng tôi sẽ tập trung hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về dữ liệu điều tra cơ bản địa chất, thống kê-kiểm kê tài nguyên khoáng sản; triển khai dịch vụ công trực tuyến toàn trình trong giải quyết thủ tục hành chính khoáng sản; đồng thời tăng cường kiểm tra chuyên ngành nhằm kịp thời phát hiện, ngăn chặn vi phạm trong bối cảnh Luật mới được triển khai đồng bộ.
Đối với Đề án “Điều tra, đánh giá tổng thể tiềm năng khoáng sản chiến lược (đất hiếm) trên lãnh thổ Việt Nam (phần đất liền) và thăm dò một số diện tích có triển vọng”, năm 2026 chúng tôi đặt mục tiêu hoàn thành thi công giai đoạn hai và tiếp tục triển khai khai thác thử nghiệm tại tỉnh Phú Thọ.
- Xin trân trọng cảm ơn ông! ■
Đất hiếm phải được bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả gắn với yêu cầu phát triển bền vững kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước, theo quan điểm xuyên suốt là: Không đánh đổi tài nguyên chiến lược lấy lợi ích ngắn hạn”.