Lằn ranh giữa học hỏi và sao chép

Ưu thế của trí tuệ nhân tạo (AI) đặt ra những thách thức chưa từng có trong việc bảo vệ tác quyền tác giả.

Một mô hình thông tin khuyến cáo về hạn chế (limitations) của công cụ trí tuệ nhân tạo, bao gồm tình trạng thông tin không chính xác và ít cập nhật các diễn biến thế giới sau năm 2021.
Một mô hình thông tin khuyến cáo về hạn chế (limitations) của công cụ trí tuệ nhân tạo, bao gồm tình trạng thông tin không chính xác và ít cập nhật các diễn biến thế giới sau năm 2021.

Trong bối cảnh những hệ thống tạo sinh văn bản, hình ảnh, âm thanh có khả năng thu thập và biến đổi dữ liệu ở mức độ ngày càng tinh vi, câu hỏi về quyền sở hữu trí tuệ, quyền tác giả và giới hạn trong việc sử dụng dữ liệu để huấn luyện AI trở thành chủ đề gây tranh cãi tại nhiều quốc gia.

Các nước phát triển đã và đang có những cách tiếp cận, có thể khác nhau về phương thức, song đều nhằm mục tiêu chung: Cân bằng giữa việc thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bảo vệ quyền lợi của giới văn nghệ sĩ.

Tại Mỹ, việc sử dụng dữ liệu có bản quyền để huấn luyện AI đang là tâm điểm của rất nhiều những tranh chấp pháp lý, đặc biệt trong lĩnh vực sáng tạo nội dung. Một trong những sự việc gây chấn động là tờ The New York Times khởi kiện các công ty công nghệ như OpenAI và Microsoft vào cuối năm 2023, cáo buộc rằng các hệ thống AI trên đã sử dụng hàng triệu bài báo mà không được cho phép để phục vụ quá trình huấn luyện. Theo nội dung đơn kiện, các mô hình này không chỉ có thể “đọc” những bài báo, mà còn có khả năng xây dựng những nội dung mới với sự tương đồng đáng kể, cho thấy lằn ranh mỏng manh giữa học hỏi và sao chép.

Nhiều họa sĩ Mỹ cũng đã lên tiếng và tiến hành những vụ kiện tập thể nhằm vào các công ty phát triển AI tạo sinh hình ảnh, cho rằng tác phẩm của họ đã bị sử dụng nhằm mục đích huấn luyện mà không có sự đồng thuận hay bồi thường thỏa đáng. Đáng chú ý hơn, phong cách của nhiều tác giả cũng có thể bị tái tạo thông qua AI, khiến họ lo ngại về việc bản sắc cá nhân bị khai thác như một dạng dữ liệu. Trong khi đó, phía công ty công nghệ lại lập luận rằng việc sử dụng dữ liệu trong huấn luyện AI là “fair use” (được sử dụng hợp lý), do quá trình này có sự biến đổi và không sao chép trực tiếp các tác phẩm gốc. Tuy nhiên, luận điểm này đang dần bị bẻ gãy khi nhiều sản phẩm đầu ra có sự tương đồng đáng kể với nội dung hoặc phong cách gốc.

Trước thực tế như vậy, hệ thống tòa án Mỹ đã và đang từng bước làm rõ cách áp dụng các bộ luật hiện hành đối với AI thông qua các phán quyết cụ thể, tập trung vào việc xác định liệu quá trình huấn luyện AI có được coi là “mang tính biến đổi” hay không, cũng như giới hạn cho mức độ tương đồng giữa dữ liệu đầu vào và sản phẩm đầu ra. Các vụ kiện, vì thế, không chỉ dừng ở mức độ tranh chấp, mà còn trực tiếp góp phần thiết lập những tiêu chí đánh giá trách nhiệm pháp lý đối với các mô hình AI.

Song song đó, Cơ quan Bản quyền tác giả Mỹ (U.S. Copyright Office) đã triển khai các đợt tham vấn công chúng từ năm 2023. Cơ quan này đồng thời công bố các báo cáo chuyên sâu về AI và quyền tác giả, trong đó làm rõ lập trường rằng các sản phẩm do AI tạo ra sẽ không được bảo hộ nếu thiếu yếu tố sáng tạo của con người. Cơ quan này cũng xem xét các đề xuất liên quan tới trách nhiệm/nghĩa vụ minh bạch dữ liệu huấn luyện và cơ chế cấp phép đối với việc sử dụng tác phẩm có bản quyền.

Một số doanh nghiệp công nghệ cũng đã bắt tay vào việc điều chỉnh chính sách sử dụng dữ liệu, bao gồm việc ký kết thỏa thuận cấp phép nội dung đối với các nhà xuất bản hoặc xây dựng cơ chế loại trừ (opt-out) theo yêu cầu của chủ sở hữu tác quyền. Những động thái này cho thấy nước Mỹ đang dần hình thành một hệ thống vận hành đa tầng, trong đó tòa án, cơ quan quản lý và doanh nghiệp cùng tham gia định hình cách thức sử dụng của AI trong lĩnh vực sáng tạo.

Còn Liên minh châu Âu (EU) lựa chọn hướng tiếp cận khác: Chủ động xây dựng các khung pháp lý dành riêng cho AI. Nổi bật nhất trong số đó là Đạo luật AI (AI Act), được thông qua năm 2024, thể hiện nỗ lực điều chỉnh toàn diện việc phát triển và ứng dụng AI, bao gồm các vấn đề liên quan tác quyền. Một trong những điểm đáng chú ý của AI Act là yêu cầu về tính minh bạch đối với các hệ thống AI tạo sinh. Theo đó, các nhà phát triển mô hình AI phải công bố thông tin tổng quan về dữ liệu được sử dụng trong quá trình huấn luyện, bao gồm cả việc sử dụng nội dung có bản quyền. Ngoài ra, các hệ thống này còn phải bảo đảm nội dung được tạo ra không vi phạm pháp luật, đồng thời có cơ chế nhận diện rõ ràng đối với sản phẩm AI. Những yêu cầu này nhằm tăng cường khả năng truy vết và xác định trách nhiệm trong trường hợp phát sinh tranh chấp liên quan tác quyền.

Bên cạnh Đạo luật AI, EU duy trì áp dụng các quy định trong Chỉ thị Bản quyền (EU Copyright Directive) 2019, đặc biệt trong cơ chế khai thác dữ liệu và văn bản (text and data mining - TDM). Theo những quy định này, các tổ chức có thể sử dụng dữ liệu để huấn luyện AI trong một số trường hợp cụ thể, nhưng chủ sở hữu tác phẩm đồng thời có quyền loại trừ (opt-out) việc sử dụng tác phẩm của mình. Điều này tạo ra một công cụ pháp lý cụ thể nhằm giúp những nhà sáng tạo kiểm soát cách thức tác phẩm của mình được khai thác trong môi trường số.

Nhìn chung, các tranh chấp về tác quyền trước AI, thực tế, vẫn thường xuyên xảy ra, đã và đang góp phần kiểm nghiệm hiệu lực của các công cụ pháp lý nói trên. Trong bối cảnh công nghệ đang tiếp tục phát triển nhanh chóng, những khoảng trống pháp lý và sự giằng co giữa đổi mới công nghệ và quyền lợi của người sáng tạo lại càng cần được con người nhìn nhận một cách điềm tĩnh với tất cả sự minh bạch, công bằng dành cho chính con người ■

Có thể bạn quan tâm

Mô hình dự án đường sắt tốc độ cao Hà Nội- Quảng Ninh, với tổng mức đầu tư hơn 5,6 tỷ USD vừa chính thức khởi công tại Quảng Ninh. Ảnh có sử dụng đồ họa AI

ĐỘT PHÁ VỀ KẾT NỐI HẠ TẦNG CHIẾN LƯỢC

Trong bối cảnh thế giới đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông bền vững và hiện đại, đường sắt tốc độ cao không chỉ là biểu tượng của năng lực công nghệ, khả năng tổ chức mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược quốc gia.

Khoảng cách công nghệ giữa đường sắt hiện hữu và đường sắt tốc độ cao là rất lớn, vì vậy Việt Nam cần chuẩn bị tốt việc đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu tiến tới làm chủ công nghệ. Nguồn VNR

Định hình mạng lưới vận tải quốc gia

Trong bối cảnh thế giới đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông bền vững và hiện đại, đường sắt tốc độ cao không chỉ là biểu tượng của năng lực công nghệ, khả năng tổ chức và tầm nhìn chiến lược quốc gia.

Lớp học nâng cao trình độ về đường sắt tốc độ cao ngành Thi công và Bảo dưỡng công trình.

Mở rộng hợp tác trong đào tạo nguồn nhân lực mới

Một nhiệm vụ mang tính chiến lược, đóng vai trò then chốt trong xây dựng và vận hành đường sắt tốc độ cao, là phải đi trước một bước để đào tạo nguồn nhân lực có đủ năng lực, trình độ tiếp nhận, vận hành, khai thác, bảo trì và từng bước làm chủ các công nghệ tiên tiến, hiện đại đang được áp dụng với đường sắt tốc độ cao.

Ông Nguyễn Quốc Vượng, Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Đường sắt Việt Nam (VNR).

Bài toán về tầm nhìn và khả năng làm chủ công nghệ

Được xác định là lĩnh vực ưu tiên chiến lược, hợp tác phát triển đường sắt, nhất là đường sắt tốc độ cao, của Việt Nam không chỉ là câu chuyện của một công trình hạ tầng, mà là bài toán lớn đặt ra yêu cầu làm chủ công nghệ, đào tạo nhân lực và năng lực nội sinh.

Đồi chè Mộc Châu. (Ảnh Huỳnh Văn Truyền)

Chủ động mở những lối đi

Nhiếp ảnh là một trong những lĩnh vực sáng tác mà việc vi phạm bản quyền xảy ra khá thường xuyên, ở nhiều phương thức, cấp độ khác nhau.

Ngành công nghệ cần đặt an toàn của trẻ em vào khâu thiết kế sản phẩm, thay vì coi đó là phần việc xử lý sau cùng. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Đồng hành để bảo vệ

Internet từ lâu đã trở thành một phần tất yếu của cuộc sống, kể cả với trẻ em. Tuy nhiên, mức độ hiện diện cao ấy không đồng nghĩa với việc thế hệ trẻ có đủ năng lực để tự bảo vệ mình.

Trung ương Đoàn luôn chủ động tạo ra các không gian cởi mở để kịp thời lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của trẻ em.

Lắng nghe đúng, hành động trúng

Trong thời đại kỷ nguyên số, không gian mạng không còn là một công cụ hỗ trợ, mà đã trở thành một môi trường sống song hành với đời sống của trẻ em.

Chiến dịch Không một mình, nằm trong chuỗi các hành động nhằm thực hiện Công ước Hà Nội, hướng tới đồng hành với giới trẻ trong phòng, chống bắt cóc online. Ảnh: Hiệp hội An ninh mạng

Nhật ký một ngày online

LTS - Không phải những con số thống kê khô khan, cũng không phải góc nhìn của người lớn, ký sự này được thực hiện bởi chính những “người trong cuộc” - nhóm phóng viên nhí của Tòa soạn Tiếng Xanh (hoạt động dưới sự hướng dẫn của UNICEF Việt Nam).

Thay vì ngăn chặn, Việt Nam đang hướng đến những giải pháp thân thiện, cùng đồng hành với trẻ trên không gian mạng. Trong ảnh: Trích từ cẩm nang “Tự tin chinh phục Vương quốc Social” của Toà soạn Tiếng Xanh.

Từ chính sách đến từng gia đình

Không gian mạng hôm nay đã là một phần của tuổi thơ Việt Nam. Vì thế, bài toán không còn là “có nên cho trẻ dùng mạng xã hội hay không”, mà là làm sao để trẻ em Việt Nam được lớn lên trong một môi trường số an toàn hơn, lành mạnh hơn và công bằng hơn.

Lần đầu tiên trong lịch sử quy hoạch đô thị Việt Nam, Thủ đô Hà Nội được Trung ương giao quyền lập đồ án Quy hoạch, phù hợp việc tổ chức lại địa giới hành chính, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp. Ảnh Thành Đạt

Thách thức trong bước chuyển tư duy

Lời tòa soạn - Theo Quy hoạch Tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm, thành phố sẽ phát triển với cấu trúc đô thị “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm”, điểm nhấn xuyên suốt là văn hiến, văn minh, hiện đại, hạnh phúc, trong đó yếu tố “hạnh phúc” được đặt ở vị trí trung tâm.

Hà Nội định hình cấu trúc đô thị theo không gian phát triển mở “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm”. (Ảnh KHIẾU MINH)

Không để quy hoạch chỉ dừng ở bản vẽ

Quy hoạch Tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm (Quy hoạch) đã được Hội đồng nhân dân thành phố thông qua. Quy hoạch cho thấy tầm chiến lược, có các phân kỳ, giai đoạn thực hiện, nhưng cũng cần giải quyết những khó khăn, thách thức để đi vào đời sống.

Ông Trịnh Quang Dũng, Trưởng phòng Quản lý hoạt động quy hoạch, kiến trúc đô thị, Sở Quy hoạch-Kiến trúc Hà Nội.

Đúc rút bài học thực tiễn, kiến tạo phát triển bền vững

Ông Trịnh Quang Dũng, Trưởng phòng Quản lý hoạt động quy hoạch, kiến trúc đô thị, Sở Quy hoạch-Kiến trúc Hà Nội chia sẻ: Để kiến tạo một Thủ đô phát triển bền vững xuyên thế kỷ, cơ quan chuyên môn không né tránh mà đi sâu nghiên cứu, bắt đúng bệnh...

Nhiều cuộc tọa đàm được tổ chức, nhằm đóng góp ý kiến cho chuyển đổi số quy hoạch đô thị tại Hà Nội. (Ảnh DIÊN KHÁNH)

“Bộ não số” cho đô thị thông minh

Thủ đô Hà Nội đang từng bước chuyển đổi, đầu tư hạ tầng công nghệ, tích cực chuyển đổi tư duy quản trị đô thị và quản lý quy hoạch, nâng cao chất lượng sống của người dân.

Các di tích, cảnh quan thiên nhiên, ao hồ cần có “đời sống của mình” trong không gian đô thị mới. (Ảnh VĂN HỌC)

Tích hợp yếu tố sinh thái vào từng lựa chọn

Ô nhiễm môi trường không chỉ là thách thức trước mắt, mà còn là lực cản lớn đối với mục tiêu phát triển bền vững của Thủ đô. Vì vậy, quy hoạch tổng thể phải bảo đảm yêu cầu rất cao về phát triển xanh cũng như tạo dựng hệ sinh thái phong phú cho đô thị.

Lãnh đạo phường Hồng Hà giải đáp thắc mắc của người dân bị thu hồi đất tại hiện trường.

Thước đo của một Thủ đô vì con người

Hà Nội đang bước vào giai đoạn tái cấu trúc đô thị mạnh mẽ. Song, phía sau những công trình mang tầm vóc quy hoạch là đổi thay trong đời sống của người dân, đặt ra yêu cầu phải giải quyết hài hòa bài toán phát triển và an cư.

Các yếu tố mang tính quyết định cho chuyển đổi xanh, như khoa học công nghệ, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo… cần được đầu tư tương xứng. (Ảnh Thành Đạt)

Thế chân kiềng trong kỷ nguyên xanh

Lời toà soạn - Để đưa nông nghiệp Việt Nam bước vào kỷ nguyên xanh, điều cốt lõi là phải tái định hình vai trò của Nhà nước, doanh nghiệp và người nông dân trong một hệ sinh thái phát triển mới.

Chuyển dịch xanh đang mở ra cơ hội để nông sản Việt Nam tái định vị trên thị trường quốc tế. (Trong ảnh: Trồng sầu riêng cho năng suất cao ở xã Trường Long, TP Cần Thơ). (Ảnh Phương Bằng)

Tháo gỡ nút thắt vốn và đầu tư

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt, biến động thị trường khó đoán định, đòi hỏi từ người tiêu dùng cũng cao hơn, nông nghiệp Việt Nam đứng trước yêu cầu phải chuyển dịch xanh, nâng cao giá trị.

TS Trần Công Thắng, Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Tối ưu hóa công cụ chính sách, khơi thông nguồn lực công-tư

Phát triển các công cụ chính sách mới, dựa vào cơ chế thị trường để huy động sự tham gia của toàn xã hội trong phát triển nông nghiệp gắn với bảo vệ môi trường là điều TS Trần Công Thắng, Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nhấn mạnh trong cuộc trò chuyện với NDCT.

Cần thúc đẩy mô hình liên kết bốn nhà (Nhà nước-Viện nghiên cứu-Doanh nghiệp-Nông dân) theo chuỗi giá trị. (Ảnh Đạt Thành)

Doanh nghiệp tiên phong nắm lợi thế

Thể chế và hệ sinh thái về chuyển đổi số - xanh của Việt Nam vẫn chưa hoàn thiện cũng như chưa đủ mạnh để phát triển trên diện rộng. Để hóa giải tình trạng này, cần đồng bộ quá trình hoàn thiện thể chế và tài chính xanh, đi đôi hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi, phát triển hạ tầng số.

Các hợp tác xã, tổ hợp tác, thông qua Chương trình FFF có nhiều cơ hội giao lưu, trao đổi để phát triển. (Ảnh FAO Việt Nam)

Ươm mầm sinh kế

Từ những mảnh vườn nhỏ ở Lào Cai, Thái Nguyên hay Phú Thọ, một mô hình mới đang dần hình thành: Nông nghiệp gắn với rừng, với thị trường, với cộng đồng và với tương lai dài hạn.

Bảy mô hình Đề án 1 triệu ha lúa tại Đồng bằng sông Cửu Long ghi nhận năng suất đều tăng, nâng cao thu nhập cho nông dân từ 4-7,6 triệu đồng/ha. (Ảnh Lê Phương)

Bài toán nâng tầm giá trị hạt gạo

Lúa phát thải thấp giúp nâng cao giá trị hạt gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế, nhưng đồng thời cũng đặt ra bài toán lớn liên quan nguồn vốn và tổ chức canh tác nông nghiệp.

Đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt giúp minh bạch hóa dòng tiền, giảm thất thu thuế, đồng thời bảo đảm an toàn tài chính cho người dân cũng như nền kinh tế. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Cuộc đua tốc độ và bảo mật

Lời toà soạn - Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, giá trị thanh toán không dùng tiền mặt năm 2025 gấp khoảng 28 lần tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tương đương hơn 14 nghìn tỷ USD.

Các hoạt động hướng dẫn sử dụng dịch vụ công trực tuyến và phổ biến phương thức thanh toán không dùng tiền mặt (QR code, chuyển khoản) được triển khai mạnh mẽ.

Hướng tới phát triển các hệ sinh thái số

Với tốc độ tăng trưởng hai con số liên tục trong nhiều năm, thanh toán không dùng tiền mặt đã trở thành một phần tất yếu của cuộc sống. Dù mang lại nhiều tiện ích, việc phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu phải bảo đảm an toàn, bảo mật.

Công cụ tài chính số cơ bản giúp người dân làm quen với tư duy quản lý tài chính.

Tiện lợi và minh bạch hơn

Đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt không chỉ giúp cơ quan quản lý theo dõi dòng tiền minh bạch hơn, thu hẹp khoảng trống thất thu thuế, mà còn góp phần xây dựng nền tảng dữ liệu quan trọng để phát hiện sớm những giao dịch bất thường, từng bước bảo đảm an toàn tài chính cho người dân cũng như nền kinh tế.