Bài toán về tầm nhìn và khả năng làm chủ công nghệ

Được xác định là lĩnh vực ưu tiên chiến lược, hợp tác phát triển đường sắt, nhất là đường sắt tốc độ cao, của Việt Nam không chỉ là câu chuyện của một công trình hạ tầng, mà là bài toán lớn đặt ra yêu cầu làm chủ công nghệ, đào tạo nhân lực và năng lực nội sinh.

Ông Nguyễn Quốc Vượng, Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Đường sắt Việt Nam (VNR).
Ông Nguyễn Quốc Vượng, Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Đường sắt Việt Nam (VNR).

Trao đổi với Báo Nhân Dân, ông Nguyễn Quốc Vượng, Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Đường sắt Việt Nam (VNR) chia sẻ những điều kiện cốt lõi để hiện thực hóa mục tiêu này.

Cơ hội tiếp cận và từng bước làm chủ công nghệ

- Thưa ông, sau chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, hợp tác đường sắt được nhấn mạnh như một lĩnh vực chiến lược. Vậy đâu là thời cơ lớn nhất đang mở ra cho ngành đường sắt Việt Nam nói chung và VNR nói riêng?

- Có thể nói, ngành đường sắt đang đứng trước một cơ hội chưa từng có, nhất là nhận được sự quan tâm lớn của lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Mới đây, trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước tới Trung Quốc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước khẳng định, việc hợp tác đường sắt với Trung Quốc sẽ mở ra không gian phát triển mới, tạo thuận lợi cho thương mại, đầu tư, thúc đẩy liên kết kinh tế và giao lưu nhân dân giữa hai nước; đồng thời góp phần tăng cường kết nối hạ tầng, kết nối chuỗi cung ứng khu vực và quốc tế.

Chuyến trải nghiệm bằng tàu cao tốc từ Bắc Kinh tới Nam Ninh của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và Phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao của Việt Nam là hoạt động nằm trong chuỗi khảo sát thực tế, học hỏi kinh nghiệm phát triển hạ tầng, công nghiệp đường sắt hiện đại của nước bạn. Trong đó, xác định hợp tác đường sắt là lĩnh vực ưu tiên, nhấn mạnh tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao năng lực quản lý, vận hành và từng bước tiếp nhận, làm chủ công nghệ hiện đại trong lĩnh vực đường sắt. Đây là yếu tố nền tảng, tạo tiền đề quan trọng để phát triển ngành công nghiệp đường sắt trong nước, từ đó tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Với VNR, thời cơ thể hiện khá cụ thể, đó là hệ thống cơ chế, chính sách đang được hoàn thiện theo hướng trao quyền chủ động hơn cho doanh nghiệp trong quản lý, khai thác và huy động nguồn lực. Đặc biệt, ngày 27/3 vừa qua, Chính phủ đã có Quyết định số 498/QĐ-TTg phê duyệt về việc cơ cấu lại VNR giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn 2035 theo định hướng mô hình tập đoàn là tiền đề để phát huy lợi thế và nâng cao năng lực cạnh tranh của VNR. Mặc dù, trên thực tế, khoảng cách công nghệ giữa đường sắt hiện hữu và đường sắt mới là rất rõ nhưng chính khoảng cách đó lại tạo động lực để ngành tái cấu trúc toàn diện.

- Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu không chỉ tiếp nhận hỗ trợ, mà phải từng bước làm chủ công nghệ đường sắt điện khí hóa và đường sắt tốc độ cao. Theo ông, để đi từ “hợp tác” đến “làm chủ”, ngành đường sắt Việt Nam cần chuẩn bị những điều kiện gì?

- “Làm chủ công nghệ” không phải là một bước chuyển mang tính kỹ thuật đơn thuần, mà là một quá trình tổ chức lại toàn bộ nền tảng phát triển ngành, từ thể chế, nhân lực đến năng lực công nghiệp. Nếu không có một khung chính sách đủ rõ, đủ mạnh, doanh nghiệp trong nước rất khó tham gia sâu vào các dự án lớn. Đặc biệt, việc chuyển giao công nghệ cần được thực hiện ngay từ đầu, với các chỉ tiêu cụ thể, tránh tình trạng tiếp nhận thiết bị nhưng không nắm được công nghệ lõi.

Nhân lực là khâu quyết định. Theo tính toán, riêng hai dự án lớn là tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng và đường sắt tốc độ cao bắc - nam cần khoảng 16.311 lao động kỹ thuật. Hệ thống đào tạo trong nước hiện chưa có chương trình hoàn chỉnh cho đường sắt điện khí hóa và tốc độ cao, thiếu cả giáo trình, giảng viên và cơ sở thực hành đạt chuẩn. Đào tạo phải đi trước một bước, thậm chí tách thành một “dự án độc lập”, gắn chặt với tiến độ các tuyến mới.

Một điều kiện không thể thiếu là năng lực công nghiệp trong nước. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, những quốc gia chuẩn bị tốt về đào tạo và công nghiệp trong nước thì có thể rút ngắn quá trình làm chủ công nghệ. Ngược lại, nếu đi nhanh ở khâu xây dựng nhưng chậm ở khâu con người và thể chế, sẽ phải trả giá bằng sự phụ thuộc dài hạn. Vì vậy, từ “hợp tác” đến “làm chủ” là hai phân đoạn phải được triển khai đồng thời, với trọng tâm là hoàn thiện thể chế, chuẩn bị nguồn nhân lực quy mô lớn và xây dựng năng lực công nghiệp ngay từ đầu.

img-20260421-131410-6843.jpg
Các học viên Việt Nam tham gia khóa học thực tập thực tế về vận hành đường sắt tốc độ cao tại Trung Quốc. Nguồn VNR

Xây dựng năng lực nội sinh làm tiền đề cho phát triển dài lâu

- Vậy VNR đã và đang chuẩn bị ra sao để không rơi vào tình trạng có dự án nhưng thiếu đội ngũ đủ năng lực tiếp nhận, vận hành, bảo trì và khai thác, thưa ông?

- Câu chuyện nhân lực lần này không còn là “đi sau để đáp ứng”, mà buộc phải đi trước để đón đầu công nghệ. Thực tế, lực lượng lao động hiện nay đông nhưng phân bố chưa hợp lý, mức độ tiếp cận công nghệ hiện đại còn hạn chế, VNR dự kiến tổ chức đào tạo theo hai hướng song song: đào tạo mới và đào tạo chuyển đổi (đào tạo lại) giúp tận dụng kinh nghiệm của lực lượng hiện có, đồng thời bổ sung lớp nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ cao với lộ trình rõ ràng, gắn trực tiếp với tiến độ dự án. Các giai đoạn được tách ra từ chuẩn bị, xây dựng, vận hành thử đến vận hành thương mại, với nội dung đào tạo tương ứng: từ nền tảng, chuyên sâu đến thực hành trên thiết bị mô phỏng và hiện trường. Đào tạo trong nước được kết hợp với đào tạo tại nước ngoài, nhưng hướng tới mục tiêu sau một giai đoạn sẽ chủ động đào tạo trong nước.

Một trọng tâm khác là đào tạo theo mô hình đa tầng. Không chỉ đào tạo kỹ sư hay lái tàu, mà xây dựng đầy đủ các lớp nhân lực: quản lý, kỹ thuật, công nhân lành nghề, giảng viên, thậm chí cả lực lượng nghiên cứu và phát triển. Đây là điều kiện để hệ thống có thể vận hành ổn định và phát triển lâu dài.

- Trong hợp tác với các đối tác quốc tế, theo ông đâu là yếu tố quan trọng nhất để tránh phụ thuộc kéo dài, nhưng vẫn tạo được đội ngũ kỹ sư, công nhân lành nghề bản địa?

- Điểm mấu chốt không nằm ở việc “học được gì”, mà là sau hợp tác có tự làm được hay không. Thực tế, nếu chỉ dừng ở tiếp nhận thiết bị và vận hành, nguy cơ phụ thuộc là rất rõ. Từ kinh nghiệm từ một số nước phát triển đường sắt tốc độ cao, có thể thấy hợp tác quốc tế phải đi theo hướng thực chất hơn.

Trước hết là có cơ hội được tham gia vào dự án ngay từ đầu.

Thứ hai là đào tạo phải gắn với công việc cụ thể. Nhân lực được cử đi đào tạo cần quay về đúng vị trí, đúng dự án, có điều kiện làm việc ngay trên hệ thống mình sẽ vận hành.

Thứ ba là phải có lộ trình nội địa hóa rõ ràng. Hợp tác quốc tế cần gắn với yêu cầu chuyển giao công nghệ từng phần nhằm giúp doanh nghiệp trong nước tham gia sâu vào chuỗi giá trị để việc “làm chủ” không chỉ dừng ở khâu vận hành.

Cuối cùng là xây dựng năng lực nội sinh. Điều này không chỉ nằm ở doanh nghiệp vận hành, mà còn ở hệ thống đào tạo, nghiên cứu và công nghiệp hỗ trợ - nơi lưu giữ lại tri thức, tích lũy kinh nghiệm và là tiền đề cho phát triển lâu dài. Đây là con đường ngắn nhất để hình thành đội ngũ kỹ sư, công nhân lành nghề của Việt Nam.

Hình thành hệ sinh thái đường sắt - “đột phá mang tính nền tảng”

- Theo ông, nếu các dự án trọng điểm được triển khai đúng tiến độ sẽ tạo ra thay đổi cụ thể như thế nào đối với năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và vị thế của vận tải đường sắt Việt Nam?

- Điểm hạn chế nhất của đường sắt hiện hữu là tính kết nối. Hạ tầng chưa gắn được với các khu công nghiệp, cảng biển lớn, dịch vụ “door to door” vì thế còn hạn chế, chi phí trung gian cao. Thêm vào đó, lại bị giới hạn bởi đường đơn, khổ đường nhỏ, năng lực ga và tuyến không đồng bộ, nên vừa chậm, vừa khó tăng sản lượng.

Khi các tuyến mới được triển khai, kết nối trực tiếp với hành lang kinh tế và cửa khẩu, hàng hóa có thể đi thẳng từ khu sản xuất đến cảng biển hoặc sang thị trường nước ngoài bằng một chuỗi vận tải liền mạch, thay vì phải trung chuyển nhiều lần như hiện nay.

Một thay đổi đáng chú ý khác là khả năng mở rộng kết nối quốc tế. Nếu hạ tầng được nâng cấp đồng bộ, đường sắt Việt Nam có thể tham gia sâu hơn vào các hành lang vận tải xuyên Á-Âu, tạo thêm lựa chọn cho xuất khẩu, nhất là với hàng container… Từ đó, vị thế của đường sắt trong cơ cấu vận tải cũng sẽ thay đổi, có thể góp phần kéo giảm chi phí logistics, nâng cao năng lực cạnh tranh và mở rộng không gian phát triển của nền kinh tế.

- Từ thực tiễn hoạt động của VNR, ông kỳ vọng đâu sẽ là “đột phá mang tính nền tảng” trong thời gian tới, thưa ông?

- Nếu chỉ nhìn vào các dự án cụ thể, có thể thấy những bước tiến rất rõ về hạ tầng. Nhưng điều quyết định không nằm ở từng tuyến đường, mà ở việc có hình thành được một hệ thống đồng bộ hay không.

Song song với đó là bài toán con người. Khoảng cách về công nghệ càng lớn thì áp lực về nhân lực càng rõ. Nếu không chuẩn bị kịp, nguy cơ phụ thuộc trong vận hành là điều khó tránh khỏi.

Một điều cốt lõi khác là năng lực nội tại của ngành. Đường sắt hiện đại không chỉ cần vận hành tốt, mà cần có khả năng tự bảo trì, sửa chữa, tiến tới tham gia chế tạo. Những yếu tố này không tách rời nhau. Hạ tầng tạo ra nhu cầu, thể chế mở đường cho nguồn lực, nhân lực quyết định khả năng vận hành, còn công nghiệp và công nghệ tạo nền cho sự phát triển bền vững. Vì vậy, “đột phá mang tính nền tảng” trong thời gian tới không nằm ở một dự án đơn lẻ, mà ở khả năng tạo được một hệ sinh thái đường sắt đồng bộ.

Khi đó, đường sắt mới thật sự chuyển từ vai trò vận tải truyền thống sang một hệ sinh thái hiện đại, có khả năng tự chủ và đóng góp lớn hơn cho nền kinh tế, tương xứng vai trò là “trục xương sống”, “động mạch chủ” trong phát triển kinh tế-xã hội.

- Trân trọng cảm ơn ông! ■

Việc định hướng hình thành tổ hợp công nghiệp đường sắt, phát triển đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ là bước đi cần thiết để tích lũy năng lực lâu dài”.

Ông Nguyễn Quốc Vượng

Có thể bạn quan tâm

Đội tuyển karate Việt Nam giành Huy chương vàng nội dung kata đồng đội nữ, ở hai kỳ ASIAD liên tiếp - mẫu hình thành công về đầu tư có trọng điểm. Ảnh: Bùi Lượng

Thay đổi tư duy hay tụt hậu?

Đoàn thể thao Việt Nam vừa khép lại kỳ ASIAD 20 với ba Huy chương vàng, ba Huy chương bạc và 19 Huy chương đồng. Chúng ta đứng thứ 5 Đông Nam Á và xếp hạng 20 châu lục.

Chân chạy Puripol Boonson phá kỷ lục ASIAD ở cả hai nội dung 100 và 200m.

Nhìn sang nhà hàng xóm

Thể thao Thái Lan giành tới 18 Huy chương vàng tại ASIAD 20. Con số của Malaysia, Indonesia lần lượt là chín và năm, với phần lớn ở những nội dung sẽ tranh tài tại Olympic Los Angeles 2028. Khoảng cách giữa thể thao Việt Nam và các nước láng giềng hiện hoàn toàn phụ thuộc vào hướng đi tới đây.

Đội tuyển cầu mây nữ nhận mức đãi ngộ cao sau khi giành Huy chương vàng ASIAD 20.

Tấm lưới đỡ dưới bục huy chương

Cách đây hai năm, nguyên Bộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Văn Hùng từng trả lời phiên chất vấn Quốc hội xoay quanh tám chính sách về đào tạo, việc làm và tiền thưởng đã áp dụng trên toàn quốc đối với các vận động viên. Tới thời điểm này, đã có những chuyển đổi dần rõ nét.

Bắn súng Việt Nam cần phát triển chiều sâu lực lượng.

Đứng dậy sau thất bại

Bắn súng Việt Nam có một số cá nhân nổi bật, nhưng cần nhiều xạ thủ đủ sức vào chung kết và tranh huy chương ở nhiều nội dung hơn. Nói cách khác, Việt Nam chưa duy trì được sức cạnh tranh đủ rộng và ổn định trước các cường quốc châu Á, từ đó đặt ra yêu cầu phải nâng cấp hệ thống huấn luyện, phát triển lực lượng và đầu tư dài hạn.

Cục trưởng Cục Thể dục Thể thao Việt Nam Nguyễn Danh Hoàng Việt chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần sau kỳ ASIAD 20. Ảnh: Thành Đạt

“Cần đầu tư có chiều sâu cho thể thao”

Đó là khẳng định của Cục trưởng Cục Thể dục Thể thao Việt Nam Nguyễn Danh Hoàng Việt trong cuộc trò chuyện với Nhân Dân cuối tuần, sau ASIAD 20. Theo hướng này, một bản đề án kinh tế thể thao đang được Cục xây dựng, gợi mở thêm những hướng thúc đẩy xã hội hóa và kinh tế thể thao phát triển, từ đó có thêm nguồn lực cho tuyển chọn và đào tạo vận động viên.

Thể thao Việt Nam cần sớm thay đổi để đạt được những mục tiêu đề ra ở ASIAD và Olympic. Ảnh: Bùi Lượng

Bài học từ ASIAD

Thành tích của thể thao Việt Nam tại kỳ Đại hội Thể thao châu Á (ASIAD/Asian Games) lần thứ 20 không chỉ cho thấy sự hụt hơi so với chỉ tiêu khiêm tốn - giành tối thiểu bốn Huy chương vàng, mà còn bộc lộ sự sút kém so với chính mình.

Cán bộ đồn biên phòng Phó Bảng (Tuyên Quang) lắng nghe ý kiến của bà con. Ảnh: Thành Đạt

Khơi dậy khát vọng cống hiến cho đất nước

Trong hành trình dựng nước và giữ nước, dân tộc ta chưa bao giờ thiếu người dám nghĩ, dám làm, dám xông vào nơi đầu sóng ngọn gió để mở đường cho cuộc sống. Từ khát vọng chinh phục thiên tai của người nông dân đến tính tiên phong, bản lĩnh của những cán bộ trước một quyết định lớn, luôn là nguồn sức mạnh đưa đất nước tiến lên. Nghị quyết số 24 -NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị, vì thế, không chỉ đáp ứng yêu cầu công tác cán bộ, mà còn khơi dậy khát vọng chinh phục đã được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử, làm nên cốt cách con người Việt Nam.

Lãnh đạo Thành ủy Quảng Ninh cùng phường Bãi Cháy và các cơ quan chức năng trực tiếp tháo gỡ khó khăn cho các dự án chậm tiến độ trên địa bàn phường.

Khuyến khích hành động và kiểm soát rủi ro bằng thể chế

Nhiều năm qua, thực tiễn đã chứng minh Quảng Ninh luôn là một trong những địa phương được Trung ương đánh giá cao về tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đi trước, làm trước với những kết quả tích cực, qua đó tạo sự phát triển vượt bậc, bứt phá.

Cán bộ xã Sơn Tây Thượng (Quảng Ngãi) hướng dẫn người dân trồng cà-phê xen canh.

Những chuyển động từ cơ sở

Sau một năm triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, bộ máy hành chính tỉnh Quảng Ngãi đã có nhiều chuyển biến rõ nét. Việc đẩy mạnh phân cấp, phân quyền giúp chính quyền cơ sở tự tin, chủ động đưa nhiều quyết sách hợp với thực tiễn, đáp ứng được yêu cầu đổi mới.

Chương trình nghệ thuật đặc biệt Xuân Quê hương 2026. Ảnh: An Đăng

Nối vòng tay lớn, phát huy nguồn lực kiều bào

Trong giai đoạn phát triển mới, việc ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW là yêu cầu khách quan, đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về người Việt Nam ở nước ngoài và công tác người Việt Nam ở nước ngoài.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp cán bộ, nhân viên Đại sứ quán và đại diện cộng đồng người Việt Nam tại Canada. Ảnh: Thống Nhất

Tầm nhìn chiến lược trong giai đoạn phát triển mới

Nhất quán tinh thần đoàn kết trong đường lối chiến lược về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW - văn kiện chính trị quan trọng thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược của Đảng trong giai đoạn phát triển mới.

Trại hè "Việt Nam 2026 - tôn vinh tiếng Việt gắn kết cộng đồng" được tổ chức dành riêng cho con em kiều bào ở xa Tổ quốc. Ảnh: UBNVNONN

Giữ tiếng Việt - Giữ một con đường trở về quê hương

Dù ở Tokyo, Paris, Seoul, Bangkok, Vientiane hay bất cứ nơi nào trên thế giới, khi một người trẻ tự hào nói hai tiếng Việt Nam, chúng ta biết rằng quê hương vẫn đang hiện diện trong trái tim các em. Bởi vậy, gìn giữ tiếng Việt không đơn thuần là gìn giữ sự tồn tại của một ngôn ngữ, mà đó là giữ một con đường trở về quê hương.

Cộng đồng người Việt tại Nga - nhịp cầu vững chắc nối tình hữu nghị Việt-Nga. Ảnh: Tâm Hằng

Chất xúc tác khơi lên tiềm lực kiều bào

Hơn 6,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ hướng về quê hương, mà nhờ sự gắn kết của các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, có thể cùng hơn 100 triệu người Việt Nam trong nước tạo thành một mạng lưới chung của trí tuệ, khát vọng và hành động.

Nghị quyết số 23-NQ/TW mang tới những định hướng quan trọng và rất mới về giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và tăng cường gắn kết với quê hương. Ảnh: Xuân Giao

Xây những nhịp cầu mang văn hóa Việt Nam ra thế giới

Bên cạnh câu hỏi quen thuộc “Kiều bào có thể đóng góp gì cho đất nước?”, chúng ta cần đặt thêm một câu hỏi quan trọng không kém: “Đất nước có thể tạo điều kiện ra sao để kiều bào phát huy tốt nhất khả năng đóng góp của mình?”. Đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt đối với một cộng đồng đông đảo, đa dạng và có lịch sử hình thành rất khác nhau như người Việt Nam ở nước ngoài.

Vận động viên Hoàng Quý Phước là trường hợp hiếm hoi thuộc chương trình thí điểm khoa học đặc thù.

Khoảng trống còn thiếu

Muốn chinh phục mục tiêu giành từ năm đến bảy Huy chương vàng ASIAD, và phấn đấu có thành tích ổn định ở các kỳ Olympic, thể thao Việt Nam cần nhanh chóng ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào công tác đào tạo và huấn luyện vận động viên. Tuy nhiên, đây vẫn đang là mắt xích yếu nhất, đồng thời là bài toán lớn đầy thách thức ở thời điểm hiện tại.

Chuyên gia Dương Đức Thủy

“Chúng ta đã có máy, nhưng lại để trong kho!”

Đó là câu mà chuyên gia Dương Đức Thủy thốt lên trong cuộc trả lời phỏng vấn Nhân Dân cuối tuần. Bởi, vấn đề của điền kinh Việt Nam không chỉ là thiếu thiết bị, mà là thiếu cả thói quen dùng dữ liệu và tư duy chuyên nghiệp, từ nhà quản lý đến chính vận động viên.

Hệ thống SportVU tạo ra cuộc cách mạng ở nhiều môn thể thao tại Mỹ.

Từ tên lửa đến vạch ba điểm

Từ những năm 2005, hai nhà khoa học Israel với chuyên môn theo dõi tên lửa, Gal Oz và Miky Tamir, đã mang phương pháp định vị vật thể trong môi trường biến động đến với thể thao.

Nguyễn Thanh Nhàn ăn mừng bàn thắng mang về Huy chương vàng SEA Games 33, với chiếc "áo yếm" Catapult bên trong.

Cất cánh trên đường băng công nghệ

Thể thao không còn thuần túy là trò chơi của con người, khi những ứng dụng khoa học công nghệ đã đi sâu vào từng ngõ ngách, giúp các chuyên gia “số hóa” năng lực vận động viên bằng hồ sơ vận động chi tiết, từ đó nâng hiệu quả tập luyện và thi đấu.

Công nghệ TrackMan thay đổi hoàn toàn tư duy huấn luyện, sang áp dụng khoa học dữ liệu. Ảnh: Thành Đạt

Bệ phóng cho những “cỗ máy” bắn bóng

Dù sở hữu hệ thống sân tập, thi đấu tiêu chuẩn, cùng số lượng người chơi tăng nhanh, golf Việt Nam vẫn gặp nhiều thách thức trong quá trình đào tạo vận động viên đỉnh cao.

Cầu Trần Hưng Đạo (Hà Nội), công trình hạ tầng trọng điểm, được đẩy nhanh tiến độ từ các chính sách khơi thông nguồn lực đất đai theo Luật Đất đai năm 2024. Ảnh: Thành Đạt

Thể chế hóa chủ trương, mở đường cho phát triển

Trong giai đoạn phát triển mới, việc sửa đổi Luật Đất đai năm 2024 hướng tới thể chế hóa và hiện thực hóa tinh thần xuyên suốt trong Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.

Dự án Luật Đất đai (sửa đổi) được kỳ vọng sẽ khơi thông nguồn lực đất đai và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, tổ chức, doanh nghiệp. Ảnh: Thành Đạt

Định vị vai trò mới trong phát triển đất nước

Khi mục tiêu phát triển thay đổi, từ vai trò đến tư duy quản lý, cách thức sử dụng đất đai cũng phải thay đổi. Đây được xác định là nhiệm vụ quan trọng, đã được Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan chỉ rõ.

Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức lấy ý kiến góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi). Ảnh: Hữu Hùng

Hoàn thiện cơ chế, tháo gỡ triệt để vướng mắc phát sinh

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của cơ quan chịu trách nhiệm soạn thảo, cơ quan thẩm định, các chuyên gia, luật sư đối với nội dung dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), nhằm đẩy nhanh tiến trình thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng, tạo môi trường đầu tư minh bạch hơn, dư địa khai thác hiệu quả hơn nguồn lực đất đai phục vụ phát triển kinh tế-xã hội và tiếp tục tháo gỡ triệt để vướng mắc phát sinh trong quá trình thực thi.

Cơ sở dữ liệu đất đai và cơ sở dữ liệu công chứng có chức năng khác nhau nhưng bổ trợ cho nhau.

Bảo đảm an toàn pháp lý trong giao dịch đất đai

Nội dung Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã cơ bản thể chế hóa đầy đủ các chủ trương lớn của Đảng về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, vẫn có một số vấn đề cần tiếp tục được rà soát, làm rõ, nhất là trong quy trình giao dịch đất đai.

Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã có nhiều điểm mới về hình thức bồi thường, chất lượng và địa điểm tái định cư cho người bị thu hồi đất. Trong ảnh: Người dân bị thu hồi đất phục vụ mở đường ở Đê La Thành về tái định cư tại Khu CT3 Nghĩa Đô, TP Hà Nội. Ảnh: HIẾU MINH

Minh bạch giá đất và phương án phục hồi sinh kế

Đã có nhiều điểm mới về hình thức bồi thường, chất lượng và địa điểm tái định cư, suất tái định cư tối thiểu cũng như cơ chế xác định giá bồi thường. Song, để bảo đảm tốt hơn quyền lợi của cả chủ đầu tư lẫn người có đất bị thu hồi và hạn chế vướng mắc trong giải phóng mặt bằng, Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) vẫn cần tiếp tục hoàn thiện một số quy định về vấn đề minh bạch giá đất và phương án phục hồi sinh kế.

Không gian trải nghiệm sáng tạo tại Trường Phổ thông dân tộc nội trú Trung học phổ thông tỉnh Lai Châu khuyến khích học sinh làm quen, thực hành kỹ thuật tạo hình truyền thống của các dân tộc tại địa phương. (Trong ảnh: Các em học sinh trải nghiệm thực hành kỹ thuật vẽ sáp ong của đồng bào Mông hoa). Ảnh: Vũ Công

Hoàn thiện hệ sinh thái giáo dục nghệ thuật hiện đại

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam xác định phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Một trong những mục tiêu đến năm 2030 mà Nghị quyết đề ra là 100% học sinh, học viên, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân được tiếp cận, tham gia hiệu quả, thường xuyên các hoạt động nghệ thuật, giáo dục di sản văn hóa.

Học phần Trải nghiệm hoạt động mỹ thuật của sinh viên Khoa Sư phạm Mỹ thuật, Trường đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương hiện được tích hợp đa dạng các hình thức đánh giá, khuyến khích sự sáng tạo của sinh viên. Nguồn ảnh: NUAE-Khoa Sư phạm Mỹ thuật.

Thúc đẩy tích hợp và tiếp cận liên ngành

Việc các cơ sở giáo dục đẩy mạnh chuyển đổi số, khai thác học liệu số, tăng cường thực hành, trải nghiệm đồng thời phối hợp với các tổ chức, cá nhân triển khai đa dạng các hoạt động giáo dục nghệ thuật trong và ngoài nhà trường, khuyến khích học sinh sáng tạo, cảm thụ và phát huy giá trị văn hóa truyền thống thể hiện rõ tinh thần đổi mới giáo dục nghệ thuật ở nước ta.

Giảng viên và sinh viên Khoa Nghệ thuật, Trường đại học Sư phạm Hà Nội tham gia Chương trình văn nghệ chào mừng “80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam”, tháng 1/2026.

Dịch chuyển phương pháp, chú trọng nguồn lực

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số nhà nghiên cứu, giảng viên, giáo viên bậc phổ thông về cách thức đổi mới giáo dục nghệ thuật, mức độ ứng dụng công nghệ trong giảng dạy và học tập, giúp cả thầy và trò vừa phát huy được tinh thần sáng tạo, nâng cao nhận thức thẩm mỹ, vừa góp phần bảo tồn, nhân lên giá trị nghệ thuật truyền thống của dân tộc.