Nền tảng của công nghiệp xanh

Trong bối cảnh toàn cầu hóa cũng như cam kết lịch sử đưa mức phát thải ròng về “0”, đất hiếm nổi lên như một nhóm vật liệu chiến lược mang tính quyết định, không thể thay thế.

Cán bộ kỹ thuật lấy mẫu cho quá trình nghiên cứu chiết tách. (Nguồn: Viện Công nghệ xạ hiếm)
Cán bộ kỹ thuật lấy mẫu cho quá trình nghiên cứu chiết tách. (Nguồn: Viện Công nghệ xạ hiếm)

Sở hữu tiềm năng đất hiếm được đánh giá đứng thứ hai thế giới, Việt Nam đang đứng trước “thời điểm vàng” để tham gia sâu vào chuỗi cung ứng công nghệ cao toàn cầu.

Tuy nhiên, trong một thị trường mà nguồn cung và công nghệ đang trở thành tâm điểm chú ý của thế giới, chìa khóa để bảo vệ lợi ích quốc gia không nằm ở việc đào quặng thô đem bán, mà nằm ở năng lực tự chủ công nghệ chế biến sâu và tinh chế làm chủ chuỗi giá trị.

“Vitamin” của nền kinh tế

Đất hiếm bao gồm 17 nguyên tố hóa học (15 nguyên tố nhóm Lanthanide cùng Yttrium và Scandium). Tên gọi là “hiếm” không chỉ vì chúng khan hiếm trong lớp vỏ trái đất, mà bởi sự phân tán và mức độ cực kỳ phức tạp, tốn kém trong công nghệ chiết tách, tinh chế.

Trong kỷ nguyên công nghiệp hiện đại, đất hiếm được giới khoa học mệnh danh là “vitamin” của nền kinh tế - là vật liệu cơ bản của nhiều ngành công nghệ cao. Các thiết bị công nghệ chỉ sử dụng một lượng nhỏ đất hiếm tính bằng gram hoặc kilogram, nhưng đó lại là vật liệu cốt lõi quyết định hiệu suất, độ bền và khả năng thu nhỏ của thiết bị. Trong cuộc chuyển đổi năng lượng xanh hiện nay, vai trò của đất hiếm được phân bổ chuyên biệt vào ba nhóm ứng dụng chính:

Thứ nhất, Công nghiệp xe điện (EV) và năng lượng tái tạo: Đây là lĩnh vực tiêu thụ đất hiếm lớn nhất và có tốc độ tăng trưởng phi mã. Các nguyên tố nhóm nhẹ như Neodymium và Praseodymium là thành phần trọng yếu để chế tạo nam châm vĩnh cửu siêu cường (NdFeB). Khác với nam châm thông thường, nam châm NdFeB tạo ra từ trường cực mạnh với kích thước rất nhỏ. Một chiếc ô-tô điện cần khoảng một đến ba kilogam (kg) nam châm này cho cụm động cơ. Đối với các turbine điện gió, nhất là turbine gió ngoài khơi có công suất khổng lồ từ 10 MW đến 15 MW, bộ máy phát điện dẫn động trực tiếp cần tới hàng tấn nam châm vĩnh cửu.

Đặc biệt, để các động cơ này hoạt động ổn định ở nhiệt độ cao mà không bị mất từ tính, người ta bắt buộc phải pha thêm các nguyên tố đất hiếm nhóm nặng có giá trị cao là Dysprosium và Terbium.

Thứ hai, công nghệ tiết kiệm năng lượng: Các nguyên tố như Yttrium, Europium và Terbium đóng vai trò là chất phát quang không thể thiếu trong công nghệ sản xuất bóng đèn LED chiếu sáng và màn hình tinh thể lỏng, thiết bị di động. Nhờ đất hiếm, bóng đèn LED có thể phát ra ánh sáng cường độ cao, nhưng lại tiêu thụ điện năng chỉ bằng một phần mười so với bóng đèn sợi đốt truyền thống, đóng góp to lớn vào việc giảm tải hệ thống điện toàn cầu.

Thứ ba, Công nghiệp quốc phòng và hàng không vũ trụ: Dù chiếm tỷ trọng nhỏ về sản lượng, nhưng đất hiếm lại mang tính sống còn đối với an ninh quốc gia của các cường quốc. Chúng được ứng dụng trong hệ thống laser dẫn đường, radar, hệ thống điều khiển tên lửa hành trình, thiết bị nhìn xuyên đêm và hợp kim vỏ máy bay tàng hình.

Giá trị kinh tế của đất hiếm phụ thuộc rất lớn vào chuỗi cung ứng. Về mặt cấu trúc, quá trình chế biến đất hiếm được chia thành nhiều công đoạn khép kín và phức tạp: Khai thác quặng, tuyển khoáng (làm giàu quặng), thủy luyện (phá vỡ cấu trúc quặng để chuyển thành dạng dung dịch), phân chia và tinh chế (chiết tách từng nguyên tố riêng biệt ra khỏi hỗn hợp), luyện kim (chế tạo kim loại và hợp kim), chế tạo vật liệu (sản xuất nam châm, bột huỳnh quang, vật liệu xúc tác, gốm sứ).

Điều đáng nói, phần lớn hệ lụy về ô nhiễm môi trường (hóa chất, chất thải phóng xạ) tập trung ở các khâu đầu (khai thác, tuyển khoáng, thủy luyện). Trong khi đó, 80% đến 90% biên độ lợi nhuận và giá trị gia tăng lại nằm ở khâu “hạ nguồn”, tức là công nghệ phân chia, tinh chế đạt độ tinh khiết cao (trên 99,9%) và công nghệ luyện kim, sản xuất nam châm.

Quá trình tiếp cận và làm chủ công nghệ của Việt Nam

Cơ hội là rất lớn, nhưng định hướng xuyên suốt và bất di bất dịch của Đảng, Nhà nước và Chính phủ là: Kiên quyết không xuất khẩu quặng thô; khai thác khoáng sản phải đi đôi bảo vệ môi trường, gắn chặt chế biến sâu để tạo ra giá trị gia tăng tối đa cho nền kinh tế quốc dân.

Thực hiện mục tiêu này, vai trò của nghiên cứu khoa học đóng vai trò nền tảng. Viện Công nghệ xạ hiếm (trực thuộc Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam-Bộ Khoa học và Công nghệ) là một trong những đơn vị nghiên cứu hàng đầu, đã có gần 40 năm nghiên cứu triển khai các đề tài nghiên cứu về quy trình chế biến đất hiếm.

Thứ nhất, tiếp cận làm chủ công nghệ thủy luyện: Quặng đất hiếm ở Việt Nam có đặc thù riêng biệt, chủ yếu là nhóm đất hiếm nhẹ; quặng bastnasit - mỏ Đông Pao, Nậm Xe (tỉnh Lai Châu), quặng monazit - trong sa khoáng. Các nhà khoa học đã nghiên cứu thành công các quy trình công nghệ thủy luyện tiên tiến (phân hủy nhiệt độ cao sử dụng axit/kiềm) để phá vỡ cấu trúc quặng tinh, loại bỏ tạp chất, xử lý chất thải phóng xạ và thu nhận tổng oxit đất hiếm đạt tiêu chuẩn thương mại ở quy mô bán công nghiệp.

Thứ hai, nghiên cứu công nghệ phân chia và tinh chế: Như đã phân tích, công nghệ phân chia là công nghệ lõi của chuỗi giá trị đất hiếm. Việc tách các nguyên tố giống hệt nhau đòi hỏi một quá trình gọi là “chiết dung môi nhiều bậc”. Sơ đồ công nghệ này có thể cần tới hàng trăm bậc chiết nối tiếp nhau với sự kiểm soát thông số hóa lý cực kỳ tinh vi để tách từng nguyên tố đất hiếm ra khỏi nhau. Đội ngũ chuyên gia của Viện đã phát triển phần mềm tính toán, mô phỏng và vận hành thành công hệ thống chiết dung môi, có khả năng phân tách thành công các nguyên tố chiến lược như Neodymium, Praseodymium, Samarium, Dysprosium đạt độ tinh khiết cao trên 99%. Đây là tiêu chuẩn bắt buộc để làm nguyên liệu đầu vào cho ngành sản xuất nam châm điện gió và xe điện.

Thứ ba, kiểm soát và xử lý an toàn môi trường phóng xạ: Hầu hết các mỏ đất hiếm trên thế giới và tại Việt Nam đều chứa các nguyên tố phóng xạ tự nhiên. Quá trình chế biến đất hiếm nếu không được kiểm soát sẽ giải phóng các chất phóng xạ này ra nguồn nước và đất đai, gây thảm họa sinh thái kéo dài. Trên thực tế, nhiều quốc gia phát triển trước đây đã phải đóng cửa mỏ đất hiếm chính vì không giải được bài toán môi trường này.

Với vị thế là cơ quan nghiên cứu hàng đầu quốc gia về năng lượng nguyên tử và an toàn bức xạ, Viện Công nghệ xạ hiếm đã thiết lập thành công các quy trình công nghệ thu hồi, cô lập và xử lý an toàn các đồng vị phóng xạ đi kèm trong quặng đất hiếm. Việc kiểm soát hoàn toàn chất thải phóng xạ ngay từ quy trình thủy luyện giúp hiện thực hóa khái niệm “khai thác và chế biến xanh” - điều kiện tiên quyết để các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) công nghệ cao (từ Mỹ, Nhật Bản, châu Âu) có thể rót vốn đầu tư vào Việt Nam mà không vi phạm các tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị (ESG) khắt khe của quốc tế.

Kiến tạo hệ sinh thái công nghiệp

Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để phát huy giá trị của tài nguyên khoáng sản phục vụ phát triển kinh tế. Tuy nhiên, khai thác tài nguyên sẽ không mang lại hiệu quả bền vững nếu chỉ dừng ở việc xuất khẩu nguyên liệu thô và đánh đổi bằng môi trường.

Trên thực tế, công nghệ phân chia, tinh chế sâu đất hiếm và luyện kim chế tạo nam châm được các quốc gia sở hữu xem là bí mật công nghệ lõi. Việc các đối tác nước ngoài sẵn sàng chuyển giao toàn bộ những công nghệ nhạy cảm này là rất khó xảy ra. Do đó, bài toán đặt ra cho Việt Nam là phải phát huy tinh thần tự lực, tự cường, sớm triển khai đầu tư mạnh mẽ cho nghiên cứu công nghệ trong nước.

Chiến lược phát triển ngành công nghiệp đất hiếm của Việt Nam phải được đặt trên bệ phóng của khoa học và công nghệ. Những thành tựu nghiên cứu sâu rộng, trong nhiều năm qua chính là minh chứng sống động cho thấy: Việt Nam hoàn toàn có khả năng hấp thụ, làm chủ và cùng phát triển các công nghệ tinh chế loại khoáng sản phức tạp nhất thế giới này.

Sự tham gia nghiên cứu chuyên sâu của Viện Công nghệ xạ hiếm và các cơ sở khoa học trong nước, sẽ cung cấp cơ sở dữ liệu quan trọng giúp các cơ quan quản lý thẩm định được các dự án đầu tư nước ngoài, lựa chọn được các công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường.

Một khi Việt Nam từng bước tự chủ được công nghệ chế biến sâu để tạo ra nguồn nguyên liệu oxit đất hiếm đạt chuẩn quốc tế, thay vì chỉ bán nguyên liệu, chúng ta có thể sử dụng chính nguồn nguyên liệu này làm lợi thế cạnh tranh. Thí dụ, mời gọi các tập đoàn công nghệ cao toàn cầu đến Việt Nam, từ đó, định hướng dòng vốn FDI vào việc thiết lập các nhà máy sản xuất linh kiện điện tử, động cơ xe điện, thiết bị năng lượng tái tạo... hình thành hệ sinh thái công nghiệp công nghệ cao, khép kín ngay tại nội địa ■

Làm chủ công nghệ chế biến sâu đất hiếm không chỉ là lời giải cho bài toán kinh tế, mà là bước đi chiến lược bảo vệ an ninh năng lượng quốc gia, đưa Việt Nam bước lên nấc thang cao hơn trong chuỗi giá trị công nghệ toàn cầu, đóng góp xứng đáng vào hành trình kiến tạo một tương lai xanh, bền vững.

Có thể bạn quan tâm

Ông Trần Bình Trọng, Cục trưởng Địa chất và Khoáng sản Việt Nam - Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Chế biến sâu và nâng tầm công nghệ

Chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần, ông Trần Bình Trọng, Cục trưởng Địa chất và Khoáng sản Việt Nam - Bộ Nông nghiệp và Môi trường, chia sẻ: Trong quá trình cấp phép đầu tư, khai thác đất hiếm phải bảo đảm không chỉ dừng ở khai thác thô mà luôn gắn với chế biến sâu và chuyển giao, nâng tầm công nghệ.

Mô hình dự án đường sắt tốc độ cao Hà Nội- Quảng Ninh, với tổng mức đầu tư hơn 5,6 tỷ USD vừa chính thức khởi công tại Quảng Ninh. Ảnh có sử dụng đồ họa AI

ĐỘT PHÁ VỀ KẾT NỐI HẠ TẦNG CHIẾN LƯỢC

Trong bối cảnh thế giới đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông bền vững và hiện đại, đường sắt tốc độ cao không chỉ là biểu tượng của năng lực công nghệ, khả năng tổ chức mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược quốc gia.

Trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, nhiều nghệ sĩ trẻ cùng ekip đã chủ động có các đàm phán đa tầng trong chuyển quyền sử dụng có điều kiện, nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi của mình. Ảnh minh họa: KHIẾU MINH

Lấp đầy những khoảng trống ý thức

Bên cạnh Luật Sở hữu trí tuệ, được ban hành lần đầu vào cuối năm 2005, có hiệu lực từ ngày 1/7/2006 và đến nay, đã qua nhiều lần sửa đổi để phù hợp với diễn tiến của xã hội, Việt Nam hiện có một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật khá đầy đủ liên quan việc bảo vệ quyền tác giả và các quyền liên quan quyền tác giả.

Khoảng cách công nghệ giữa đường sắt hiện hữu và đường sắt tốc độ cao là rất lớn, vì vậy Việt Nam cần chuẩn bị tốt việc đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu tiến tới làm chủ công nghệ. Nguồn VNR

Định hình mạng lưới vận tải quốc gia

Trong bối cảnh thế giới đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông bền vững và hiện đại, đường sắt tốc độ cao không chỉ là biểu tượng của năng lực công nghệ, khả năng tổ chức và tầm nhìn chiến lược quốc gia.

Lớp học nâng cao trình độ về đường sắt tốc độ cao ngành Thi công và Bảo dưỡng công trình.

Mở rộng hợp tác trong đào tạo nguồn nhân lực mới

Một nhiệm vụ mang tính chiến lược, đóng vai trò then chốt trong xây dựng và vận hành đường sắt tốc độ cao, là phải đi trước một bước để đào tạo nguồn nhân lực có đủ năng lực, trình độ tiếp nhận, vận hành, khai thác, bảo trì và từng bước làm chủ các công nghệ tiên tiến, hiện đại đang được áp dụng với đường sắt tốc độ cao.

Ông Nguyễn Quốc Vượng, Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Đường sắt Việt Nam (VNR).

Bài toán về tầm nhìn và khả năng làm chủ công nghệ

Được xác định là lĩnh vực ưu tiên chiến lược, hợp tác phát triển đường sắt, nhất là đường sắt tốc độ cao, của Việt Nam không chỉ là câu chuyện của một công trình hạ tầng, mà là bài toán lớn đặt ra yêu cầu làm chủ công nghệ, đào tạo nhân lực và năng lực nội sinh.

Hành khách xếp hàng lên chuyến tàu G8389 tại nhà ga ở thành phố Nam Kinh (Trung Quốc). (Ảnh Tân Hoa xã)

Kinh nghiệm của Trung Quốc - Quốc gia “đi sau, về trước”

Không chỉ hiện thực hóa được mục tiêu “đi sau, về trước”, nhờ có sự đầu tư bài bản, mà hiện Trung Quốc còn đang “dẫn đầu thế giới” trong phát triển hệ thống đường sắt tốc độ cao. Đây là thành công góp phần quan trọng vào những kỳ tích tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội ở quốc gia này.

Khi Luật Sở hữu trí tuệ và quyền hình ảnh của người sáng tạo được thực thi đầy đủ, các tác giả làm việc trong nhiều lĩnh vực nghệ thuật mới ở Việt Nam sẽ tích cực chủ động tham gia đăng ký bản quyền tác giả hơn nữa. (Trong ảnh: Vở múa đương đại Nón của biên đạo Vũ Ngọc Khải. Ảnh Đại Ngô)

Chuyển dịch tư duy về sở hữu trí tuệ

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam (Nghị quyết 80) đặt mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp 7% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) vào năm 2030 và trở thành trụ cột kinh tế với 9% GDP vào năm 2045.

Bà Phạm Thị Kim Oanh.

Đồng hành để hỗ trợ giới sáng tạo một cách tốt nhất

Nhân Dân cuối tuần có cuộc trao đổi với bà Phạm Thị Kim Oanh, Phó Cục trưởng Bản quyền tác giả, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, về những nỗ lực của cơ quan quản lý nhà nước trong việc đồng hành, khuyến khích các tổ chức, cá nhân chủ động nâng cao hơn nữa ý thức về bảo vệ quyền tác giả và các quyền liên quan quyền tác giả.

Đồi chè Mộc Châu. (Ảnh Huỳnh Văn Truyền)

Chủ động mở những lối đi

Nhiếp ảnh là một trong những lĩnh vực sáng tác mà việc vi phạm bản quyền xảy ra khá thường xuyên, ở nhiều phương thức, cấp độ khác nhau.

Ngành công nghệ cần đặt an toàn của trẻ em vào khâu thiết kế sản phẩm, thay vì coi đó là phần việc xử lý sau cùng. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Đồng hành để bảo vệ

Internet từ lâu đã trở thành một phần tất yếu của cuộc sống, kể cả với trẻ em. Tuy nhiên, mức độ hiện diện cao ấy không đồng nghĩa với việc thế hệ trẻ có đủ năng lực để tự bảo vệ mình.

Trung ương Đoàn luôn chủ động tạo ra các không gian cởi mở để kịp thời lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của trẻ em.

Lắng nghe đúng, hành động trúng

Trong thời đại kỷ nguyên số, không gian mạng không còn là một công cụ hỗ trợ, mà đã trở thành một môi trường sống song hành với đời sống của trẻ em.

Chiến dịch Không một mình, nằm trong chuỗi các hành động nhằm thực hiện Công ước Hà Nội, hướng tới đồng hành với giới trẻ trong phòng, chống bắt cóc online. Ảnh: Hiệp hội An ninh mạng

Nhật ký một ngày online

LTS - Không phải những con số thống kê khô khan, cũng không phải góc nhìn của người lớn, ký sự này được thực hiện bởi chính những “người trong cuộc” - nhóm phóng viên nhí của Tòa soạn Tiếng Xanh (hoạt động dưới sự hướng dẫn của UNICEF Việt Nam).

Thay vì ngăn chặn, Việt Nam đang hướng đến những giải pháp thân thiện, cùng đồng hành với trẻ trên không gian mạng. Trong ảnh: Trích từ cẩm nang “Tự tin chinh phục Vương quốc Social” của Toà soạn Tiếng Xanh.

Từ chính sách đến từng gia đình

Không gian mạng hôm nay đã là một phần của tuổi thơ Việt Nam. Vì thế, bài toán không còn là “có nên cho trẻ dùng mạng xã hội hay không”, mà là làm sao để trẻ em Việt Nam được lớn lên trong một môi trường số an toàn hơn, lành mạnh hơn và công bằng hơn.

Lần đầu tiên trong lịch sử quy hoạch đô thị Việt Nam, Thủ đô Hà Nội được Trung ương giao quyền lập đồ án Quy hoạch, phù hợp việc tổ chức lại địa giới hành chính, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp. Ảnh Thành Đạt

Thách thức trong bước chuyển tư duy

Lời tòa soạn - Theo Quy hoạch Tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm, thành phố sẽ phát triển với cấu trúc đô thị “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm”, điểm nhấn xuyên suốt là văn hiến, văn minh, hiện đại, hạnh phúc, trong đó yếu tố “hạnh phúc” được đặt ở vị trí trung tâm.

Hà Nội định hình cấu trúc đô thị theo không gian phát triển mở “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm”. (Ảnh KHIẾU MINH)

Không để quy hoạch chỉ dừng ở bản vẽ

Quy hoạch Tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm (Quy hoạch) đã được Hội đồng nhân dân thành phố thông qua. Quy hoạch cho thấy tầm chiến lược, có các phân kỳ, giai đoạn thực hiện, nhưng cũng cần giải quyết những khó khăn, thách thức để đi vào đời sống.

Ông Trịnh Quang Dũng, Trưởng phòng Quản lý hoạt động quy hoạch, kiến trúc đô thị, Sở Quy hoạch-Kiến trúc Hà Nội.

Đúc rút bài học thực tiễn, kiến tạo phát triển bền vững

Ông Trịnh Quang Dũng, Trưởng phòng Quản lý hoạt động quy hoạch, kiến trúc đô thị, Sở Quy hoạch-Kiến trúc Hà Nội chia sẻ: Để kiến tạo một Thủ đô phát triển bền vững xuyên thế kỷ, cơ quan chuyên môn không né tránh mà đi sâu nghiên cứu, bắt đúng bệnh...

Nhiều cuộc tọa đàm được tổ chức, nhằm đóng góp ý kiến cho chuyển đổi số quy hoạch đô thị tại Hà Nội. (Ảnh DIÊN KHÁNH)

“Bộ não số” cho đô thị thông minh

Thủ đô Hà Nội đang từng bước chuyển đổi, đầu tư hạ tầng công nghệ, tích cực chuyển đổi tư duy quản trị đô thị và quản lý quy hoạch, nâng cao chất lượng sống của người dân.

Các di tích, cảnh quan thiên nhiên, ao hồ cần có “đời sống của mình” trong không gian đô thị mới. (Ảnh VĂN HỌC)

Tích hợp yếu tố sinh thái vào từng lựa chọn

Ô nhiễm môi trường không chỉ là thách thức trước mắt, mà còn là lực cản lớn đối với mục tiêu phát triển bền vững của Thủ đô. Vì vậy, quy hoạch tổng thể phải bảo đảm yêu cầu rất cao về phát triển xanh cũng như tạo dựng hệ sinh thái phong phú cho đô thị.

Lãnh đạo phường Hồng Hà giải đáp thắc mắc của người dân bị thu hồi đất tại hiện trường.

Thước đo của một Thủ đô vì con người

Hà Nội đang bước vào giai đoạn tái cấu trúc đô thị mạnh mẽ. Song, phía sau những công trình mang tầm vóc quy hoạch là đổi thay trong đời sống của người dân, đặt ra yêu cầu phải giải quyết hài hòa bài toán phát triển và an cư.

Các yếu tố mang tính quyết định cho chuyển đổi xanh, như khoa học công nghệ, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo… cần được đầu tư tương xứng. (Ảnh Thành Đạt)

Thế chân kiềng trong kỷ nguyên xanh

Lời toà soạn - Để đưa nông nghiệp Việt Nam bước vào kỷ nguyên xanh, điều cốt lõi là phải tái định hình vai trò của Nhà nước, doanh nghiệp và người nông dân trong một hệ sinh thái phát triển mới.

Chuyển dịch xanh đang mở ra cơ hội để nông sản Việt Nam tái định vị trên thị trường quốc tế. (Trong ảnh: Trồng sầu riêng cho năng suất cao ở xã Trường Long, TP Cần Thơ). (Ảnh Phương Bằng)

Tháo gỡ nút thắt vốn và đầu tư

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt, biến động thị trường khó đoán định, đòi hỏi từ người tiêu dùng cũng cao hơn, nông nghiệp Việt Nam đứng trước yêu cầu phải chuyển dịch xanh, nâng cao giá trị.