Bài toán lãng phí kép từ một vụ vi phạm

Từng là một công trường khai thác sôi động, nhưng hiện giờ, khu mỏ đất hiếm thuộc thôn Yên Sơn, xã Xuân Ái (tỉnh Lào Cai) trở nên im lìm. Nhà xưởng bị bỏ hoang, máy móc hoen gỉ, tồn tại nguy cơ đe dọa môi trường nước trong khu vực.

Ông Phạm Hùng Cát (trái) chia sẻ nỗi lo lắng khi môi trường bị đe dọa. (Ảnh NAM NGUYỄN)
Ông Phạm Hùng Cát (trái) chia sẻ nỗi lo lắng khi môi trường bị đe dọa. (Ảnh NAM NGUYỄN)

Liên quan vụ Công ty Thái Dương khai thác trái phép đất hiếm, người dân mong mỏi cơ quan chức năng sớm xử lý dứt điểm, có phương án cải thiện môi trường, ổn định đời sống cho người dân.

Nỗi lo của người dân trên khu mỏ quý

Khu mỏ đất hiếm thôn Yên Sơn (trước đây thuộc xã Yên Phú, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái) giờ giống một khu phế tích bị bỏ quên giữa núi rừng… Sau gần ba năm dừng hoạt động phục vụ điều tra, toàn bộ không gian bị phong tỏa, những nơi từng in dày dấu bánh xe ben giờ bị cỏ dại nuốt chửng. Cỏ mọc kín lối đi, len vào cả nền bê-tông, tràn lên những bậc thềm kho xưởng, phủ một màu hoang lạnh. Bên ngoài, cổng mỏ bị chặn, lực lượng chức năng canh gác 24/24h.

Không phải người dân nào cũng biết nguyên do vì sao khu mỏ từng hái ra rất nhiều tiền ấy bị đóng cửa. Trong khi đó, hàng chục người dân thôn Yên Sơn từng làm việc cho Công ty Thái Dương bị nợ lương (từ ngày mỏ dừng hoạt động), vẫn đang khắc khoải chờ đợi nhận được đồng tiền mồ hôi công sức của mình.

Ông Phạm Hùng Cát, Trưởng thôn Yên Sơn (từ năm 1999) chia sẻ: “Người dân chúng tôi nằm trên mỏ đất, nghe nói bán đắt hơn vàng, mà vẫn nghèo. Những ngày doanh nghiệp hoạt động, vào ban đêm, hay khi trời mưa, trong mỏ xả ra chất thải đỏ quạch, ảnh hưởng đến môi trường nguồn nước”. Khi thấy nguồn nước bị ô nhiễm, “Bằng mắt thường, chúng tôi nhận định là rất ảnh hưởng, nên người dân mấy thôn đều tìm công ty để hỏi, nhưng công ty bảo họ được quyền khai thác. Chúng tôi lại lên Ủy ban nhân dân xã để kiến nghị, nhưng rồi chuyện kiến nghị cũng chỉ là… kiến nghị thế thôi. Người dân lại lặng lẽ ra về. Công ty Thái Dương có hỗ trợ cho chúng tôi làm hơn 100 mét đường, mà xe tải chạy ầm ầm như thế thì chẳng thấm vào đâu”, ông hồi tưởng.

Theo một công nhân thôn Yên Sơn, người cũng đang bị nợ lương, “đất hiếm tại mỏ có trữ lượng lớn, người ta mới bóc tách được một phần nhỏ”. Nếu mỏ được phép hoạt động trở lại, anh và 30 người trong thôn bị nợ lương sẽ tiếp tục xin vào làm, để… đòi tiền nợ. Còn người đã làm trưởng thôn đến gần 30 năm, được dân tin quý như ông Cát chỉ mong mỏi: Sau này công ty nào được cấp phép khai thác, phải có phương án bảo vệ môi trường rừng, nguồn nước, tạo điều kiện an sinh xã hội cho người dân trong thôn.

Trước vấn đề này, theo lãnh đạo xã Xuân Ái, kể từ tháng 10/2023, thời điểm mỏ đất hiếm bị dừng hoạt động để phục vụ quá trình điều tra, nơi này đang được chính quyền địa phương phối hợp các lực lượng chức năng thực hiện biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt. Việc ra vào khu vực mỏ được Công an tỉnh Lào Cai kiểm soát chặt chẽ nhằm ngăn chặn tình trạng khai thác trái phép, thất thoát tài nguyên.

gen-h-z7750908475612-40e0df8cf02144065ab75ddb3be8d707.jpg
Công ty Thái Dương đã tổ chức khai thác mỏ khi chưa đủ điều kiện. (Ảnh Trần Thanh)

Bài học về buông lỏng quản lý

Theo cơ quan chức năng, Đoàn Văn Huấn, Tổng giám đốc Công ty Thái Dương bị cáo buộc ba tội danh: Vi phạm quy định về thăm dò, khai thác tài nguyên; vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng; gây ô nhiễm môi trường. Qua hồ sơ, Công ty Thái Dương được Bộ Tài nguyên và Môi trường (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cấp giấy phép khai thác khoáng sản vào tháng 6/2013, doanh nghiệp được phép khai thác đất hiếm bằng phương pháp lộ thiên tại khu vực xã Yên Phú, huyện Văn Yên, thời gian khai thác đến tháng 7/2021. Tháng 8/2021, Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp giấy phép gia hạn thời hạn khai thác cho Công ty Thái Dương đến tháng 7/2028.

Theo quy định, trước khi khai thác, công ty phải có trách nhiệm nộp thiết kế mỏ được thẩm định, phê duyệt cho cơ quan quản lý nhà nước về khoáng sản. Trong quá trình khai thác phải thực hiện đầy đủ quy định của pháp luật có liên quan và quy định tại giấy phép; quặng đất hiếm phải chế biến thành oxit đất hiếm có độ sạch 99,9%, được cung cấp cho các ngành công nghiệp trong nước và xuất khẩu; quặng sắt được cung cấp cho các cơ sở luyện gang thép trong nước.

Tuy nhiên, Đoàn Văn Huấn đã chỉ đạo cấp dưới và nhân viên tiến hành khai thác quặng đất hiếm khi chưa đủ điều kiện. Ngoài ra, theo yêu cầu, Đoàn Văn Huấn phải hợp tác với đối tác Nhật Bản để xây dựng nhà máy chế biến sâu đất hiếm. Song, Huấn lại hợp tác với một số đối tác mang quốc tịch Trung Quốc xây dựng nhà máy thủy luyện, không bảo đảm điều kiện chế biến sâu, từ đó sơ chế quặng đất hiếm tạo ra sản phẩm là tổng oxit đất hiếm có độ sạch chỉ khoảng 18-20%. Theo cáo trạng, tổng số khoáng sản bị các đối tượng khai thác trái phép trị giá hơn 864 tỷ đồng, trong đó đã tiêu thụ số quặng trị giá hơn 736 tỷ đồng.

Ông Hoàng Xuân Hùng, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Xuân Ái, cho hay: “Thẩm quyền cấp phép cho loại khoáng sản đặc biệt này thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường, còn quản lý, nghiệp vụ kiểm tra chuyên sâu là cấp tỉnh. Với cấp xã, trước đây chúng tôi cũng chỉ biết là các cơ quan đã thẩm định rất rõ từ khâu thăm dò, lập hồ sơ, cấp phép đủ đầy. Chỉ đến khi công an về điều tra yêu cầu nhà máy dừng hoạt động, điều tra, sau đó tòa án tuyên án nhiều cán bộ công ty và một số người khác thì mới ngỡ ngàng mà không hiểu tại sao”.

Còn ông Lưu Đức Cường, Trưởng phòng Khoáng sản (Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lào Cai), chia sẻ: Từ những sai phạm trên, Luật Địa chất và khoáng sản đã được Quốc hội thông qua, theo đó có nhiều quy định nghiêm ngặt, nhằm quản lý tốt khoáng sản đặc biệt. Để cấp phép cho một dự án, phải có ý kiến của Thủ tướng thì Bộ Nông nghiệp và Môi trường mới được cấp phép.

Cũng theo ông Cường, đất hiếm là lĩnh vực mới, trong quá trình thăm dò, khai thác, cần nghiên cứu sâu về chuyên môn, mỗi cán bộ quản lý phải có hiểu biết, nâng cao năng lực chuyên môn. “Ở địa bàn, Ủy ban nhân dân cấp xã trực tiếp quản lý, nên phải nâng cao năng lực quản lý để bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm vụ. Thời gian qua, chúng tôi đã có nhiều văn bản hướng dẫn địa phương về công tác quản lý khoáng sản, hoạt động khai thác mỏ”, ông Cường nhấn mạnh.

Qua rà soát, tỉnh Lào Cai hiện có hơn 200 đơn vị được cấp giấy phép khai thác khoáng sản nói chung và đã hết hạn. Trong đó hơn 170 mỏ đã hoàn thành đóng cửa và hoàn nguyên, cải tạo mặt bằng, trồng cây, cắt tầng đối với mỏ lộ thiên. Tuy nhiên vẫn tồn tại các trường hợp doanh nghiệp bị giải thể, không còn đối tượng chịu trách nhiệm, chưa bảo đảm các yếu tố bảo vệ môi trường. Nhà nước hiện đang tổ chức thực hiện hoàn nguyên bằng nguồn kinh phí ký quỹ trước đây, cũng như sử dụng ngân sách.

Bên cạnh vấn đề phí phạm tài nguyên đặc biệt, gánh nặng này thật sự tạo nên tình trạng “lãng phí kép” ■

Đất hiếm là khoáng sản đặc biệt, cũng là vấn đề rất mới với cán bộ ở cơ sở. Do đó, cần hoàn thiện hành lang pháp lý đồng bộ, đầy đủ từ trung ương đến địa phương; nâng cao năng lực và đào tạo chuyên môn cho cán bộ địa phương, sở, ngành về lĩnh vực quản lý khoáng sản nói chung, đất hiếm nói riêng; xây dựng rõ quy chế phối hợp chặt chẽ giữa các sở, ngành và chính quyền các cấp, quy định rõ trách nhiệm từng cơ quan, tránh chồng chéo; đẩy mạnh nghiên cứu chuyên sâu”.

Ông Lưu Đức Cường,

Trưởng phòng Khoáng sản Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lào Cai

Có thể bạn quan tâm

Cán bộ kỹ thuật lấy mẫu cho quá trình nghiên cứu chiết tách. (Nguồn: Viện Công nghệ xạ hiếm)

Nền tảng của công nghiệp xanh

Trong bối cảnh toàn cầu hóa cũng như cam kết lịch sử đưa mức phát thải ròng về “0”, đất hiếm nổi lên như một nhóm vật liệu chiến lược mang tính quyết định, không thể thay thế.

Ông Trần Bình Trọng, Cục trưởng Địa chất và Khoáng sản Việt Nam - Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Chế biến sâu và nâng tầm công nghệ

Chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần, ông Trần Bình Trọng, Cục trưởng Địa chất và Khoáng sản Việt Nam - Bộ Nông nghiệp và Môi trường, chia sẻ: Trong quá trình cấp phép đầu tư, khai thác đất hiếm phải bảo đảm không chỉ dừng ở khai thác thô mà luôn gắn với chế biến sâu và chuyển giao, nâng tầm công nghệ.

Nếu không được kiểm soát, gánh nặng môi trường do khai thác khoáng sản có thể đè nặng lên vai của cộng đồng dân cư. (Ảnh Hoàng Tuân)

Gia cố “màng lọc” bảo vệ môi trường

Việc tồn tại nhiều điểm khai thác khoáng sản thiếu bền vững, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi sinh đòi hỏi công tác quản lý phải xem xét nghiêm túc, từ đó tìm ra giải pháp phù hợp trong khai thác, tách chế đất hiếm.

Một dự án khai thác đất hiếm tại bang Alaska (Mỹ).

Điều quan trọng nhất không phải là trữ lượng

Sở hữu tiềm năng đất hiếm đứng thứ hai thế giới, Việt Nam đang nắm trong tay một lợi thế địa kinh tế quan trọng. Tuy nhiên, khoảng cách từ trữ lượng dưới lòng đất đến một ngành công nghiệp mang lại giá trị thực tiễn là một chặng đường dài.

Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên và ông Kim Jung Kwan, Bộ trưởng Thương mại, Công nghiệp và Năng lượng Hàn Quốc (MOTIE).

Tận dụng lợi thế chuỗi cung ứng

Với tiềm năng sẵn có, Việt Nam không chỉ cần khai thác đất hiếm một cách thông minh, mà còn cần xây dựng chuỗi cung ứng minh bạch, tận dụng được các lợi thế về tài nguyên.

Mô hình dự án đường sắt tốc độ cao Hà Nội- Quảng Ninh, với tổng mức đầu tư hơn 5,6 tỷ USD vừa chính thức khởi công tại Quảng Ninh. Ảnh có sử dụng đồ họa AI

ĐỘT PHÁ VỀ KẾT NỐI HẠ TẦNG CHIẾN LƯỢC

Trong bối cảnh thế giới đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông bền vững và hiện đại, đường sắt tốc độ cao không chỉ là biểu tượng của năng lực công nghệ, khả năng tổ chức mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược quốc gia.

Trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, nhiều nghệ sĩ trẻ cùng ekip đã chủ động có các đàm phán đa tầng trong chuyển quyền sử dụng có điều kiện, nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi của mình. Ảnh minh họa: KHIẾU MINH

Lấp đầy những khoảng trống ý thức

Bên cạnh Luật Sở hữu trí tuệ, được ban hành lần đầu vào cuối năm 2005, có hiệu lực từ ngày 1/7/2006 và đến nay, đã qua nhiều lần sửa đổi để phù hợp với diễn tiến của xã hội, Việt Nam hiện có một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật khá đầy đủ liên quan việc bảo vệ quyền tác giả và các quyền liên quan quyền tác giả.

Khoảng cách công nghệ giữa đường sắt hiện hữu và đường sắt tốc độ cao là rất lớn, vì vậy Việt Nam cần chuẩn bị tốt việc đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu tiến tới làm chủ công nghệ. Nguồn VNR

Định hình mạng lưới vận tải quốc gia

Trong bối cảnh thế giới đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông bền vững và hiện đại, đường sắt tốc độ cao không chỉ là biểu tượng của năng lực công nghệ, khả năng tổ chức và tầm nhìn chiến lược quốc gia.

Lớp học nâng cao trình độ về đường sắt tốc độ cao ngành Thi công và Bảo dưỡng công trình.

Mở rộng hợp tác trong đào tạo nguồn nhân lực mới

Một nhiệm vụ mang tính chiến lược, đóng vai trò then chốt trong xây dựng và vận hành đường sắt tốc độ cao, là phải đi trước một bước để đào tạo nguồn nhân lực có đủ năng lực, trình độ tiếp nhận, vận hành, khai thác, bảo trì và từng bước làm chủ các công nghệ tiên tiến, hiện đại đang được áp dụng với đường sắt tốc độ cao.

Ông Nguyễn Quốc Vượng, Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Đường sắt Việt Nam (VNR).

Bài toán về tầm nhìn và khả năng làm chủ công nghệ

Được xác định là lĩnh vực ưu tiên chiến lược, hợp tác phát triển đường sắt, nhất là đường sắt tốc độ cao, của Việt Nam không chỉ là câu chuyện của một công trình hạ tầng, mà là bài toán lớn đặt ra yêu cầu làm chủ công nghệ, đào tạo nhân lực và năng lực nội sinh.

Hành khách xếp hàng lên chuyến tàu G8389 tại nhà ga ở thành phố Nam Kinh (Trung Quốc). (Ảnh Tân Hoa xã)

Kinh nghiệm của Trung Quốc - Quốc gia “đi sau, về trước”

Không chỉ hiện thực hóa được mục tiêu “đi sau, về trước”, nhờ có sự đầu tư bài bản, mà hiện Trung Quốc còn đang “dẫn đầu thế giới” trong phát triển hệ thống đường sắt tốc độ cao. Đây là thành công góp phần quan trọng vào những kỳ tích tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội ở quốc gia này.

Khi Luật Sở hữu trí tuệ và quyền hình ảnh của người sáng tạo được thực thi đầy đủ, các tác giả làm việc trong nhiều lĩnh vực nghệ thuật mới ở Việt Nam sẽ tích cực chủ động tham gia đăng ký bản quyền tác giả hơn nữa. (Trong ảnh: Vở múa đương đại Nón của biên đạo Vũ Ngọc Khải. Ảnh Đại Ngô)

Chuyển dịch tư duy về sở hữu trí tuệ

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam (Nghị quyết 80) đặt mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp 7% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) vào năm 2030 và trở thành trụ cột kinh tế với 9% GDP vào năm 2045.

Bà Phạm Thị Kim Oanh.

Đồng hành để hỗ trợ giới sáng tạo một cách tốt nhất

Nhân Dân cuối tuần có cuộc trao đổi với bà Phạm Thị Kim Oanh, Phó Cục trưởng Bản quyền tác giả, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, về những nỗ lực của cơ quan quản lý nhà nước trong việc đồng hành, khuyến khích các tổ chức, cá nhân chủ động nâng cao hơn nữa ý thức về bảo vệ quyền tác giả và các quyền liên quan quyền tác giả.

Đồi chè Mộc Châu. (Ảnh Huỳnh Văn Truyền)

Chủ động mở những lối đi

Nhiếp ảnh là một trong những lĩnh vực sáng tác mà việc vi phạm bản quyền xảy ra khá thường xuyên, ở nhiều phương thức, cấp độ khác nhau.

Ngành công nghệ cần đặt an toàn của trẻ em vào khâu thiết kế sản phẩm, thay vì coi đó là phần việc xử lý sau cùng. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Đồng hành để bảo vệ

Internet từ lâu đã trở thành một phần tất yếu của cuộc sống, kể cả với trẻ em. Tuy nhiên, mức độ hiện diện cao ấy không đồng nghĩa với việc thế hệ trẻ có đủ năng lực để tự bảo vệ mình.

Trung ương Đoàn luôn chủ động tạo ra các không gian cởi mở để kịp thời lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của trẻ em.

Lắng nghe đúng, hành động trúng

Trong thời đại kỷ nguyên số, không gian mạng không còn là một công cụ hỗ trợ, mà đã trở thành một môi trường sống song hành với đời sống của trẻ em.

Chiến dịch Không một mình, nằm trong chuỗi các hành động nhằm thực hiện Công ước Hà Nội, hướng tới đồng hành với giới trẻ trong phòng, chống bắt cóc online. Ảnh: Hiệp hội An ninh mạng

Nhật ký một ngày online

LTS - Không phải những con số thống kê khô khan, cũng không phải góc nhìn của người lớn, ký sự này được thực hiện bởi chính những “người trong cuộc” - nhóm phóng viên nhí của Tòa soạn Tiếng Xanh (hoạt động dưới sự hướng dẫn của UNICEF Việt Nam).

Thay vì ngăn chặn, Việt Nam đang hướng đến những giải pháp thân thiện, cùng đồng hành với trẻ trên không gian mạng. Trong ảnh: Trích từ cẩm nang “Tự tin chinh phục Vương quốc Social” của Toà soạn Tiếng Xanh.

Từ chính sách đến từng gia đình

Không gian mạng hôm nay đã là một phần của tuổi thơ Việt Nam. Vì thế, bài toán không còn là “có nên cho trẻ dùng mạng xã hội hay không”, mà là làm sao để trẻ em Việt Nam được lớn lên trong một môi trường số an toàn hơn, lành mạnh hơn và công bằng hơn.

Lần đầu tiên trong lịch sử quy hoạch đô thị Việt Nam, Thủ đô Hà Nội được Trung ương giao quyền lập đồ án Quy hoạch, phù hợp việc tổ chức lại địa giới hành chính, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp. Ảnh Thành Đạt

Thách thức trong bước chuyển tư duy

Lời tòa soạn - Theo Quy hoạch Tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm, thành phố sẽ phát triển với cấu trúc đô thị “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm”, điểm nhấn xuyên suốt là văn hiến, văn minh, hiện đại, hạnh phúc, trong đó yếu tố “hạnh phúc” được đặt ở vị trí trung tâm.

Hà Nội định hình cấu trúc đô thị theo không gian phát triển mở “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm”. (Ảnh KHIẾU MINH)

Không để quy hoạch chỉ dừng ở bản vẽ

Quy hoạch Tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm (Quy hoạch) đã được Hội đồng nhân dân thành phố thông qua. Quy hoạch cho thấy tầm chiến lược, có các phân kỳ, giai đoạn thực hiện, nhưng cũng cần giải quyết những khó khăn, thách thức để đi vào đời sống.

Ông Trịnh Quang Dũng, Trưởng phòng Quản lý hoạt động quy hoạch, kiến trúc đô thị, Sở Quy hoạch-Kiến trúc Hà Nội.

Đúc rút bài học thực tiễn, kiến tạo phát triển bền vững

Ông Trịnh Quang Dũng, Trưởng phòng Quản lý hoạt động quy hoạch, kiến trúc đô thị, Sở Quy hoạch-Kiến trúc Hà Nội chia sẻ: Để kiến tạo một Thủ đô phát triển bền vững xuyên thế kỷ, cơ quan chuyên môn không né tránh mà đi sâu nghiên cứu, bắt đúng bệnh...