Định hình mạng lưới vận tải quốc gia

Trong bối cảnh thế giới đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông bền vững và hiện đại, đường sắt tốc độ cao không chỉ là biểu tượng của năng lực công nghệ, khả năng tổ chức và tầm nhìn chiến lược quốc gia.

Khoảng cách công nghệ giữa đường sắt hiện hữu và đường sắt tốc độ cao là rất lớn, vì vậy Việt Nam cần chuẩn bị tốt việc đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu tiến tới làm chủ công nghệ. Nguồn VNR
Khoảng cách công nghệ giữa đường sắt hiện hữu và đường sắt tốc độ cao là rất lớn, vì vậy Việt Nam cần chuẩn bị tốt việc đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu tiến tới làm chủ công nghệ. Nguồn VNR

Với tốc độ vận hành cao, hệ thống đường sắt tốc độ cao không chỉ rút ngắn thời gian di chuyển giữa các đô thị lớn, mà còn kích thích tăng trưởng kinh tế vùng, giảm phát thải và tái định hình mạng lưới vận tải quốc gia.

Mở đường cho tăng trưởng, nối liền liên kết vùng

Nhiệm kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã tạo thế và lực quan trọng trong phát triển đất nước, nhất là việc hoàn thành khoảng 3.000 km đường cao tốc, cơ bản khép kín tuyến cao tốc bắc - nam từ Lạng Sơn đến Cà Mau trong năm 2025. Cụ thể, chỉ trong vòng 5 năm, Bộ Xây dựng khởi công 84 dự án và khánh thành 98 dự án giao thông. Riêng năm 2025, 15 dự án được khởi công và 38 dự án đã khánh thành, cao gấp bốn lần so năm 2024.

Tiếp nối những kết quả đạt được trong nhiệm kỳ trước, với hàng loạt công trình trọng điểm được khởi công, hoàn thành và đưa vào khai thác, Đại hội XIV của Đảng tiếp tục xác định phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại là một trong những đột phá chiến lược, với trọng tâm là hạ tầng giao thông đa phương thức. Trong đó, các tuyến đường sắt tốc độ cao sẽ là ưu tiên đầu tư và xây dựng nhằm gia tăng liên kết vùng, kết nối quốc tế.

Đại hội XIV hướng đến việc xác định đầu tư các dự án có tầm vóc chiến lược như đường sắt tốc độ cao trục bắc-nam (dài 1.541 km, tổng mức đầu tư hơn 1,71 triệu tỷ đồng) và đường sắt tốc độ cao Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng (dài 417 km, tổng mức đầu tư 203.231 tỷ đồng), từng bước thay thế hệ thống đường sắt cũ, lạc hậu. Hai dự án này đã được Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư vào các ngày 30/11/2024 và 19/2/2025.

Chỉ gần bốn tháng sau lễ khởi công quy mô của dự án đường sắt tốc độ cao Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, ngày 12/4, tuyến đường sắt tốc độ cao Hà Nội - Quảng Ninh, với tổng mức đầu tư hơn 147.000 tỷ đồng (hơn 5,6 tỷ USD), đã chính thức phát lệnh khởi công. Khi hoàn thành, dự kiến vào năm 2028, người dân di chuyển từ Hà Nội tới Quảng Ninh sẽ chỉ mất vỏn vẹn 23 phút, thay vì gần 2,5 tiếng như hiện tại. “Đây là một cuộc cách mạng về di chuyển. Khi khoảng cách giữa hai trung tâm chỉ còn 23 phút, đó không còn là hành trình, mà là bước chuyển mình về định nghĩa lại chuẩn sống”, ông Hoàng Đạo Hiệp, Giám đốc Chiến lược khách hàng cấp cao Dentsu Redder nhận định.

Điều này đồng nghĩa với việc, rất có thể Hà Nội trong tương lai sẽ không còn vận hành theo mô hình một trung tâm duy nhất - nơi mọi giá trị, tiện ích, cơ hội đều quy tụ vào vùng “lõi” Thủ đô. Và nhờ khả năng kết nối đa cực của các tuyến đường sắt tốc độ cao, Hà Nội sẽ có thể chủ động kiến tạo những “trung tâm mới” đủ sức hút để người dân có thể an tâm với cuộc sống “ly tâm” đô thị. Bởi “đường sắt tốc độ cao giúp “nén” khoảng cách, đưa các đô thị vệ tinh trở thành một cực phát triển có chức năng ngang tầm trung tâm”, TS, KTS Trương Văn Quảng, Phó Tổng Thư ký Hội Quy hoạch phát triển Đô thị Việt Nam nhấn mạnh.

Ngoài ra, việc đầu tư các tuyến đường sắt tốc độ cao kết nối vùng như Thành phố Hồ Chí Minh - Cần Thơ, Biên Hòa-Vũng Tàu, Móng Cái-Hạ Long-Hải Phòng, Hà Nội-Lạng Sơn, Viêng Chăn (Lào) - Vũng Áng, nhằm giảm áp lực cho các loại hình giao thông truyền thống. Khi hoàn thành các dự án trên hệ thống đường sắt sẽ phủ sóng từ bắc tới nam, kết nối cảng biển, hàng không… Điều mà trước đây chúng ta chưa thể làm được.

Theo Bộ trưởng Xây dựng Trần Hồng Minh, việc bổ sung hạ tầng đường sắt tốc độ cao không chỉ tăng cường liên kết vùng mà còn mở rộng không gian phát triển kinh tế qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh logistics và xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường quốc tế.

“Mục tiêu là năm 2030, hoàn thành tuyến đường sắt Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng và từng bước triển khai đường sắt tốc độ cao bắc - nam, đáp ứng yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên mới”, Bộ trưởng Trần Hồng Minh nhấn mạnh.

Điều kiện tiên quyết tạo dư địa bứt phá

Với quan điểm, phát triển hệ thống đường sắt tốc độ cao không đơn thuần là một bài toán hạ tầng, mà còn là chiến lược lâu dài về kinh tế, an ninh công nghệ và chủ quyền quốc gia, chuyên gia kinh tế Nguyễn Quang Huy (CEO Khoa Tài chính-Ngân hàng Trường đại học Nguyễn Trãi) nhận định, các dự án vốn lớn như đường sắt tốc độ cao bắc-nam và các tuyến đường sắt chiến lược được kỳ vọng tạo cú huých kép khi vừa kích hoạt thị trường công nghiệp - xây dựng quy mô lớn, vừa tạo việc làm theo chuỗi. Chỉ riêng tuyến Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng đã có thể tạo thị trường xây dựng khoảng gần 4,5 tỷ USD, với khoảng 90.000 việc làm trong giai đoạn xây dựng, kèm việc làm dài hạn khi vận hành.

Tương tự, tuyến đường sắt tốc độ cao Hà Nội - Quảng Ninh không chỉ được kỳ vọng rút ngắn thời gian di chuyển xuống, mà còn mở ra cơ hội tái cấu trúc không gian phát triển, thúc đẩy liên kết vùng và hình thành động lực tăng trưởng mới cho khu vực kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Phát biểu tại lễ khởi công dự án này, ông Quản Minh Cường, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh nhấn mạnh, đây là công trình hạ tầng chiến lược, có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi một dự án giao thông đơn thuần. Khi thời gian di chuyển được rút ngắn đáng kể thì rào cản khoảng cách địa lý sẽ không còn là lớn nữa.

Dẫn thí dụ về những quốc gia thành công nhất trong phát triển đường sắt tốc độ cao như Nhật Bản, Trung Quốc, ông Nguyễn Quang Huy chia sẻ, họ đều có một điểm chung: Coi trọng nội địa hóa sản xuất và làm chủ công nghệ, thay vì hoàn toàn phụ thuộc vào đối tác nước ngoài. Cách tiếp cận này cho phép tăng cường năng lực công nghiệp và tạo việc làm, làm chủ công nghệ đường sắt cao tốc thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp nội địa...

Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, phát triển đường sắt tốc độ cao là một thách thức đáng kể, trước hết là do chi phí đầu tư cực lớn. Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới (WB), suất đầu tư trung bình cho mỗi km đường sắt tốc độ cao ở Trung Quốc khoảng 17-21 triệu USD. Thậm chí, tuyến đường sắt tốc độ cao California mà Mỹ dự kiến thi công hiện ước tính tiêu tốn tới 128 tỷ USD, tương đương 166 triệu USD, do tiêu chuẩn môi trường và chi phí pháp lý đắt đỏ. Chính vì vậy, theo các chuyên gia kinh tế, quyết định đầu tư xây dựng một tuyến đường sắt tốc độ cao không đơn giản là một dự án hạ tầng, mà là một bài toán chiến lược quốc gia. Chính phủ cần cân nhắc, tính toán kỹ lưỡng bởi đây là công nghệ mới, lần đầu tiên được triển khai tại Việt Nam. Dĩ nhiên, thách thức không làm nền kinh tế nản lòng, nhất là khi xét tới những giá trị lâu dài mà đường sắt tốc độ cao có thể mang lại.

Về vấn đề này, Thứ trưởng Xây dựng Nguyễn Danh Huy nêu rõ, Đảng và Nhà nước ta đã nhất quán quan điểm rõ ràng là xây đường sắt tốc độ cao áp dụng công nghệ tiên tiến nhưng phải bảo đảm sự tham gia đồng thời của các doanh nghiệp trong nước, tiến tới làm chủ công nghệ. Đặc biệt, với dự án đường sắt tốc độ cao, Việt Nam không tìm công nghệ đắt nhất mà là công nghệ tiên tiến và phù hợp nhất, đã được kiểm chứng, bảo đảm an toàn, hiệu quả và có khả năng chuyển giao. Việt Nam sẽ ưu tiên các giải pháp thông tin tín hiệu, tự động hóa, vật liệu mới, năng lượng xanh và công nghệ thi công thông minh.

Thực tế, đây là phương tiện giao thông tốc độ cao nên cũng có yêu cầu nghiêm ngặt về kỹ thuật và sự an toàn. Do vậy, không vì chi phí hay nguồn thu mà thiếu tập trung yêu cầu này, chủ trương đầu tư dự án đường sắt tốc độ cao là rất cần thiết và phù hợp chiến lược phát triển của đất nước. Thứ trưởng Tài chính Trần Quốc Phương khẳng định, đến thời điểm này, có đầy đủ cơ sở chính trị và thực tiễn từ các nghị quyết, kết luận của Trung ương và Bộ Chính trị về việc xây dựng tuyến đường sắt tốc độ cao từ nay đến năm 2035 cũng như việc hoàn thiện kết cấu hạ tầng, trong đó có tuyến đường sắt tốc độ cao bắc-nam. Đây là sự cần thiết để có bước đột phá về hạ tầng, tạo tác động tích cực và lan tỏa đến tăng trưởng kinh tế cũng như bảo đảm an sinh xã hội. “Các tuyến đường sắt tốc độ cao sẽ tác động tích cực nếu như chúng ta làm tốt, làm nhanh. Phần đầu tư sẽ tác động trực tiếp đến tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong giai đoạn đầu và sau này tốc độ lan tỏa của nó còn lớn hơn rất nhiều, thậm chí vượt qua phần tính toán của chúng ta hiện nay”, Thứ trưởng Trần Quốc Phương nhìn nhận.

Chỉ ra những thách thức mang tính bản chất trong triển khai đường sắt tốc độ cao từ thực tiễn trong nước, PGS, TS Hoàng Hà (Trường đại học Giao thông Vận tải) nhấn mạnh, thách thức lớn nhất hiện nay không nằm ở từng giải pháp kỹ thuật riêng lẻ, mà ở sự thiếu đồng bộ trong toàn bộ chuỗi giá trị - từ thiết kế, thi công đến vận hành, từ công nghệ đến năng lực triển khai. Tuy nhiên, thành công thật sự của việc có đường sắt tốc độ cao không chỉ ở bài toán đi lại, mà nằm ở khả năng kết nối chiến lược giữa giao thông -đô thị-công nghiệp, một minh chứng cho sự phối hợp hiệu quả giữa “Chính phủ-doanh nghiệp-xã hội”, là bệ phóng có ý nghĩa chiến lược đối với phát triển quốc gia trong nhiều thập kỷ tới ■

Chiến lược phát triển đường sắt của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2050 tập trung hiện đại hóa mạng lưới, ưu tiên đường sắt tốc độ cao và các tuyến kết nối liên vùng, quốc tế. Chiến lược này thể hiện được rất rõ trong thông điệp có ý nghĩa hết sức quan trọng, thể hiện quyết tâm chính trị rất cao mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đưa ra trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước tới Trung Quốc vừa qua. Đó là hợp tác đường sắt được xác định là một trong những ưu tiên hàng đầu, mở ra không gian phát triển mới và tăng cường kết nối khu vực”.

Bộ trưởng Xây dựng Trần Hồng Minh

Có thể bạn quan tâm

Mô hình dự án đường sắt tốc độ cao Hà Nội- Quảng Ninh, với tổng mức đầu tư hơn 5,6 tỷ USD vừa chính thức khởi công tại Quảng Ninh. Ảnh có sử dụng đồ họa AI

ĐỘT PHÁ VỀ KẾT NỐI HẠ TẦNG CHIẾN LƯỢC

Trong bối cảnh thế giới đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông bền vững và hiện đại, đường sắt tốc độ cao không chỉ là biểu tượng của năng lực công nghệ, khả năng tổ chức mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược quốc gia.

Lớp học nâng cao trình độ về đường sắt tốc độ cao ngành Thi công và Bảo dưỡng công trình.

Mở rộng hợp tác trong đào tạo nguồn nhân lực mới

Một nhiệm vụ mang tính chiến lược, đóng vai trò then chốt trong xây dựng và vận hành đường sắt tốc độ cao, là phải đi trước một bước để đào tạo nguồn nhân lực có đủ năng lực, trình độ tiếp nhận, vận hành, khai thác, bảo trì và từng bước làm chủ các công nghệ tiên tiến, hiện đại đang được áp dụng với đường sắt tốc độ cao.

Đồi chè Mộc Châu. (Ảnh Huỳnh Văn Truyền)

Chủ động mở những lối đi

Nhiếp ảnh là một trong những lĩnh vực sáng tác mà việc vi phạm bản quyền xảy ra khá thường xuyên, ở nhiều phương thức, cấp độ khác nhau.

Ngành công nghệ cần đặt an toàn của trẻ em vào khâu thiết kế sản phẩm, thay vì coi đó là phần việc xử lý sau cùng. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Đồng hành để bảo vệ

Internet từ lâu đã trở thành một phần tất yếu của cuộc sống, kể cả với trẻ em. Tuy nhiên, mức độ hiện diện cao ấy không đồng nghĩa với việc thế hệ trẻ có đủ năng lực để tự bảo vệ mình.

Trung ương Đoàn luôn chủ động tạo ra các không gian cởi mở để kịp thời lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của trẻ em.

Lắng nghe đúng, hành động trúng

Trong thời đại kỷ nguyên số, không gian mạng không còn là một công cụ hỗ trợ, mà đã trở thành một môi trường sống song hành với đời sống của trẻ em.

Chiến dịch Không một mình, nằm trong chuỗi các hành động nhằm thực hiện Công ước Hà Nội, hướng tới đồng hành với giới trẻ trong phòng, chống bắt cóc online. Ảnh: Hiệp hội An ninh mạng

Nhật ký một ngày online

LTS - Không phải những con số thống kê khô khan, cũng không phải góc nhìn của người lớn, ký sự này được thực hiện bởi chính những “người trong cuộc” - nhóm phóng viên nhí của Tòa soạn Tiếng Xanh (hoạt động dưới sự hướng dẫn của UNICEF Việt Nam).

Thay vì ngăn chặn, Việt Nam đang hướng đến những giải pháp thân thiện, cùng đồng hành với trẻ trên không gian mạng. Trong ảnh: Trích từ cẩm nang “Tự tin chinh phục Vương quốc Social” của Toà soạn Tiếng Xanh.

Từ chính sách đến từng gia đình

Không gian mạng hôm nay đã là một phần của tuổi thơ Việt Nam. Vì thế, bài toán không còn là “có nên cho trẻ dùng mạng xã hội hay không”, mà là làm sao để trẻ em Việt Nam được lớn lên trong một môi trường số an toàn hơn, lành mạnh hơn và công bằng hơn.

Lần đầu tiên trong lịch sử quy hoạch đô thị Việt Nam, Thủ đô Hà Nội được Trung ương giao quyền lập đồ án Quy hoạch, phù hợp việc tổ chức lại địa giới hành chính, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp. Ảnh Thành Đạt

Thách thức trong bước chuyển tư duy

Lời tòa soạn - Theo Quy hoạch Tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm, thành phố sẽ phát triển với cấu trúc đô thị “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm”, điểm nhấn xuyên suốt là văn hiến, văn minh, hiện đại, hạnh phúc, trong đó yếu tố “hạnh phúc” được đặt ở vị trí trung tâm.

Hà Nội định hình cấu trúc đô thị theo không gian phát triển mở “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm”. (Ảnh KHIẾU MINH)

Không để quy hoạch chỉ dừng ở bản vẽ

Quy hoạch Tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm (Quy hoạch) đã được Hội đồng nhân dân thành phố thông qua. Quy hoạch cho thấy tầm chiến lược, có các phân kỳ, giai đoạn thực hiện, nhưng cũng cần giải quyết những khó khăn, thách thức để đi vào đời sống.

Ông Trịnh Quang Dũng, Trưởng phòng Quản lý hoạt động quy hoạch, kiến trúc đô thị, Sở Quy hoạch-Kiến trúc Hà Nội.

Đúc rút bài học thực tiễn, kiến tạo phát triển bền vững

Ông Trịnh Quang Dũng, Trưởng phòng Quản lý hoạt động quy hoạch, kiến trúc đô thị, Sở Quy hoạch-Kiến trúc Hà Nội chia sẻ: Để kiến tạo một Thủ đô phát triển bền vững xuyên thế kỷ, cơ quan chuyên môn không né tránh mà đi sâu nghiên cứu, bắt đúng bệnh...

Nhiều cuộc tọa đàm được tổ chức, nhằm đóng góp ý kiến cho chuyển đổi số quy hoạch đô thị tại Hà Nội. (Ảnh DIÊN KHÁNH)

“Bộ não số” cho đô thị thông minh

Thủ đô Hà Nội đang từng bước chuyển đổi, đầu tư hạ tầng công nghệ, tích cực chuyển đổi tư duy quản trị đô thị và quản lý quy hoạch, nâng cao chất lượng sống của người dân.

Các di tích, cảnh quan thiên nhiên, ao hồ cần có “đời sống của mình” trong không gian đô thị mới. (Ảnh VĂN HỌC)

Tích hợp yếu tố sinh thái vào từng lựa chọn

Ô nhiễm môi trường không chỉ là thách thức trước mắt, mà còn là lực cản lớn đối với mục tiêu phát triển bền vững của Thủ đô. Vì vậy, quy hoạch tổng thể phải bảo đảm yêu cầu rất cao về phát triển xanh cũng như tạo dựng hệ sinh thái phong phú cho đô thị.

Lãnh đạo phường Hồng Hà giải đáp thắc mắc của người dân bị thu hồi đất tại hiện trường.

Thước đo của một Thủ đô vì con người

Hà Nội đang bước vào giai đoạn tái cấu trúc đô thị mạnh mẽ. Song, phía sau những công trình mang tầm vóc quy hoạch là đổi thay trong đời sống của người dân, đặt ra yêu cầu phải giải quyết hài hòa bài toán phát triển và an cư.

Các yếu tố mang tính quyết định cho chuyển đổi xanh, như khoa học công nghệ, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo… cần được đầu tư tương xứng. (Ảnh Thành Đạt)

Thế chân kiềng trong kỷ nguyên xanh

Lời toà soạn - Để đưa nông nghiệp Việt Nam bước vào kỷ nguyên xanh, điều cốt lõi là phải tái định hình vai trò của Nhà nước, doanh nghiệp và người nông dân trong một hệ sinh thái phát triển mới.

Chuyển dịch xanh đang mở ra cơ hội để nông sản Việt Nam tái định vị trên thị trường quốc tế. (Trong ảnh: Trồng sầu riêng cho năng suất cao ở xã Trường Long, TP Cần Thơ). (Ảnh Phương Bằng)

Tháo gỡ nút thắt vốn và đầu tư

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt, biến động thị trường khó đoán định, đòi hỏi từ người tiêu dùng cũng cao hơn, nông nghiệp Việt Nam đứng trước yêu cầu phải chuyển dịch xanh, nâng cao giá trị.

TS Trần Công Thắng, Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Tối ưu hóa công cụ chính sách, khơi thông nguồn lực công-tư

Phát triển các công cụ chính sách mới, dựa vào cơ chế thị trường để huy động sự tham gia của toàn xã hội trong phát triển nông nghiệp gắn với bảo vệ môi trường là điều TS Trần Công Thắng, Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nhấn mạnh trong cuộc trò chuyện với NDCT.

Cần thúc đẩy mô hình liên kết bốn nhà (Nhà nước-Viện nghiên cứu-Doanh nghiệp-Nông dân) theo chuỗi giá trị. (Ảnh Đạt Thành)

Doanh nghiệp tiên phong nắm lợi thế

Thể chế và hệ sinh thái về chuyển đổi số - xanh của Việt Nam vẫn chưa hoàn thiện cũng như chưa đủ mạnh để phát triển trên diện rộng. Để hóa giải tình trạng này, cần đồng bộ quá trình hoàn thiện thể chế và tài chính xanh, đi đôi hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi, phát triển hạ tầng số.

Các hợp tác xã, tổ hợp tác, thông qua Chương trình FFF có nhiều cơ hội giao lưu, trao đổi để phát triển. (Ảnh FAO Việt Nam)

Ươm mầm sinh kế

Từ những mảnh vườn nhỏ ở Lào Cai, Thái Nguyên hay Phú Thọ, một mô hình mới đang dần hình thành: Nông nghiệp gắn với rừng, với thị trường, với cộng đồng và với tương lai dài hạn.

Bảy mô hình Đề án 1 triệu ha lúa tại Đồng bằng sông Cửu Long ghi nhận năng suất đều tăng, nâng cao thu nhập cho nông dân từ 4-7,6 triệu đồng/ha. (Ảnh Lê Phương)

Bài toán nâng tầm giá trị hạt gạo

Lúa phát thải thấp giúp nâng cao giá trị hạt gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế, nhưng đồng thời cũng đặt ra bài toán lớn liên quan nguồn vốn và tổ chức canh tác nông nghiệp.

Đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt giúp minh bạch hóa dòng tiền, giảm thất thu thuế, đồng thời bảo đảm an toàn tài chính cho người dân cũng như nền kinh tế. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Cuộc đua tốc độ và bảo mật

Lời toà soạn - Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, giá trị thanh toán không dùng tiền mặt năm 2025 gấp khoảng 28 lần tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tương đương hơn 14 nghìn tỷ USD.

Các hoạt động hướng dẫn sử dụng dịch vụ công trực tuyến và phổ biến phương thức thanh toán không dùng tiền mặt (QR code, chuyển khoản) được triển khai mạnh mẽ.

Hướng tới phát triển các hệ sinh thái số

Với tốc độ tăng trưởng hai con số liên tục trong nhiều năm, thanh toán không dùng tiền mặt đã trở thành một phần tất yếu của cuộc sống. Dù mang lại nhiều tiện ích, việc phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu phải bảo đảm an toàn, bảo mật.

Công cụ tài chính số cơ bản giúp người dân làm quen với tư duy quản lý tài chính.

Tiện lợi và minh bạch hơn

Đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt không chỉ giúp cơ quan quản lý theo dõi dòng tiền minh bạch hơn, thu hẹp khoảng trống thất thu thuế, mà còn góp phần xây dựng nền tảng dữ liệu quan trọng để phát hiện sớm những giao dịch bất thường, từng bước bảo đảm an toàn tài chính cho người dân cũng như nền kinh tế.