Bài toán về tầm nhìn và khả năng làm chủ công nghệ

Được xác định là lĩnh vực ưu tiên chiến lược, hợp tác phát triển đường sắt, nhất là đường sắt tốc độ cao, của Việt Nam không chỉ là câu chuyện của một công trình hạ tầng, mà là bài toán lớn đặt ra yêu cầu làm chủ công nghệ, đào tạo nhân lực và năng lực nội sinh.

Ông Nguyễn Quốc Vượng, Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Đường sắt Việt Nam (VNR).
Ông Nguyễn Quốc Vượng, Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Đường sắt Việt Nam (VNR).

Trao đổi với Báo Nhân Dân, ông Nguyễn Quốc Vượng, Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Đường sắt Việt Nam (VNR) chia sẻ những điều kiện cốt lõi để hiện thực hóa mục tiêu này.

Cơ hội tiếp cận và từng bước làm chủ công nghệ

- Thưa ông, sau chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, hợp tác đường sắt được nhấn mạnh như một lĩnh vực chiến lược. Vậy đâu là thời cơ lớn nhất đang mở ra cho ngành đường sắt Việt Nam nói chung và VNR nói riêng?

- Có thể nói, ngành đường sắt đang đứng trước một cơ hội chưa từng có, nhất là nhận được sự quan tâm lớn của lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Mới đây, trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước tới Trung Quốc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước khẳng định, việc hợp tác đường sắt với Trung Quốc sẽ mở ra không gian phát triển mới, tạo thuận lợi cho thương mại, đầu tư, thúc đẩy liên kết kinh tế và giao lưu nhân dân giữa hai nước; đồng thời góp phần tăng cường kết nối hạ tầng, kết nối chuỗi cung ứng khu vực và quốc tế.

Chuyến trải nghiệm bằng tàu cao tốc từ Bắc Kinh tới Nam Ninh của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và Phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao của Việt Nam là hoạt động nằm trong chuỗi khảo sát thực tế, học hỏi kinh nghiệm phát triển hạ tầng, công nghiệp đường sắt hiện đại của nước bạn. Trong đó, xác định hợp tác đường sắt là lĩnh vực ưu tiên, nhấn mạnh tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao năng lực quản lý, vận hành và từng bước tiếp nhận, làm chủ công nghệ hiện đại trong lĩnh vực đường sắt. Đây là yếu tố nền tảng, tạo tiền đề quan trọng để phát triển ngành công nghiệp đường sắt trong nước, từ đó tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Với VNR, thời cơ thể hiện khá cụ thể, đó là hệ thống cơ chế, chính sách đang được hoàn thiện theo hướng trao quyền chủ động hơn cho doanh nghiệp trong quản lý, khai thác và huy động nguồn lực. Đặc biệt, ngày 27/3 vừa qua, Chính phủ đã có Quyết định số 498/QĐ-TTg phê duyệt về việc cơ cấu lại VNR giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn 2035 theo định hướng mô hình tập đoàn là tiền đề để phát huy lợi thế và nâng cao năng lực cạnh tranh của VNR. Mặc dù, trên thực tế, khoảng cách công nghệ giữa đường sắt hiện hữu và đường sắt mới là rất rõ nhưng chính khoảng cách đó lại tạo động lực để ngành tái cấu trúc toàn diện.

- Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu không chỉ tiếp nhận hỗ trợ, mà phải từng bước làm chủ công nghệ đường sắt điện khí hóa và đường sắt tốc độ cao. Theo ông, để đi từ “hợp tác” đến “làm chủ”, ngành đường sắt Việt Nam cần chuẩn bị những điều kiện gì?

- “Làm chủ công nghệ” không phải là một bước chuyển mang tính kỹ thuật đơn thuần, mà là một quá trình tổ chức lại toàn bộ nền tảng phát triển ngành, từ thể chế, nhân lực đến năng lực công nghiệp. Nếu không có một khung chính sách đủ rõ, đủ mạnh, doanh nghiệp trong nước rất khó tham gia sâu vào các dự án lớn. Đặc biệt, việc chuyển giao công nghệ cần được thực hiện ngay từ đầu, với các chỉ tiêu cụ thể, tránh tình trạng tiếp nhận thiết bị nhưng không nắm được công nghệ lõi.

Nhân lực là khâu quyết định. Theo tính toán, riêng hai dự án lớn là tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng và đường sắt tốc độ cao bắc - nam cần khoảng 16.311 lao động kỹ thuật. Hệ thống đào tạo trong nước hiện chưa có chương trình hoàn chỉnh cho đường sắt điện khí hóa và tốc độ cao, thiếu cả giáo trình, giảng viên và cơ sở thực hành đạt chuẩn. Đào tạo phải đi trước một bước, thậm chí tách thành một “dự án độc lập”, gắn chặt với tiến độ các tuyến mới.

Một điều kiện không thể thiếu là năng lực công nghiệp trong nước. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, những quốc gia chuẩn bị tốt về đào tạo và công nghiệp trong nước thì có thể rút ngắn quá trình làm chủ công nghệ. Ngược lại, nếu đi nhanh ở khâu xây dựng nhưng chậm ở khâu con người và thể chế, sẽ phải trả giá bằng sự phụ thuộc dài hạn. Vì vậy, từ “hợp tác” đến “làm chủ” là hai phân đoạn phải được triển khai đồng thời, với trọng tâm là hoàn thiện thể chế, chuẩn bị nguồn nhân lực quy mô lớn và xây dựng năng lực công nghiệp ngay từ đầu.

img-20260421-131410-6843.jpg
Các học viên Việt Nam tham gia khóa học thực tập thực tế về vận hành đường sắt tốc độ cao tại Trung Quốc. Nguồn VNR

Xây dựng năng lực nội sinh làm tiền đề cho phát triển dài lâu

- Vậy VNR đã và đang chuẩn bị ra sao để không rơi vào tình trạng có dự án nhưng thiếu đội ngũ đủ năng lực tiếp nhận, vận hành, bảo trì và khai thác, thưa ông?

- Câu chuyện nhân lực lần này không còn là “đi sau để đáp ứng”, mà buộc phải đi trước để đón đầu công nghệ. Thực tế, lực lượng lao động hiện nay đông nhưng phân bố chưa hợp lý, mức độ tiếp cận công nghệ hiện đại còn hạn chế, VNR dự kiến tổ chức đào tạo theo hai hướng song song: đào tạo mới và đào tạo chuyển đổi (đào tạo lại) giúp tận dụng kinh nghiệm của lực lượng hiện có, đồng thời bổ sung lớp nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ cao với lộ trình rõ ràng, gắn trực tiếp với tiến độ dự án. Các giai đoạn được tách ra từ chuẩn bị, xây dựng, vận hành thử đến vận hành thương mại, với nội dung đào tạo tương ứng: từ nền tảng, chuyên sâu đến thực hành trên thiết bị mô phỏng và hiện trường. Đào tạo trong nước được kết hợp với đào tạo tại nước ngoài, nhưng hướng tới mục tiêu sau một giai đoạn sẽ chủ động đào tạo trong nước.

Một trọng tâm khác là đào tạo theo mô hình đa tầng. Không chỉ đào tạo kỹ sư hay lái tàu, mà xây dựng đầy đủ các lớp nhân lực: quản lý, kỹ thuật, công nhân lành nghề, giảng viên, thậm chí cả lực lượng nghiên cứu và phát triển. Đây là điều kiện để hệ thống có thể vận hành ổn định và phát triển lâu dài.

- Trong hợp tác với các đối tác quốc tế, theo ông đâu là yếu tố quan trọng nhất để tránh phụ thuộc kéo dài, nhưng vẫn tạo được đội ngũ kỹ sư, công nhân lành nghề bản địa?

- Điểm mấu chốt không nằm ở việc “học được gì”, mà là sau hợp tác có tự làm được hay không. Thực tế, nếu chỉ dừng ở tiếp nhận thiết bị và vận hành, nguy cơ phụ thuộc là rất rõ. Từ kinh nghiệm từ một số nước phát triển đường sắt tốc độ cao, có thể thấy hợp tác quốc tế phải đi theo hướng thực chất hơn.

Trước hết là có cơ hội được tham gia vào dự án ngay từ đầu.

Thứ hai đào tạo phải gắn với công việc cụ thể. Nhân lực được cử đi đào tạo cần quay về đúng vị trí, đúng dự án, có điều kiện làm việc ngay trên hệ thống mình sẽ vận hành.

Thứ ba phải có lộ trình nội địa hóa rõ ràng. Hợp tác quốc tế cần gắn với yêu cầu chuyển giao công nghệ từng phần nhằm giúp doanh nghiệp trong nước tham gia sâu vào chuỗi giá trị để việc “làm chủ” không chỉ dừng ở khâu vận hành.

Cuối cùng xây dựng năng lực nội sinh. Điều này không chỉ nằm ở doanh nghiệp vận hành, mà còn ở hệ thống đào tạo, nghiên cứu và công nghiệp hỗ trợ - nơi lưu giữ lại tri thức, tích lũy kinh nghiệm và là tiền đề cho phát triển lâu dài. Đây là con đường ngắn nhất để hình thành đội ngũ kỹ sư, công nhân lành nghề của Việt Nam.

Hình thành hệ sinh thái đường sắt - “đột phá mang tính nền tảng”

- Theo ông, nếu các dự án trọng điểm được triển khai đúng tiến độ sẽ tạo ra thay đổi cụ thể như thế nào đối với năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và vị thế của vận tải đường sắt Việt Nam?

- Điểm hạn chế nhất của đường sắt hiện hữu là tính kết nối. Hạ tầng chưa gắn được với các khu công nghiệp, cảng biển lớn, dịch vụ “door to door” vì thế còn hạn chế, chi phí trung gian cao. Thêm vào đó, lại bị giới hạn bởi đường đơn, khổ đường nhỏ, năng lực ga và tuyến không đồng bộ, nên vừa chậm, vừa khó tăng sản lượng.

Khi các tuyến mới được triển khai, kết nối trực tiếp với hành lang kinh tế và cửa khẩu, hàng hóa có thể đi thẳng từ khu sản xuất đến cảng biển hoặc sang thị trường nước ngoài bằng một chuỗi vận tải liền mạch, thay vì phải trung chuyển nhiều lần như hiện nay.

Một thay đổi đáng chú ý khác là khả năng mở rộng kết nối quốc tế. Nếu hạ tầng được nâng cấp đồng bộ, đường sắt Việt Nam có thể tham gia sâu hơn vào các hành lang vận tải xuyên Á-Âu, tạo thêm lựa chọn cho xuất khẩu, nhất là với hàng container… Từ đó, vị thế của đường sắt trong cơ cấu vận tải cũng sẽ thay đổi, có thể góp phần kéo giảm chi phí logistics, nâng cao năng lực cạnh tranh và mở rộng không gian phát triển của nền kinh tế.

- Từ thực tiễn hoạt động của VNR, ông kỳ vọng đâu sẽ là “đột phá mang tính nền tảng” trong thời gian tới, thưa ông?

- Nếu chỉ nhìn vào các dự án cụ thể, có thể thấy những bước tiến rất rõ về hạ tầng. Nhưng điều quyết định không nằm ở từng tuyến đường, mà ở việc có hình thành được một hệ thống đồng bộ hay không.

Song song với đó là bài toán con người. Khoảng cách về công nghệ càng lớn thì áp lực về nhân lực càng rõ. Nếu không chuẩn bị kịp, nguy cơ phụ thuộc trong vận hành là điều khó tránh khỏi.

Một điều cốt lõi khác là năng lực nội tại của ngành. Đường sắt hiện đại không chỉ cần vận hành tốt, mà cần có khả năng tự bảo trì, sửa chữa, tiến tới tham gia chế tạo. Những yếu tố này không tách rời nhau. Hạ tầng tạo ra nhu cầu, thể chế mở đường cho nguồn lực, nhân lực quyết định khả năng vận hành, còn công nghiệp và công nghệ tạo nền cho sự phát triển bền vững. Vì vậy, “đột phá mang tính nền tảng” trong thời gian tới không nằm ở một dự án đơn lẻ, mà ở khả năng tạo được một hệ sinh thái đường sắt đồng bộ.

Khi đó, đường sắt mới thật sự chuyển từ vai trò vận tải truyền thống sang một hệ sinh thái hiện đại, có khả năng tự chủ và đóng góp lớn hơn cho nền kinh tế, tương xứng vai trò là “trục xương sống”, “động mạch chủ” trong phát triển kinh tế-xã hội.

- Trân trọng cảm ơn ông!

Việc định hướng hình thành tổ hợp công nghiệp đường sắt, phát triển đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ là bước đi cần thiết để tích lũy năng lực lâu dài”.

Ông Nguyễn Quốc Vượng

Có thể bạn quan tâm

Lớp học nâng cao trình độ về đường sắt tốc độ cao ngành Thi công và Bảo dưỡng công trình.

Mở rộng hợp tác trong đào tạo nguồn nhân lực mới

Một nhiệm vụ mang tính chiến lược, đóng vai trò then chốt trong xây dựng và vận hành đường sắt tốc độ cao, là phải đi trước một bước để đào tạo nguồn nhân lực có đủ năng lực, trình độ tiếp nhận, vận hành, khai thác, bảo trì và từng bước làm chủ các công nghệ tiên tiến, hiện đại đang được áp dụng với đường sắt tốc độ cao.

Khi Luật Sở hữu trí tuệ và quyền hình ảnh của người sáng tạo được thực thi đầy đủ, các tác giả làm việc trong nhiều lĩnh vực nghệ thuật mới ở Việt Nam sẽ tích cực chủ động tham gia đăng ký bản quyền tác giả hơn nữa. (Trong ảnh: Vở múa đương đại Nón của biên đạo Vũ Ngọc Khải. Ảnh Đại Ngô)

Chuyển dịch tư duy về sở hữu trí tuệ

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam (Nghị quyết 80) đặt mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp 7% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) vào năm 2030 và trở thành trụ cột kinh tế với 9% GDP vào năm 2045.

Bà Phạm Thị Kim Oanh.

Đồng hành để hỗ trợ giới sáng tạo một cách tốt nhất

Nhân Dân cuối tuần có cuộc trao đổi với bà Phạm Thị Kim Oanh, Phó Cục trưởng Bản quyền tác giả, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, về những nỗ lực của cơ quan quản lý nhà nước trong việc đồng hành, khuyến khích các tổ chức, cá nhân chủ động nâng cao hơn nữa ý thức về bảo vệ quyền tác giả và các quyền liên quan quyền tác giả.

Đồi chè Mộc Châu. (Ảnh Huỳnh Văn Truyền)

Chủ động mở những lối đi

Nhiếp ảnh là một trong những lĩnh vực sáng tác mà việc vi phạm bản quyền xảy ra khá thường xuyên, ở nhiều phương thức, cấp độ khác nhau.

Ngành công nghệ cần đặt an toàn của trẻ em vào khâu thiết kế sản phẩm, thay vì coi đó là phần việc xử lý sau cùng. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Đồng hành để bảo vệ

Internet từ lâu đã trở thành một phần tất yếu của cuộc sống, kể cả với trẻ em. Tuy nhiên, mức độ hiện diện cao ấy không đồng nghĩa với việc thế hệ trẻ có đủ năng lực để tự bảo vệ mình.

Trung ương Đoàn luôn chủ động tạo ra các không gian cởi mở để kịp thời lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của trẻ em.

Lắng nghe đúng, hành động trúng

Trong thời đại kỷ nguyên số, không gian mạng không còn là một công cụ hỗ trợ, mà đã trở thành một môi trường sống song hành với đời sống của trẻ em.

Chiến dịch Không một mình, nằm trong chuỗi các hành động nhằm thực hiện Công ước Hà Nội, hướng tới đồng hành với giới trẻ trong phòng, chống bắt cóc online. Ảnh: Hiệp hội An ninh mạng

Nhật ký một ngày online

LTS - Không phải những con số thống kê khô khan, cũng không phải góc nhìn của người lớn, ký sự này được thực hiện bởi chính những “người trong cuộc” - nhóm phóng viên nhí của Tòa soạn Tiếng Xanh (hoạt động dưới sự hướng dẫn của UNICEF Việt Nam).

Thay vì ngăn chặn, Việt Nam đang hướng đến những giải pháp thân thiện, cùng đồng hành với trẻ trên không gian mạng. Trong ảnh: Trích từ cẩm nang “Tự tin chinh phục Vương quốc Social” của Toà soạn Tiếng Xanh.

Từ chính sách đến từng gia đình

Không gian mạng hôm nay đã là một phần của tuổi thơ Việt Nam. Vì thế, bài toán không còn là “có nên cho trẻ dùng mạng xã hội hay không”, mà là làm sao để trẻ em Việt Nam được lớn lên trong một môi trường số an toàn hơn, lành mạnh hơn và công bằng hơn.

Lần đầu tiên trong lịch sử quy hoạch đô thị Việt Nam, Thủ đô Hà Nội được Trung ương giao quyền lập đồ án Quy hoạch, phù hợp việc tổ chức lại địa giới hành chính, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp. Ảnh Thành Đạt

Thách thức trong bước chuyển tư duy

Lời tòa soạn - Theo Quy hoạch Tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm, thành phố sẽ phát triển với cấu trúc đô thị “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm”, điểm nhấn xuyên suốt là văn hiến, văn minh, hiện đại, hạnh phúc, trong đó yếu tố “hạnh phúc” được đặt ở vị trí trung tâm.

Hà Nội định hình cấu trúc đô thị theo không gian phát triển mở “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm”. (Ảnh KHIẾU MINH)

Không để quy hoạch chỉ dừng ở bản vẽ

Quy hoạch Tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm (Quy hoạch) đã được Hội đồng nhân dân thành phố thông qua. Quy hoạch cho thấy tầm chiến lược, có các phân kỳ, giai đoạn thực hiện, nhưng cũng cần giải quyết những khó khăn, thách thức để đi vào đời sống.

Ông Trịnh Quang Dũng, Trưởng phòng Quản lý hoạt động quy hoạch, kiến trúc đô thị, Sở Quy hoạch-Kiến trúc Hà Nội.

Đúc rút bài học thực tiễn, kiến tạo phát triển bền vững

Ông Trịnh Quang Dũng, Trưởng phòng Quản lý hoạt động quy hoạch, kiến trúc đô thị, Sở Quy hoạch-Kiến trúc Hà Nội chia sẻ: Để kiến tạo một Thủ đô phát triển bền vững xuyên thế kỷ, cơ quan chuyên môn không né tránh mà đi sâu nghiên cứu, bắt đúng bệnh...

Nhiều cuộc tọa đàm được tổ chức, nhằm đóng góp ý kiến cho chuyển đổi số quy hoạch đô thị tại Hà Nội. (Ảnh DIÊN KHÁNH)

“Bộ não số” cho đô thị thông minh

Thủ đô Hà Nội đang từng bước chuyển đổi, đầu tư hạ tầng công nghệ, tích cực chuyển đổi tư duy quản trị đô thị và quản lý quy hoạch, nâng cao chất lượng sống của người dân.

Các di tích, cảnh quan thiên nhiên, ao hồ cần có “đời sống của mình” trong không gian đô thị mới. (Ảnh VĂN HỌC)

Tích hợp yếu tố sinh thái vào từng lựa chọn

Ô nhiễm môi trường không chỉ là thách thức trước mắt, mà còn là lực cản lớn đối với mục tiêu phát triển bền vững của Thủ đô. Vì vậy, quy hoạch tổng thể phải bảo đảm yêu cầu rất cao về phát triển xanh cũng như tạo dựng hệ sinh thái phong phú cho đô thị.

Lãnh đạo phường Hồng Hà giải đáp thắc mắc của người dân bị thu hồi đất tại hiện trường.

Thước đo của một Thủ đô vì con người

Hà Nội đang bước vào giai đoạn tái cấu trúc đô thị mạnh mẽ. Song, phía sau những công trình mang tầm vóc quy hoạch là đổi thay trong đời sống của người dân, đặt ra yêu cầu phải giải quyết hài hòa bài toán phát triển và an cư.

Các yếu tố mang tính quyết định cho chuyển đổi xanh, như khoa học công nghệ, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo… cần được đầu tư tương xứng. (Ảnh Thành Đạt)

Thế chân kiềng trong kỷ nguyên xanh

Lời toà soạn - Để đưa nông nghiệp Việt Nam bước vào kỷ nguyên xanh, điều cốt lõi là phải tái định hình vai trò của Nhà nước, doanh nghiệp và người nông dân trong một hệ sinh thái phát triển mới.

Chuyển dịch xanh đang mở ra cơ hội để nông sản Việt Nam tái định vị trên thị trường quốc tế. (Trong ảnh: Trồng sầu riêng cho năng suất cao ở xã Trường Long, TP Cần Thơ). (Ảnh Phương Bằng)

Tháo gỡ nút thắt vốn và đầu tư

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt, biến động thị trường khó đoán định, đòi hỏi từ người tiêu dùng cũng cao hơn, nông nghiệp Việt Nam đứng trước yêu cầu phải chuyển dịch xanh, nâng cao giá trị.

TS Trần Công Thắng, Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Tối ưu hóa công cụ chính sách, khơi thông nguồn lực công-tư

Phát triển các công cụ chính sách mới, dựa vào cơ chế thị trường để huy động sự tham gia của toàn xã hội trong phát triển nông nghiệp gắn với bảo vệ môi trường là điều TS Trần Công Thắng, Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nhấn mạnh trong cuộc trò chuyện với NDCT.

Cần thúc đẩy mô hình liên kết bốn nhà (Nhà nước-Viện nghiên cứu-Doanh nghiệp-Nông dân) theo chuỗi giá trị. (Ảnh Đạt Thành)

Doanh nghiệp tiên phong nắm lợi thế

Thể chế và hệ sinh thái về chuyển đổi số - xanh của Việt Nam vẫn chưa hoàn thiện cũng như chưa đủ mạnh để phát triển trên diện rộng. Để hóa giải tình trạng này, cần đồng bộ quá trình hoàn thiện thể chế và tài chính xanh, đi đôi hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi, phát triển hạ tầng số.

Các hợp tác xã, tổ hợp tác, thông qua Chương trình FFF có nhiều cơ hội giao lưu, trao đổi để phát triển. (Ảnh FAO Việt Nam)

Ươm mầm sinh kế

Từ những mảnh vườn nhỏ ở Lào Cai, Thái Nguyên hay Phú Thọ, một mô hình mới đang dần hình thành: Nông nghiệp gắn với rừng, với thị trường, với cộng đồng và với tương lai dài hạn.

Bảy mô hình Đề án 1 triệu ha lúa tại Đồng bằng sông Cửu Long ghi nhận năng suất đều tăng, nâng cao thu nhập cho nông dân từ 4-7,6 triệu đồng/ha. (Ảnh Lê Phương)

Bài toán nâng tầm giá trị hạt gạo

Lúa phát thải thấp giúp nâng cao giá trị hạt gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế, nhưng đồng thời cũng đặt ra bài toán lớn liên quan nguồn vốn và tổ chức canh tác nông nghiệp.

Đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt giúp minh bạch hóa dòng tiền, giảm thất thu thuế, đồng thời bảo đảm an toàn tài chính cho người dân cũng như nền kinh tế. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Cuộc đua tốc độ và bảo mật

Lời toà soạn - Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, giá trị thanh toán không dùng tiền mặt năm 2025 gấp khoảng 28 lần tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tương đương hơn 14 nghìn tỷ USD.

Các hoạt động hướng dẫn sử dụng dịch vụ công trực tuyến và phổ biến phương thức thanh toán không dùng tiền mặt (QR code, chuyển khoản) được triển khai mạnh mẽ.

Hướng tới phát triển các hệ sinh thái số

Với tốc độ tăng trưởng hai con số liên tục trong nhiều năm, thanh toán không dùng tiền mặt đã trở thành một phần tất yếu của cuộc sống. Dù mang lại nhiều tiện ích, việc phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu phải bảo đảm an toàn, bảo mật.