Định hình mạng lưới vận tải quốc gia

Trong bối cảnh thế giới đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông bền vững và hiện đại, đường sắt tốc độ cao không chỉ là biểu tượng của năng lực công nghệ, khả năng tổ chức và tầm nhìn chiến lược quốc gia.

Khoảng cách công nghệ giữa đường sắt hiện hữu và đường sắt tốc độ cao là rất lớn, vì vậy Việt Nam cần chuẩn bị tốt việc đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu tiến tới làm chủ công nghệ. Nguồn VNR
Khoảng cách công nghệ giữa đường sắt hiện hữu và đường sắt tốc độ cao là rất lớn, vì vậy Việt Nam cần chuẩn bị tốt việc đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu tiến tới làm chủ công nghệ. Nguồn VNR

Với tốc độ vận hành cao, hệ thống đường sắt tốc độ cao không chỉ rút ngắn thời gian di chuyển giữa các đô thị lớn, mà còn kích thích tăng trưởng kinh tế vùng, giảm phát thải và tái định hình mạng lưới vận tải quốc gia.

Mở đường cho tăng trưởng, nối liền liên kết vùng

Nhiệm kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã tạo thế và lực quan trọng trong phát triển đất nước, nhất là việc hoàn thành khoảng 3.000 km đường cao tốc, cơ bản khép kín tuyến cao tốc bắc - nam từ Lạng Sơn đến Cà Mau trong năm 2025. Cụ thể, chỉ trong vòng 5 năm, Bộ Xây dựng khởi công 84 dự án và khánh thành 98 dự án giao thông. Riêng năm 2025, 15 dự án được khởi công và 38 dự án đã khánh thành, cao gấp bốn lần so năm 2024.

Tiếp nối những kết quả đạt được trong nhiệm kỳ trước, với hàng loạt công trình trọng điểm được khởi công, hoàn thành và đưa vào khai thác, Đại hội XIV của Đảng tiếp tục xác định phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại là một trong những đột phá chiến lược, với trọng tâm là hạ tầng giao thông đa phương thức. Trong đó, các tuyến đường sắt tốc độ cao sẽ là ưu tiên đầu tư và xây dựng nhằm gia tăng liên kết vùng, kết nối quốc tế.

Đại hội XIV hướng đến việc xác định đầu tư các dự án có tầm vóc chiến lược như đường sắt tốc độ cao trục bắc-nam (dài 1.541 km, tổng mức đầu tư hơn 1,71 triệu tỷ đồng) và đường sắt tốc độ cao Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng (dài 417 km, tổng mức đầu tư 203.231 tỷ đồng), từng bước thay thế hệ thống đường sắt cũ, lạc hậu. Hai dự án này đã được Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư vào các ngày 30/11/2024 và 19/2/2025.

Chỉ gần bốn tháng sau lễ khởi công quy mô của dự án đường sắt tốc độ cao Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, ngày 12/4, tuyến đường sắt tốc độ cao Hà Nội - Quảng Ninh, với tổng mức đầu tư hơn 147.000 tỷ đồng (hơn 5,6 tỷ USD), đã chính thức phát lệnh khởi công. Khi hoàn thành, dự kiến vào năm 2028, người dân di chuyển từ Hà Nội tới Quảng Ninh sẽ chỉ mất vỏn vẹn 23 phút, thay vì gần 2,5 tiếng như hiện tại. “Đây là một cuộc cách mạng về di chuyển. Khi khoảng cách giữa hai trung tâm chỉ còn 23 phút, đó không còn là hành trình, mà là bước chuyển mình về định nghĩa lại chuẩn sống”, ông Hoàng Đạo Hiệp, Giám đốc Chiến lược khách hàng cấp cao Dentsu Redder nhận định.

Điều này đồng nghĩa với việc, rất có thể Hà Nội trong tương lai sẽ không còn vận hành theo mô hình một trung tâm duy nhất - nơi mọi giá trị, tiện ích, cơ hội đều quy tụ vào vùng “lõi” Thủ đô. Và nhờ khả năng kết nối đa cực của các tuyến đường sắt tốc độ cao, Hà Nội sẽ có thể chủ động kiến tạo những “trung tâm mới” đủ sức hút để người dân có thể an tâm với cuộc sống “ly tâm” đô thị. Bởi “đường sắt tốc độ cao giúp “nén” khoảng cách, đưa các đô thị vệ tinh trở thành một cực phát triển có chức năng ngang tầm trung tâm”, TS, KTS Trương Văn Quảng, Phó Tổng Thư ký Hội Quy hoạch phát triển Đô thị Việt Nam nhấn mạnh.

Ngoài ra, việc đầu tư các tuyến đường sắt tốc độ cao kết nối vùng như Thành phố Hồ Chí Minh - Cần Thơ, Biên Hòa-Vũng Tàu, Móng Cái-Hạ Long-Hải Phòng, Hà Nội-Lạng Sơn, Viêng Chăn (Lào) - Vũng Áng, nhằm giảm áp lực cho các loại hình giao thông truyền thống. Khi hoàn thành các dự án trên hệ thống đường sắt sẽ phủ sóng từ bắc tới nam, kết nối cảng biển, hàng không… Điều mà trước đây chúng ta chưa thể làm được.

Theo Bộ trưởng Xây dựng Trần Hồng Minh, việc bổ sung hạ tầng đường sắt tốc độ cao không chỉ tăng cường liên kết vùng mà còn mở rộng không gian phát triển kinh tế qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh logistics và xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường quốc tế.

“Mục tiêu là năm 2030, hoàn thành tuyến đường sắt Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng và từng bước triển khai đường sắt tốc độ cao bắc - nam, đáp ứng yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên mới”, Bộ trưởng Trần Hồng Minh nhấn mạnh.

Điều kiện tiên quyết tạo dư địa bứt phá

Với quan điểm, phát triển hệ thống đường sắt tốc độ cao không đơn thuần là một bài toán hạ tầng, mà còn là chiến lược lâu dài về kinh tế, an ninh công nghệ và chủ quyền quốc gia, chuyên gia kinh tế Nguyễn Quang Huy (CEO Khoa Tài chính-Ngân hàng Trường đại học Nguyễn Trãi) nhận định, các dự án vốn lớn như đường sắt tốc độ cao bắc-nam và các tuyến đường sắt chiến lược được kỳ vọng tạo cú huých kép khi vừa kích hoạt thị trường công nghiệp - xây dựng quy mô lớn, vừa tạo việc làm theo chuỗi. Chỉ riêng tuyến Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng đã có thể tạo thị trường xây dựng khoảng gần 4,5 tỷ USD, với khoảng 90.000 việc làm trong giai đoạn xây dựng, kèm việc làm dài hạn khi vận hành.

Tương tự, tuyến đường sắt tốc độ cao Hà Nội - Quảng Ninh không chỉ được kỳ vọng rút ngắn thời gian di chuyển xuống, mà còn mở ra cơ hội tái cấu trúc không gian phát triển, thúc đẩy liên kết vùng và hình thành động lực tăng trưởng mới cho khu vực kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Phát biểu tại lễ khởi công dự án này, ông Quản Minh Cường, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh nhấn mạnh, đây là công trình hạ tầng chiến lược, có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi một dự án giao thông đơn thuần. Khi thời gian di chuyển được rút ngắn đáng kể thì rào cản khoảng cách địa lý sẽ không còn là lớn nữa.

Dẫn thí dụ về những quốc gia thành công nhất trong phát triển đường sắt tốc độ cao như Nhật Bản, Trung Quốc, ông Nguyễn Quang Huy chia sẻ, họ đều có một điểm chung: Coi trọng nội địa hóa sản xuất và làm chủ công nghệ, thay vì hoàn toàn phụ thuộc vào đối tác nước ngoài. Cách tiếp cận này cho phép tăng cường năng lực công nghiệp và tạo việc làm, làm chủ công nghệ đường sắt cao tốc thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp nội địa...

Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, phát triển đường sắt tốc độ cao là một thách thức đáng kể, trước hết là do chi phí đầu tư cực lớn. Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới (WB), suất đầu tư trung bình cho mỗi km đường sắt tốc độ cao ở Trung Quốc khoảng 17-21 triệu USD. Thậm chí, tuyến đường sắt tốc độ cao California mà Mỹ dự kiến thi công hiện ước tính tiêu tốn tới 128 tỷ USD, tương đương 166 triệu USD, do tiêu chuẩn môi trường và chi phí pháp lý đắt đỏ. Chính vì vậy, theo các chuyên gia kinh tế, quyết định đầu tư xây dựng một tuyến đường sắt tốc độ cao không đơn giản là một dự án hạ tầng, mà là một bài toán chiến lược quốc gia. Chính phủ cần cân nhắc, tính toán kỹ lưỡng bởi đây là công nghệ mới, lần đầu tiên được triển khai tại Việt Nam. Dĩ nhiên, thách thức không làm nền kinh tế nản lòng, nhất là khi xét tới những giá trị lâu dài mà đường sắt tốc độ cao có thể mang lại.

Về vấn đề này, Thứ trưởng Xây dựng Nguyễn Danh Huy nêu rõ, Đảng và Nhà nước ta đã nhất quán quan điểm rõ ràng là xây đường sắt tốc độ cao áp dụng công nghệ tiên tiến nhưng phải bảo đảm sự tham gia đồng thời của các doanh nghiệp trong nước, tiến tới làm chủ công nghệ. Đặc biệt, với dự án đường sắt tốc độ cao, Việt Nam không tìm công nghệ đắt nhất mà là công nghệ tiên tiến và phù hợp nhất, đã được kiểm chứng, bảo đảm an toàn, hiệu quả và có khả năng chuyển giao. Việt Nam sẽ ưu tiên các giải pháp thông tin tín hiệu, tự động hóa, vật liệu mới, năng lượng xanh và công nghệ thi công thông minh.

Thực tế, đây là phương tiện giao thông tốc độ cao nên cũng có yêu cầu nghiêm ngặt về kỹ thuật và sự an toàn. Do vậy, không vì chi phí hay nguồn thu mà thiếu tập trung yêu cầu này, chủ trương đầu tư dự án đường sắt tốc độ cao là rất cần thiết và phù hợp chiến lược phát triển của đất nước. Thứ trưởng Tài chính Trần Quốc Phương khẳng định, đến thời điểm này, có đầy đủ cơ sở chính trị và thực tiễn từ các nghị quyết, kết luận của Trung ương và Bộ Chính trị về việc xây dựng tuyến đường sắt tốc độ cao từ nay đến năm 2035 cũng như việc hoàn thiện kết cấu hạ tầng, trong đó có tuyến đường sắt tốc độ cao bắc-nam. Đây là sự cần thiết để có bước đột phá về hạ tầng, tạo tác động tích cực và lan tỏa đến tăng trưởng kinh tế cũng như bảo đảm an sinh xã hội. “Các tuyến đường sắt tốc độ cao sẽ tác động tích cực nếu như chúng ta làm tốt, làm nhanh. Phần đầu tư sẽ tác động trực tiếp đến tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong giai đoạn đầu và sau này tốc độ lan tỏa của nó còn lớn hơn rất nhiều, thậm chí vượt qua phần tính toán của chúng ta hiện nay”, Thứ trưởng Trần Quốc Phương nhìn nhận.

Chỉ ra những thách thức mang tính bản chất trong triển khai đường sắt tốc độ cao từ thực tiễn trong nước, PGS, TS Hoàng Hà (Trường đại học Giao thông Vận tải) nhấn mạnh, thách thức lớn nhất hiện nay không nằm ở từng giải pháp kỹ thuật riêng lẻ, mà ở sự thiếu đồng bộ trong toàn bộ chuỗi giá trị - từ thiết kế, thi công đến vận hành, từ công nghệ đến năng lực triển khai. Tuy nhiên, thành công thật sự của việc có đường sắt tốc độ cao không chỉ ở bài toán đi lại, mà nằm ở khả năng kết nối chiến lược giữa giao thông -đô thị-công nghiệp, một minh chứng cho sự phối hợp hiệu quả giữa “Chính phủ-doanh nghiệp-xã hội”, là bệ phóng có ý nghĩa chiến lược đối với phát triển quốc gia trong nhiều thập kỷ tới ■

Chiến lược phát triển đường sắt của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2050 tập trung hiện đại hóa mạng lưới, ưu tiên đường sắt tốc độ cao và các tuyến kết nối liên vùng, quốc tế. Chiến lược này thể hiện được rất rõ trong thông điệp có ý nghĩa hết sức quan trọng, thể hiện quyết tâm chính trị rất cao mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đưa ra trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước tới Trung Quốc vừa qua. Đó là hợp tác đường sắt được xác định là một trong những ưu tiên hàng đầu, mở ra không gian phát triển mới và tăng cường kết nối khu vực”.

Bộ trưởng Xây dựng Trần Hồng Minh

Có thể bạn quan tâm

Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số với tốc độ thuộc nhóm nhanh nhất thế giới. Nguồn: HAI

TỪ ÁP LỰC AN SINH ĐẾN NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN

Khi con người khỏe mạnh hơn và tiếp tục cống hiến lâu hơn, chính khái niệm về tuổi già cũng đang được viết lại. Từ những chuyển động của kinh tế, chính sách đến sự thay đổi trong mỗi gia đình, thế giới đang bước vào một kỷ nguyên dân số mới, nơi giá trị của một quốc gia không chỉ được đo bằng quy mô dân số, mà còn bằng khả năng phát huy nguồn vốn con người ở mọi lứa tuổi.

Thế hệ người cao tuổi hôm nay có sức khỏe và khả năng tham gia các hoạt động kinh tế-xã hội tốt hơn trước. Nguồn: HAI

Viết lại mệnh đề dân số

Thành tựu y tế cùng xu hướng giảm sinh đang tạo nên một cuộc biến đổi nhân khẩu học sâu sắc nhất lịch sử: Già hóa dân số toàn cầu. Đã đến lúc không thể nhìn nhận cục diện này như một bài toán an sinh thuần túy, mà cần chuyển hóa thành động lực đổi mới mô hình phát triển, khơi thông nguồn vốn con người và kiến tạo tương lai bền vững.

Những gia đình bốn thế hệ ngày càng nhiều trong xã hội. Ảnh: HẢI NAM

Để một ngày được già đi trong tự chủ

Chúng ta vẫn quen nói đến già hóa dân số bằng những con số: Tỷ lệ người cao tuổi tăng lên, mức sinh giảm xuống, tuổi thọ ngày càng kéo dài. Nhưng sau những biểu đồ và dự báo ấy là một thay đổi âm thầm hơn rất nhiều: Cấu trúc của mỗi gia đình đang được viết lại.

Một người thợ cao niên đang cần mẫn làm việc, hình ảnh dễ thấy tại Nhật Bản. Ảnh: NYT

Cách thế giới khai thác nền kinh tế bạc

Nhật Bản kéo dài tuổi lao động đến 70 và khuyến khích các doanh nghiệp tuyển dụng người già, còn Trung Quốc muốn thu hút hàng chục nghìn tỷ nhân dân tệ (NDT) từ túi tiền của thế hệ cao niên. Hai chiến lược khác nhau cho cùng một bài toán kinh tế bạc: Làm sao để duy trì tăng trưởng, khi dân số ngày càng già đi?

Ông Trần Viết Lưu

Tuổi thọ tăng, cơ hội cũng phải tăng!

Việt Nam hiện có hơn 17 triệu người cao tuổi. Khi tuổi thọ trung bình tăng nhanh, nhóm dân số này cần được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển kinh tế-xã hội thay vì gánh nặng an sinh. Chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần, ông Trần Viết Lưu - Phó Chánh Văn phòng Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam khẳng định: Thay đổi nhận thức của xã hội chính là bước đi tiên quyết cho quá trình chuyển đổi này.

Chăm sóc người cao tuổi đòi hỏi nhiều kỹ năng chuyên nghiệp. Nguồn: Dự án GRACE

Nghề chưa được gọi đúng tên

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), cùng với đà tăng của tuổi thọ, nhu cầu chăm sóc dài hạn sẽ trở thành một trong những thách thức lớn nhất của các quốc gia, đòi hỏi phải phát triển đội ngũ chăm sóc chuyên nghiệp, có kỹ năng và lấy người cao tuổi làm trung tâm.

Chất thải xây dựng phát sinh lớn trong quá trình phá dỡ công trình ở Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Không để “tài nguyên” thành phế thải đô thị

Trong bối cảnh đô thị hóa và phát triển hạ tầng được thúc đẩy mạnh mẽ, khối lượng chất thải xây dựng và phá dỡ công trình đang gia tăng áp lực lên các đô thị lớn. Nếu không sớm thay đổi tư duy quản lý và chuyển hướng sang tái sử dụng, nguồn tài nguyên thứ cấp khổng lồ này sẽ bị lãng phí nghiêm trọng, biến thành gánh nặng cho hệ thống xử lý và gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường.

TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam.

Mấu chốt là hoàn thiện thể chế và chuyển đổi tư duy quản lý

Đây là hai điểm quan trọng được TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam (ảnh nhỏ) phân tích kỹ càng trong cuộc trả lời phỏng vấn của Nhân Dân cuối tuần, về các giải pháp biến chất thải xây dựng thành tài nguyên, góp phần bảo vệ môi trường.

Dự án Vành đai 2,5 đoạn qua phường Yên Hòa, nhiều hạng mục đang thi công phát sinh bụi dày đặc.

Giải quyết căn cơ bài toán vì môi trường Hà Nội

Thành phố Hà Nội đang đồng loạt triển khai nhiều dự án hạ tầng lớn, từ các tuyến đường vành đai, cầu vượt sông Hồng đến những khu đô thị mới. Đi cùng tốc độ giải phóng mặt bằng và tháo dỡ công trình là lượng chất thải xây dựng tăng đột biến. Theo ước tính, từ đầu năm 2026 đến nay, khối lượng chất thải phát sinh đã đạt khoảng 1,5 triệu tấn.

Ông Nguyễn Ngọc Tuấn cho biết: “Những doanh nghiệp tiên phong như Toàn Cầu không thể khai thác hết công suất do thiếu hụt nguồn nguyên liệu đầu vào”. Ảnh: Thành Đạt

Gỡ khó để doanh nghiệp dám đầu tư

Nguồn chất thải xây dựng phục vụ tái chế chưa ổn định và chưa được quản lý theo chuỗi chính là những rào cản lớn khiến cho doanh nghiệp tái chế chất thải xây dựng gặp nhiều khó khăn.

Một sản phẩm gạch tái chế từ chất thải xây dựng của Hà Lan. Ảnh: Chuyên gia cung cấp

Kích hoạt kinh tế tuần hoàn trong ngành xây dựng

Theo nhiều thống kê quốc tế, chất thải xây dựng hiện chiếm từ 25-40% tổng lượng chất thải rắn phát sinh ở nhiều quốc gia. Ngày nay, tại nhiều nước phát triển, chất thải xây dựng đã được nhìn nhận như một tài nguyên thứ cấp có giá trị, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải khí nhà kính.

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Trước đòi hỏi đáp ứng mục tiêu tăng trưởng cao cùng những áp lực ngày một gia tăng bởi biến đổi khí hậu và những biến động địa chính trị trên toàn cầu, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam không chỉ đẩy mạnh xử lý các dự án chậm tiến độ mà quan trọng hơn, cần đến cuộc “đại phẫu” giàu tính chiến lược và khoa học cho ngành quan trọng này. Tốc độ hoàn thiện thể chế chính là yếu tố quyết định liệu chúng ta có về đích - bổ sung 90.000 MW còn thiếu cho hệ thống trong chưa đầy 5 năm tới hay không?

Công nhân EVNHANOI kiểm tra vận hành Hệ thống thiết bị đóng cắt hợp bộ tại trạm biến áp. Ảnh: Thành Đạt

Phát triển hạ tầng nguồn điện cho tăng trưởng hai con số

Trong tiến trình hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng là vấn đề tiên quyết. “Điện đi trước một bước” và càng phải “đi” nhanh hơn, trong quá trình chuyển dịch năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu.

TS Đỗ Minh Thắng. Ảnh: NVCC

“Quy hoạch dài hạn, dự báo chính xác và chuẩn bị nguồn lực từ sớm”

Những cảnh báo về nguy cơ xuất hiện Siêu El Niño vào thời gian tới đặt ra yêu cầu cấp bách về bảo đảm đủ điện cho sản xuất và đời sống. Song, bảo đảm cung ứng điện không chỉ là chuyện của một mùa. Để góp phần tìm lời giải cho những thách thức mang tính cấu trúc của ngành điện, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trò chuyện với TS Đỗ Minh Thắng, Trưởng bộ phận năng lượng, Công ty Meteodyn (Pháp).

Ngành điện Cao Bằng chủ động các biện pháp phòng ngừa để đồng hành doanh nghiệp trong mùa cao điểm thiếu điện. Ảnh: Hoàng Yến

Đối phó thiếu hụt cung ứng điện mùa khô

Năm 2026 được dự báo có mùa khô hạn khốc liệt, nguy cơ thiếu điện sản xuất là rất lớn. Thay vì bị động ứng phó tình thế, cơ quan quản lý, ngành điện và các doanh nghiệp hiện nay đã chuyển sang tư duy quản trị rủi ro từ sớm bằng hàng loạt giải pháp thực tế.

VINASOL triển khai nâng cấp Hệ thống BESS lưu trữ 260 kWh cho một nhà máy ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Những khoảng cách cần sớm thu hẹp

Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đến nay, hơn 23.000 MW điện gió và điện mặt trời đã được triển khai trong nước, chiếm khoảng 27% tổng công suất toàn hệ thống. Nếu so tổng công suất pin lưu trữ năng lượng (BESS) dự kiến hoàn thành trong năm 2026 trên cả nước ước đạt 900 MW sẽ thấy sự chênh lệch lớn giữa nhu cầu thực tế trước mắt và mục tiêu dài hạn về công suất lắp đặt hệ thống BESS tại Việt Nam.

Trung tâm dữ liệu DayOne tại Bang Johor (Malaysia) hoạt động với công suất 478 MW.

Chấp nhận trả giá trước hay sau?

Câu chuyện về nguồn cung năng lượng tại hai nước láng giềng Đông Nam Á của Việt Nam là Thái Lan và Malaysia có thể gợi lên nhiều điểm đáng lưu tâm.

Đọc sâu và thấu hiểu là một thách thức với giới trẻ ngày nay. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Ươm mầm văn hóa đọc trong thời đại số

Công nghệ số đang làm thay đổi căn bản cách con người tiếp cận tri thức. Chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi cá nhân đều có thể tìm kiếm gần như mọi thông tin cần thiết trong vài giây.

Các không gian đọc cộng đồng cần được quan tâm đầu tư thành những điểm hẹn văn hóa. Ảnh: TRANG PHI

Con đường đầu tư cho tương lai

Hình ảnh người ngồi đọc sách ở các địa điểm công cộng ngày càng trở nên hiếm gặp, song sẽ là phiến diện nếu cho rằng người Việt đang quay lưng với sách. Thực tế cho thấy nhu cầu đọc vẫn tồn tại dưới nhiều dạng thức. Mối bận tâm về văn hóa đọc, do đó, không phải là cộng đồng “có đọc hay không”, mà là chúng ta nên “đọc gì, đọc như thế nào và dành bao nhiêu thời gian cho việc đọc sâu”.

PGS, TS Nguyễn Văn Tùng

Từ phong trào đến tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục

Nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành văn hóa đọc, bởi đây là môi trường giáo dục nền tảng, nơi hình thành thói quen, nhân cách và phương pháp học tập của mỗi con người. PGS, TS Nguyễn Văn Tùng, thành viên Hội đồng thành viên, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về các giải pháp phát triển văn hóa đọc cho học sinh.

TS Nguyễn Mạnh Hùng (người ngồi bên trái) trò chuyện với kỹ sư Lê Thanh Hải. Ảnh: Tuyết Minh

Một cánh cửa mới

Từ trước đến nay, khi nói đến văn hóa đọc, chúng ta thường nghĩ đến việc đọc sách. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, đọc không chỉ là đọc chữ. Đọc còn là đọc con người, đọc cuộc đời, đọc thiên nhiên, đọc xã hội và cuối cùng là đọc chính mình.

Diễn giả Nguyễn Quốc Vương trong một lần chia sẻ về văn hóa đọc với các em học sinh. Ảnh: NVCC

Như mạch nước kiên trì lan tỏa

Năm nay đánh dấu 10 năm tôi theo đuổi con đường khuyến đọc. Trong 10 năm đó, tất cả công việc của tôi đều tập trung vào hoạt động khuyến đọc bao gồm viết, đọc, nói (diễn thuyết). Và thật sự, con đường này vẫn vô cùng gian nan.

Không ít bạn trẻ lướt mạng thay vì đọc sâu. Ảnh: VĂN HỌC

Dừng lại, suy ngẫm và chuyển hóa

Khi sự chú ý liên tục bị phân tán bởi các luồng thông tin ngắn, phản hồi tức thời, việc dành thời gian cho một cuốn sách, ý tưởng hay quá trình suy tư ngày càng trở nên khó khăn.

Mục tiêu không chỉ là sản xuất nhiều gạo hơn mà là sản xuất gạo chất lượng cao hơn, giảm phát thải hơn. Trong ảnh: Cánh đồng lúa chất lượng cao ở xã Gia Hòa, thành phố Cần Thơ. Ảnh: Phương Bằng

Nông nghiệp với ngã rẽ chuyển đổi tư duy

Biến đổi khí hậu cùng với các yêu cầu mới của thị trường toàn cầu về giảm phát thải khí nhà kính, sản xuất xanh và phát triển bền vững đang trở thành những tiêu chuẩn bắt buộc, để nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải chuyển đổi tư duy sản xuất, tập trung vào chất lượng, hiệu quả và khả năng thích ứng.