Bài toán về tầm nhìn và khả năng làm chủ công nghệ

Được xác định là lĩnh vực ưu tiên chiến lược, hợp tác phát triển đường sắt, nhất là đường sắt tốc độ cao, của Việt Nam không chỉ là câu chuyện của một công trình hạ tầng, mà là bài toán lớn đặt ra yêu cầu làm chủ công nghệ, đào tạo nhân lực và năng lực nội sinh.

Ông Nguyễn Quốc Vượng, Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Đường sắt Việt Nam (VNR).
Ông Nguyễn Quốc Vượng, Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Đường sắt Việt Nam (VNR).

Trao đổi với Báo Nhân Dân, ông Nguyễn Quốc Vượng, Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Đường sắt Việt Nam (VNR) chia sẻ những điều kiện cốt lõi để hiện thực hóa mục tiêu này.

Cơ hội tiếp cận và từng bước làm chủ công nghệ

- Thưa ông, sau chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, hợp tác đường sắt được nhấn mạnh như một lĩnh vực chiến lược. Vậy đâu là thời cơ lớn nhất đang mở ra cho ngành đường sắt Việt Nam nói chung và VNR nói riêng?

- Có thể nói, ngành đường sắt đang đứng trước một cơ hội chưa từng có, nhất là nhận được sự quan tâm lớn của lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Mới đây, trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước tới Trung Quốc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước khẳng định, việc hợp tác đường sắt với Trung Quốc sẽ mở ra không gian phát triển mới, tạo thuận lợi cho thương mại, đầu tư, thúc đẩy liên kết kinh tế và giao lưu nhân dân giữa hai nước; đồng thời góp phần tăng cường kết nối hạ tầng, kết nối chuỗi cung ứng khu vực và quốc tế.

Chuyến trải nghiệm bằng tàu cao tốc từ Bắc Kinh tới Nam Ninh của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và Phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao của Việt Nam là hoạt động nằm trong chuỗi khảo sát thực tế, học hỏi kinh nghiệm phát triển hạ tầng, công nghiệp đường sắt hiện đại của nước bạn. Trong đó, xác định hợp tác đường sắt là lĩnh vực ưu tiên, nhấn mạnh tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao năng lực quản lý, vận hành và từng bước tiếp nhận, làm chủ công nghệ hiện đại trong lĩnh vực đường sắt. Đây là yếu tố nền tảng, tạo tiền đề quan trọng để phát triển ngành công nghiệp đường sắt trong nước, từ đó tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Với VNR, thời cơ thể hiện khá cụ thể, đó là hệ thống cơ chế, chính sách đang được hoàn thiện theo hướng trao quyền chủ động hơn cho doanh nghiệp trong quản lý, khai thác và huy động nguồn lực. Đặc biệt, ngày 27/3 vừa qua, Chính phủ đã có Quyết định số 498/QĐ-TTg phê duyệt về việc cơ cấu lại VNR giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn 2035 theo định hướng mô hình tập đoàn là tiền đề để phát huy lợi thế và nâng cao năng lực cạnh tranh của VNR. Mặc dù, trên thực tế, khoảng cách công nghệ giữa đường sắt hiện hữu và đường sắt mới là rất rõ nhưng chính khoảng cách đó lại tạo động lực để ngành tái cấu trúc toàn diện.

- Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu không chỉ tiếp nhận hỗ trợ, mà phải từng bước làm chủ công nghệ đường sắt điện khí hóa và đường sắt tốc độ cao. Theo ông, để đi từ “hợp tác” đến “làm chủ”, ngành đường sắt Việt Nam cần chuẩn bị những điều kiện gì?

- “Làm chủ công nghệ” không phải là một bước chuyển mang tính kỹ thuật đơn thuần, mà là một quá trình tổ chức lại toàn bộ nền tảng phát triển ngành, từ thể chế, nhân lực đến năng lực công nghiệp. Nếu không có một khung chính sách đủ rõ, đủ mạnh, doanh nghiệp trong nước rất khó tham gia sâu vào các dự án lớn. Đặc biệt, việc chuyển giao công nghệ cần được thực hiện ngay từ đầu, với các chỉ tiêu cụ thể, tránh tình trạng tiếp nhận thiết bị nhưng không nắm được công nghệ lõi.

Nhân lực là khâu quyết định. Theo tính toán, riêng hai dự án lớn là tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng và đường sắt tốc độ cao bắc - nam cần khoảng 16.311 lao động kỹ thuật. Hệ thống đào tạo trong nước hiện chưa có chương trình hoàn chỉnh cho đường sắt điện khí hóa và tốc độ cao, thiếu cả giáo trình, giảng viên và cơ sở thực hành đạt chuẩn. Đào tạo phải đi trước một bước, thậm chí tách thành một “dự án độc lập”, gắn chặt với tiến độ các tuyến mới.

Một điều kiện không thể thiếu là năng lực công nghiệp trong nước. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, những quốc gia chuẩn bị tốt về đào tạo và công nghiệp trong nước thì có thể rút ngắn quá trình làm chủ công nghệ. Ngược lại, nếu đi nhanh ở khâu xây dựng nhưng chậm ở khâu con người và thể chế, sẽ phải trả giá bằng sự phụ thuộc dài hạn. Vì vậy, từ “hợp tác” đến “làm chủ” là hai phân đoạn phải được triển khai đồng thời, với trọng tâm là hoàn thiện thể chế, chuẩn bị nguồn nhân lực quy mô lớn và xây dựng năng lực công nghiệp ngay từ đầu.

img-20260421-131410-6843.jpg
Các học viên Việt Nam tham gia khóa học thực tập thực tế về vận hành đường sắt tốc độ cao tại Trung Quốc. Nguồn VNR

Xây dựng năng lực nội sinh làm tiền đề cho phát triển dài lâu

- Vậy VNR đã và đang chuẩn bị ra sao để không rơi vào tình trạng có dự án nhưng thiếu đội ngũ đủ năng lực tiếp nhận, vận hành, bảo trì và khai thác, thưa ông?

- Câu chuyện nhân lực lần này không còn là “đi sau để đáp ứng”, mà buộc phải đi trước để đón đầu công nghệ. Thực tế, lực lượng lao động hiện nay đông nhưng phân bố chưa hợp lý, mức độ tiếp cận công nghệ hiện đại còn hạn chế, VNR dự kiến tổ chức đào tạo theo hai hướng song song: đào tạo mới và đào tạo chuyển đổi (đào tạo lại) giúp tận dụng kinh nghiệm của lực lượng hiện có, đồng thời bổ sung lớp nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ cao với lộ trình rõ ràng, gắn trực tiếp với tiến độ dự án. Các giai đoạn được tách ra từ chuẩn bị, xây dựng, vận hành thử đến vận hành thương mại, với nội dung đào tạo tương ứng: từ nền tảng, chuyên sâu đến thực hành trên thiết bị mô phỏng và hiện trường. Đào tạo trong nước được kết hợp với đào tạo tại nước ngoài, nhưng hướng tới mục tiêu sau một giai đoạn sẽ chủ động đào tạo trong nước.

Một trọng tâm khác là đào tạo theo mô hình đa tầng. Không chỉ đào tạo kỹ sư hay lái tàu, mà xây dựng đầy đủ các lớp nhân lực: quản lý, kỹ thuật, công nhân lành nghề, giảng viên, thậm chí cả lực lượng nghiên cứu và phát triển. Đây là điều kiện để hệ thống có thể vận hành ổn định và phát triển lâu dài.

- Trong hợp tác với các đối tác quốc tế, theo ông đâu là yếu tố quan trọng nhất để tránh phụ thuộc kéo dài, nhưng vẫn tạo được đội ngũ kỹ sư, công nhân lành nghề bản địa?

- Điểm mấu chốt không nằm ở việc “học được gì”, mà là sau hợp tác có tự làm được hay không. Thực tế, nếu chỉ dừng ở tiếp nhận thiết bị và vận hành, nguy cơ phụ thuộc là rất rõ. Từ kinh nghiệm từ một số nước phát triển đường sắt tốc độ cao, có thể thấy hợp tác quốc tế phải đi theo hướng thực chất hơn.

Trước hết là có cơ hội được tham gia vào dự án ngay từ đầu.

Thứ hai đào tạo phải gắn với công việc cụ thể. Nhân lực được cử đi đào tạo cần quay về đúng vị trí, đúng dự án, có điều kiện làm việc ngay trên hệ thống mình sẽ vận hành.

Thứ ba phải có lộ trình nội địa hóa rõ ràng. Hợp tác quốc tế cần gắn với yêu cầu chuyển giao công nghệ từng phần nhằm giúp doanh nghiệp trong nước tham gia sâu vào chuỗi giá trị để việc “làm chủ” không chỉ dừng ở khâu vận hành.

Cuối cùng xây dựng năng lực nội sinh. Điều này không chỉ nằm ở doanh nghiệp vận hành, mà còn ở hệ thống đào tạo, nghiên cứu và công nghiệp hỗ trợ - nơi lưu giữ lại tri thức, tích lũy kinh nghiệm và là tiền đề cho phát triển lâu dài. Đây là con đường ngắn nhất để hình thành đội ngũ kỹ sư, công nhân lành nghề của Việt Nam.

Hình thành hệ sinh thái đường sắt - “đột phá mang tính nền tảng”

- Theo ông, nếu các dự án trọng điểm được triển khai đúng tiến độ sẽ tạo ra thay đổi cụ thể như thế nào đối với năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và vị thế của vận tải đường sắt Việt Nam?

- Điểm hạn chế nhất của đường sắt hiện hữu là tính kết nối. Hạ tầng chưa gắn được với các khu công nghiệp, cảng biển lớn, dịch vụ “door to door” vì thế còn hạn chế, chi phí trung gian cao. Thêm vào đó, lại bị giới hạn bởi đường đơn, khổ đường nhỏ, năng lực ga và tuyến không đồng bộ, nên vừa chậm, vừa khó tăng sản lượng.

Khi các tuyến mới được triển khai, kết nối trực tiếp với hành lang kinh tế và cửa khẩu, hàng hóa có thể đi thẳng từ khu sản xuất đến cảng biển hoặc sang thị trường nước ngoài bằng một chuỗi vận tải liền mạch, thay vì phải trung chuyển nhiều lần như hiện nay.

Một thay đổi đáng chú ý khác là khả năng mở rộng kết nối quốc tế. Nếu hạ tầng được nâng cấp đồng bộ, đường sắt Việt Nam có thể tham gia sâu hơn vào các hành lang vận tải xuyên Á-Âu, tạo thêm lựa chọn cho xuất khẩu, nhất là với hàng container… Từ đó, vị thế của đường sắt trong cơ cấu vận tải cũng sẽ thay đổi, có thể góp phần kéo giảm chi phí logistics, nâng cao năng lực cạnh tranh và mở rộng không gian phát triển của nền kinh tế.

- Từ thực tiễn hoạt động của VNR, ông kỳ vọng đâu sẽ là “đột phá mang tính nền tảng” trong thời gian tới, thưa ông?

- Nếu chỉ nhìn vào các dự án cụ thể, có thể thấy những bước tiến rất rõ về hạ tầng. Nhưng điều quyết định không nằm ở từng tuyến đường, mà ở việc có hình thành được một hệ thống đồng bộ hay không.

Song song với đó là bài toán con người. Khoảng cách về công nghệ càng lớn thì áp lực về nhân lực càng rõ. Nếu không chuẩn bị kịp, nguy cơ phụ thuộc trong vận hành là điều khó tránh khỏi.

Một điều cốt lõi khác là năng lực nội tại của ngành. Đường sắt hiện đại không chỉ cần vận hành tốt, mà cần có khả năng tự bảo trì, sửa chữa, tiến tới tham gia chế tạo. Những yếu tố này không tách rời nhau. Hạ tầng tạo ra nhu cầu, thể chế mở đường cho nguồn lực, nhân lực quyết định khả năng vận hành, còn công nghiệp và công nghệ tạo nền cho sự phát triển bền vững. Vì vậy, “đột phá mang tính nền tảng” trong thời gian tới không nằm ở một dự án đơn lẻ, mà ở khả năng tạo được một hệ sinh thái đường sắt đồng bộ.

Khi đó, đường sắt mới thật sự chuyển từ vai trò vận tải truyền thống sang một hệ sinh thái hiện đại, có khả năng tự chủ và đóng góp lớn hơn cho nền kinh tế, tương xứng vai trò là “trục xương sống”, “động mạch chủ” trong phát triển kinh tế-xã hội.

- Trân trọng cảm ơn ông!

Việc định hướng hình thành tổ hợp công nghiệp đường sắt, phát triển đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ là bước đi cần thiết để tích lũy năng lực lâu dài”.

Ông Nguyễn Quốc Vượng

Có thể bạn quan tâm

Các không gian đọc cộng đồng cần được quan tâm đầu tư thành những điểm hẹn văn hóa. Ảnh: TRANG PHI

Con đường đầu tư cho tương lai

Hình ảnh người ngồi đọc sách ở các địa điểm công cộng ngày càng trở nên hiếm gặp, song sẽ là phiến diện nếu cho rằng người Việt đang quay lưng với sách. Thực tế cho thấy nhu cầu đọc vẫn tồn tại dưới nhiều dạng thức. Mối bận tâm về văn hóa đọc, do đó, không phải là cộng đồng “có đọc hay không”, mà là chúng ta nên “đọc gì, đọc như thế nào và dành bao nhiêu thời gian cho việc đọc sâu”.

PGS, TS Nguyễn Văn Tùng

Từ phong trào đến tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục

Nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành văn hóa đọc, bởi đây là môi trường giáo dục nền tảng, nơi hình thành thói quen, nhân cách và phương pháp học tập của mỗi con người. PGS, TS Nguyễn Văn Tùng, thành viên Hội đồng thành viên, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về các giải pháp phát triển văn hóa đọc cho học sinh.

TS Nguyễn Mạnh Hùng (người ngồi bên trái) trò chuyện với kỹ sư Lê Thanh Hải. Ảnh: Tuyết Minh

Một cánh cửa mới

Từ trước đến nay, khi nói đến văn hóa đọc, chúng ta thường nghĩ đến việc đọc sách. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, đọc không chỉ là đọc chữ. Đọc còn là đọc con người, đọc cuộc đời, đọc thiên nhiên, đọc xã hội và cuối cùng là đọc chính mình.

Diễn giả Nguyễn Quốc Vương trong một lần chia sẻ về văn hóa đọc với các em học sinh. Ảnh: NVCC

Như mạch nước kiên trì lan tỏa

Năm nay đánh dấu 10 năm tôi theo đuổi con đường khuyến đọc. Trong 10 năm đó, tất cả công việc của tôi đều tập trung vào hoạt động khuyến đọc bao gồm viết, đọc, nói (diễn thuyết). Và thật sự, con đường này vẫn vô cùng gian nan.

Không ít bạn trẻ lướt mạng thay vì đọc sâu. Ảnh: VĂN HỌC

Dừng lại, suy ngẫm và chuyển hóa

Khi sự chú ý liên tục bị phân tán bởi các luồng thông tin ngắn, phản hồi tức thời, việc dành thời gian cho một cuốn sách, ý tưởng hay quá trình suy tư ngày càng trở nên khó khăn.

Mục tiêu không chỉ là sản xuất nhiều gạo hơn mà là sản xuất gạo chất lượng cao hơn, giảm phát thải hơn. Trong ảnh: Cánh đồng lúa chất lượng cao ở xã Gia Hòa, thành phố Cần Thơ. Ảnh: Phương Bằng

Nông nghiệp với ngã rẽ chuyển đổi tư duy

Biến đổi khí hậu cùng với các yêu cầu mới của thị trường toàn cầu về giảm phát thải khí nhà kính, sản xuất xanh và phát triển bền vững đang trở thành những tiêu chuẩn bắt buộc, để nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải chuyển đổi tư duy sản xuất, tập trung vào chất lượng, hiệu quả và khả năng thích ứng.

Châu thổ Cửu Long.

Kiến tạo động lực tăng trưởng bền vững

Trước câu hỏi, đâu là mô hình tăng trưởng phù hợp để vừa phát huy những lợi thế sẵn có vừa giữ gìn bản sắc văn hóa sông nước vùng châu thổ Cửu Long? Nhân Dân cuối tuần đã ghi lại những ý kiến trao đổi của lãnh đạo các địa phương.

Hàng loạt công trình hạ tầng giao thông trọng điểm quốc gia được đầu tư xây dựng, góp phần kiến tạo động lực để vùng Đồng bằng sông Cửu Long cất cánh. Trong ảnh: Thi công cao tốc trục ngang Châu Đốc - Trần Đề. Ảnh: Phương Bằng

Vận hội vươn mình trước làn sóng đầu tư

Sau nhiều thập niên là “vùng trũng” về hạ tầng giao thông và thu hút đầu tư, Đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước vận hội mới. Những tuyến cao tốc, trục dọc, đường ngang, đường vành đai ven biển, ven biên giới, nhiều cầu lớn vượt sông dần nên hình hài... góp phần vào việc thu hẹp khoảng cách kinh tế một cách nhanh chóng và tạo đà tăng trưởng mạnh mẽ.

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Du lịch trải nghiệm (Experiential travel) hay còn có cái tên khác là du lịch hòa nhập (Immersive travel) đã và đang hiện diện ngày càng rõ ràng hơn trong nhiều loại hình sản phẩm khác nhau ở Việt Nam, với một điểm chung: Yếu tố trải nghiệm luôn được ưu tiên ở vị trí số một.

Du khách trải nghiệm làm rối nước tại thôn Bàn Thạch (tên nôm là thôn Rạch), phường Hồng Quang, tỉnh Ninh Bình. Ảnh: LƯƠNG VĂN PHƯƠNG

Thước đo mới cho giá trị điểm đến

Là một xu hướng mới tại Việt Nam, đặc biệt từ sau đại dịch Covid-19, du lịch trải nghiệm khuyến khích du khách tối đa hóa các giá trị nhận lại từ điểm đến bằng cách hòa mình kết nối và trở thành một phần của đời sống, văn hóa địa phương, thay vì chỉ đóng vai trò quan sát, nhìn ngắm hời hợt.

Du khách học cách làm món đồ uống độc đáo cà-phê trứng của Hà Nội. (Nguồn ảnh: Dine With Locals)

Cách để “bán” câu chuyện cuộc sống

Truyền thống lịch sử lâu đời cùng địa lý đa dạng và nền văn hóa giàu bản sắc là nền tảng, điểm tựa để Việt Nam phát triển du lịch bền vững với phong phú yếu tố trải nghiệm. Chung quanh chủ đề này, Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số chuyên gia và người trực tiếp làm công tác quản lý, vận hành dịch vụ/ mô hình du lịch trải nghiệm ở Việt Nam.

Khách du lịch tham gia các hoạt động trải nghiệm trong tour Về làng học thêu tay. Ảnh: DÃ LIÊN

Tạo sức hút và năng lực cạnh tranh mới

Mô hình trải nghiệm làng nghề ở Hà Nội đã có từ lâu, như ở làng gốm Bát Tràng, song phần lớn đều dừng ở mức đơn giản, nặng tính “cưỡi ngựa xem hoa”, hoặc như một gia vị cho hoạt động tham quan. Thời gian gần đây, nhiều làng nghề đã đổi mới cách làm, từ đó tạo nên sức hút và năng lực cạnh tranh mới.

Trước mắt anh Phương Nam, Côn Đảo mở ra biết bao nhịp sống xanh, nguyên sơ, trong trẻo. Ảnh: MINH LÊ

Những “điểm chạm” nguyên sơ, trong trẻo

Côn Đảo lâu nay thường được nhắc đến như một vùng đất chứa đựng ký ức lịch sử bi tráng của dân tộc, với hệ thống nhà tù của thực dân và đế quốc cùng những trang sử đấu tranh của các chiến sĩ cách mạng. Nhưng đối với nhiều du khách, sau những “điểm chạm” vào thiên nhiên ở nơi này, Côn Đảo còn là biết bao nhịp xanh, nguyên sơ, trong trẻo.

Bên cạnh gia đình luôn là khoảng thời gian chất lượng để vun trồng một thế hệ hạnh phúc. Ảnh: UNICEF Việt Nam

Hôm nay, tôi đã lắng nghe con mình chưa?

Trong nhiều cuộc tiếp xúc với phụ huynh, rất nhiều cha mẹ chia sẻ với tôi một nguyện vọng rất thật: “Mong con được hạnh phúc”. Song, khi được hỏi: “Hạnh phúc là gì?”, nhiều người lại ngập ngừng.

Bà Nguyễn Phạm Duy Trang.

An toàn là nền móng của hạnh phúc!

Mùa hè không chỉ là khoảng thời gian nghỉ ngơi, vui chơi của trẻ em, mà còn là thời điểm đặt ra nhiều nỗi lo về an toàn, sức khỏe tinh thần và môi trường phát triển của các em trong bối cảnh xã hội hiện đại.

Ước mơ trở thành phi hành gia của bạn Nguyễn Lê Hà Vy, lớp 5B, Trường tiểu học Phúc Tân.

Ðiều chúng em mong muốn!

Trong guồng quay hối hả của cuộc sống hiện đại, nhiều khi những mong mỏi của trẻ em chưa được lắng nghe, chưa được thấu cảm trọn vẹn. Cần lắm những diễn đàn, những kênh kết nối để trẻ em được cất tiếng nói.

Ảnh sử dụng đồ hoạ AI.

Agentic AI - Cơ hội không chia đều cho tất cả

Năm 2026, Agentic AI nổi lên như hiện tượng công nghệ định hình lại cách thế giới làm việc. Bài toán đặt ra cho Việt Nam không còn là "có nên ứng dụng", mà phải "làm thế nào để bắt kịp và làm chủ" trong bối cảnh công nghệ đang tái định nghĩa năng suất, lao động và lợi thế cạnh tranh.

Kỹ sư phần mềm là đối tượng dễ bị ảnh hưởng bởi AI. Nguồn: FPT

Thuê trí tuệ - Lằn ranh đỏ

Trong lịch sử kinh tế, có một thứ vẫn luôn được coi là tài sản không thể chia, không thể mua, không thể bị tước đi: Trí tuệ của con người. Thời điểm Agentic AI (trí tuệ nhân tạo tự chủ) bùng nổ, điều đó không còn đúng nữa.