Điều quan trọng nhất không phải là trữ lượng

Sở hữu tiềm năng đất hiếm đứng thứ hai thế giới, Việt Nam đang nắm trong tay một lợi thế địa kinh tế quan trọng. Tuy nhiên, khoảng cách từ trữ lượng dưới lòng đất đến một ngành công nghiệp mang lại giá trị thực tiễn là một chặng đường dài.

Một dự án khai thác đất hiếm tại bang Alaska (Mỹ).
Một dự án khai thác đất hiếm tại bang Alaska (Mỹ).

Quyền lực trong quy trình chế biến

Thực tiễn phát triển công nghiệp khai khoáng trên thế giới đã chỉ ra một hệ quả tất yếu: Việc định hướng kinh tế dựa chủ yếu vào xuất khẩu tài nguyên thô không mang lại sự phát triển bền vững. Các quốc gia duy trì mô hình này thường phải đối mặt với những rủi ro kép. Một mặt, khối lượng khoáng sản dự trữ bị suy kiệt nhanh chóng kéo theo những tổn thất nặng nề, lâu dài về môi trường sinh thái; mặt khác, lợi ích kinh tế thu về lại vô cùng khiêm tốn do bị “đóng khung” ở nấc thang có giá trị gia tăng thấp nhất trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Trong ngành công nghiệp đất hiếm, quy luật này càng thể hiện rõ nét. Kinh nghiệm từ các quốc gia phát triển cho thấy, quyền lực thật sự trong chuỗi cung ứng không hoàn toàn phụ thuộc vào việc bạn có bao nhiêu mỏ quặng, mà phụ thuộc vào việc bạn làm chủ được khâu nào trong quy trình chế biến.

Điển hình như Nhật Bản và Hàn Quốc, dù không sở hữu mỏ đất hiếm đáng kể nào trên lãnh thổ, nhưng họ lại là những cường quốc công nghiệp hàng đầu thế giới về sản xuất vật liệu tiên tiến và linh kiện điện tử từ đất hiếm. Nhật Bản đã đầu tư mạnh mẽ vào năng lực tinh chế nguyên tố độ sạch cao, nghiên cứu vật liệu, xây dựng hệ thống công nghệ luyện kim, sản xuất nam châm siêu cường và nhất là công nghệ tái chế đất hiếm từ rác thải điện tử. Gần đây, Nhật Bản nỗ lực khai thác đất hiếm tại một số hòn đảo, nhằm giảm phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu. Tuy nhiên, các nhà hoạt động môi trường cảnh báo: Khai thác khoáng sản biển sâu sẽ đe dọa hệ sinh thái và làm xáo trộn đáy biển.

Tại Hàn Quốc, Chính phủ chỉ định tất cả 17 loại vật liệu đất hiếm đã được khoa học xác định là khoáng sản quan trọng về mặt chiến lược, cần sự kiểm soát chặt chẽ để bảo đảm an ninh tài nguyên quốc gia. Biện pháp này như một phần của kế hoạch toàn diện nhằm tăng cường an ninh đối với các tài nguyên đóng vai trò quan trọng đối với các ngành công nghiệp tiên tiến, trong bối cảnh rủi ro địa chính trị vẫn tiếp diễn và cạnh tranh toàn cầu ngày càng gia tăng.

Hay như tại Mỹ, quốc gia từng là nhà sản xuất đất hiếm lớn nhất thế giới ở thế kỷ trước. Nhận thức được rủi ro khi chỉ khai thác quặng thô tại mỏ Mountain Pass rồi xuất khẩu sang nước khác để tinh chế, Mỹ hiện đang phải chi hàng tỷ USD để thiết lập lại các cơ sở tinh chế oxit đất hiếm và nhà máy sản xuất nam châm ngay tại nội địa, nhằm tái
thiết lập chuỗi cung ứng độc lập.

Bài học rút ra cho Việt Nam rất rõ ràng: Quặng đất hiếm mới chỉ là điểm khởi đầu. Việc hoạch định chiến lược không thể chỉ xoay quanh bài toán cấp phép khai thác, mà phải là bài toán xây dựng chuỗi giá trị.

Hiện nay, nền khoa học trong nước từng bước tiếp cận và giải quyết được các công đoạn cơ bản trong quy trình tuyển khoáng, thủy luyện và tiến tới làm chủ công nghệ chiết tách quy mô thử nghiệm, chúng ta sẽ tạo ra một nền tảng đối thoại bình đẳng hơn với các đối tác quốc tế.

Xây dựng hệ sinh thái công nghiệp nội địa

Tại Việt Nam, đất hiếm phân bố chủ yếu ở khu vực Tây Bắc, nơi có điều kiện địa chất thuận lợi. Các mỏ quặng đất hiếm gốc tập trung ở Lai Châu, Lào Cai được đánh giá có trữ lượng lớn nhất cả nước và đủ điều kiện khai thác quy mô công nghiệp. Theo Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, Việt Nam đặt mục tiêu khai thác hơn hai triệu tấn quặng đất hiếm mỗi năm, tập trung đầu tư vào hai mỏ Yên Phú (Yên Bái) và Đông Pao (Lai Châu). Đến năm 2030, sản lượng dự tính đạt khoảng 2,1 triệu tấn/năm, hướng tới xuất khẩu và từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng đất hiếm toàn cầu.

Lúc này, Việt Nam có thể sử dụng nguồn nguyên liệu đã được chế biến đạt chuẩn (tổng oxit đất hiếm và các oxit đất hiếm riêng rẽ độ sạch cao) làm lợi thế cạnh tranh để thu hút đầu tư nước ngoài (FDI). Mục tiêu là mời gọi các đối tác sở hữu công nghệ cao từ Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc... đến Việt Nam để cùng thiết lập các liên doanh sản xuất. Ngoài xuất khẩu đất hiếm, Chính phủ có thể thiết kế các chính sách ưu đãi nhằm thu hút các tập đoàn này xây dựng nhà máy sản xuất linh kiện, nhà máy sản xuất nam châm vĩnh cửu, và cụm công nghiệp lắp ráp động cơ xe điện (EV) hoặc thiết bị điện gió ngay tại Việt Nam. Đây chính là mô hình “Hệ sinh thái công nghiệp đất hiếm nội địa”

Khi một hệ sinh thái khép kín được hình thành, các doanh nghiệp công nghệ cao của thế giới sẽ đóng vai trò dẫn dắt, trong khi các doanh nghiệp phụ trợ của Việt Nam có cơ hội tham gia các mắt xích phù hợp, từng bước nâng cao trình độ quản lý và kỹ thuật công nghiệp.

Ở các tỉnh miền núi có trữ lượng đất hiếm lớn như Lai Châu, Lào Cai... bài toán quản lý tài nguyên và sinh kế của người dân luôn là một thách thức. Khi các dự án tổ hợp khai thác và chế biến sâu công nghệ cao được cấp phép đầu tư, diện mạo kinh tế địa phương sẽ thay đổi căn bản. Quá trình này sẽ hình thành các khu công nghiệp hiện đại, kéo theo sự phát triển của hệ thống hạ tầng giao thông, điện lưới và logistics.

Quan trọng nhất, khi dự án công nghệ cao được đầu tư, sẽ tạo ra hàng nghìn việc làm chính thức, ổn định cho người dân địa phương. Thay vì tham gia các hoạt động khai thác thủ công nhiều rủi ro, manh mún, họ sẽ được đào tạo nghề để trở thành công nhân kỹ thuật, kỹ thuật viên làm việc trong các nhà máy có điều kiện an toàn ■

Việc “đánh thức” kho tàng đất hiếm đòi hỏi một tầm nhìn chiến lược dựa trên học hỏi kinh nghiệm quốc tế, và đặt nền tảng khoa học công nghệ làm trọng tâm.

Có thể bạn quan tâm

Cán bộ kỹ thuật lấy mẫu cho quá trình nghiên cứu chiết tách. (Nguồn: Viện Công nghệ xạ hiếm)

Nền tảng của công nghiệp xanh

Trong bối cảnh toàn cầu hóa cũng như cam kết lịch sử đưa mức phát thải ròng về “0”, đất hiếm nổi lên như một nhóm vật liệu chiến lược mang tính quyết định, không thể thay thế.

Ông Trần Bình Trọng, Cục trưởng Địa chất và Khoáng sản Việt Nam - Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Chế biến sâu và nâng tầm công nghệ

Chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần, ông Trần Bình Trọng, Cục trưởng Địa chất và Khoáng sản Việt Nam - Bộ Nông nghiệp và Môi trường, chia sẻ: Trong quá trình cấp phép đầu tư, khai thác đất hiếm phải bảo đảm không chỉ dừng ở khai thác thô mà luôn gắn với chế biến sâu và chuyển giao, nâng tầm công nghệ.

Nếu không được kiểm soát, gánh nặng môi trường do khai thác khoáng sản có thể đè nặng lên vai của cộng đồng dân cư. (Ảnh Hoàng Tuân)

Gia cố “màng lọc” bảo vệ môi trường

Việc tồn tại nhiều điểm khai thác khoáng sản thiếu bền vững, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi sinh đòi hỏi công tác quản lý phải xem xét nghiêm túc, từ đó tìm ra giải pháp phù hợp trong khai thác, tách chế đất hiếm.

Ông Phạm Hùng Cát (trái) chia sẻ nỗi lo lắng khi môi trường bị đe dọa. (Ảnh NAM NGUYỄN)

Bài toán lãng phí kép từ một vụ vi phạm

Từng là một công trường khai thác sôi động, nhưng hiện giờ, khu mỏ đất hiếm thuộc thôn Yên Sơn, xã Xuân Ái (tỉnh Lào Cai) trở nên im lìm. Nhà xưởng bị bỏ hoang, máy móc hoen gỉ, tồn tại nguy cơ đe dọa môi trường nước trong khu vực.

Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên và ông Kim Jung Kwan, Bộ trưởng Thương mại, Công nghiệp và Năng lượng Hàn Quốc (MOTIE).

Tận dụng lợi thế chuỗi cung ứng

Với tiềm năng sẵn có, Việt Nam không chỉ cần khai thác đất hiếm một cách thông minh, mà còn cần xây dựng chuỗi cung ứng minh bạch, tận dụng được các lợi thế về tài nguyên.

Mô hình dự án đường sắt tốc độ cao Hà Nội- Quảng Ninh, với tổng mức đầu tư hơn 5,6 tỷ USD vừa chính thức khởi công tại Quảng Ninh. Ảnh có sử dụng đồ họa AI

ĐỘT PHÁ VỀ KẾT NỐI HẠ TẦNG CHIẾN LƯỢC

Trong bối cảnh thế giới đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông bền vững và hiện đại, đường sắt tốc độ cao không chỉ là biểu tượng của năng lực công nghệ, khả năng tổ chức mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược quốc gia.

Trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, nhiều nghệ sĩ trẻ cùng ekip đã chủ động có các đàm phán đa tầng trong chuyển quyền sử dụng có điều kiện, nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi của mình. Ảnh minh họa: KHIẾU MINH

Lấp đầy những khoảng trống ý thức

Bên cạnh Luật Sở hữu trí tuệ, được ban hành lần đầu vào cuối năm 2005, có hiệu lực từ ngày 1/7/2006 và đến nay, đã qua nhiều lần sửa đổi để phù hợp với diễn tiến của xã hội, Việt Nam hiện có một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật khá đầy đủ liên quan việc bảo vệ quyền tác giả và các quyền liên quan quyền tác giả.

Khoảng cách công nghệ giữa đường sắt hiện hữu và đường sắt tốc độ cao là rất lớn, vì vậy Việt Nam cần chuẩn bị tốt việc đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu tiến tới làm chủ công nghệ. Nguồn VNR

Định hình mạng lưới vận tải quốc gia

Trong bối cảnh thế giới đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông bền vững và hiện đại, đường sắt tốc độ cao không chỉ là biểu tượng của năng lực công nghệ, khả năng tổ chức và tầm nhìn chiến lược quốc gia.

Lớp học nâng cao trình độ về đường sắt tốc độ cao ngành Thi công và Bảo dưỡng công trình.

Mở rộng hợp tác trong đào tạo nguồn nhân lực mới

Một nhiệm vụ mang tính chiến lược, đóng vai trò then chốt trong xây dựng và vận hành đường sắt tốc độ cao, là phải đi trước một bước để đào tạo nguồn nhân lực có đủ năng lực, trình độ tiếp nhận, vận hành, khai thác, bảo trì và từng bước làm chủ các công nghệ tiên tiến, hiện đại đang được áp dụng với đường sắt tốc độ cao.

Ông Nguyễn Quốc Vượng, Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Đường sắt Việt Nam (VNR).

Bài toán về tầm nhìn và khả năng làm chủ công nghệ

Được xác định là lĩnh vực ưu tiên chiến lược, hợp tác phát triển đường sắt, nhất là đường sắt tốc độ cao, của Việt Nam không chỉ là câu chuyện của một công trình hạ tầng, mà là bài toán lớn đặt ra yêu cầu làm chủ công nghệ, đào tạo nhân lực và năng lực nội sinh.

Hành khách xếp hàng lên chuyến tàu G8389 tại nhà ga ở thành phố Nam Kinh (Trung Quốc). (Ảnh Tân Hoa xã)

Kinh nghiệm của Trung Quốc - Quốc gia “đi sau, về trước”

Không chỉ hiện thực hóa được mục tiêu “đi sau, về trước”, nhờ có sự đầu tư bài bản, mà hiện Trung Quốc còn đang “dẫn đầu thế giới” trong phát triển hệ thống đường sắt tốc độ cao. Đây là thành công góp phần quan trọng vào những kỳ tích tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội ở quốc gia này.

Khi Luật Sở hữu trí tuệ và quyền hình ảnh của người sáng tạo được thực thi đầy đủ, các tác giả làm việc trong nhiều lĩnh vực nghệ thuật mới ở Việt Nam sẽ tích cực chủ động tham gia đăng ký bản quyền tác giả hơn nữa. (Trong ảnh: Vở múa đương đại Nón của biên đạo Vũ Ngọc Khải. Ảnh Đại Ngô)

Chuyển dịch tư duy về sở hữu trí tuệ

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam (Nghị quyết 80) đặt mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp 7% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) vào năm 2030 và trở thành trụ cột kinh tế với 9% GDP vào năm 2045.

Bà Phạm Thị Kim Oanh.

Đồng hành để hỗ trợ giới sáng tạo một cách tốt nhất

Nhân Dân cuối tuần có cuộc trao đổi với bà Phạm Thị Kim Oanh, Phó Cục trưởng Bản quyền tác giả, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, về những nỗ lực của cơ quan quản lý nhà nước trong việc đồng hành, khuyến khích các tổ chức, cá nhân chủ động nâng cao hơn nữa ý thức về bảo vệ quyền tác giả và các quyền liên quan quyền tác giả.

Đồi chè Mộc Châu. (Ảnh Huỳnh Văn Truyền)

Chủ động mở những lối đi

Nhiếp ảnh là một trong những lĩnh vực sáng tác mà việc vi phạm bản quyền xảy ra khá thường xuyên, ở nhiều phương thức, cấp độ khác nhau.

Ngành công nghệ cần đặt an toàn của trẻ em vào khâu thiết kế sản phẩm, thay vì coi đó là phần việc xử lý sau cùng. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Đồng hành để bảo vệ

Internet từ lâu đã trở thành một phần tất yếu của cuộc sống, kể cả với trẻ em. Tuy nhiên, mức độ hiện diện cao ấy không đồng nghĩa với việc thế hệ trẻ có đủ năng lực để tự bảo vệ mình.

Trung ương Đoàn luôn chủ động tạo ra các không gian cởi mở để kịp thời lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của trẻ em.

Lắng nghe đúng, hành động trúng

Trong thời đại kỷ nguyên số, không gian mạng không còn là một công cụ hỗ trợ, mà đã trở thành một môi trường sống song hành với đời sống của trẻ em.

Chiến dịch Không một mình, nằm trong chuỗi các hành động nhằm thực hiện Công ước Hà Nội, hướng tới đồng hành với giới trẻ trong phòng, chống bắt cóc online. Ảnh: Hiệp hội An ninh mạng

Nhật ký một ngày online

LTS - Không phải những con số thống kê khô khan, cũng không phải góc nhìn của người lớn, ký sự này được thực hiện bởi chính những “người trong cuộc” - nhóm phóng viên nhí của Tòa soạn Tiếng Xanh (hoạt động dưới sự hướng dẫn của UNICEF Việt Nam).

Thay vì ngăn chặn, Việt Nam đang hướng đến những giải pháp thân thiện, cùng đồng hành với trẻ trên không gian mạng. Trong ảnh: Trích từ cẩm nang “Tự tin chinh phục Vương quốc Social” của Toà soạn Tiếng Xanh.

Từ chính sách đến từng gia đình

Không gian mạng hôm nay đã là một phần của tuổi thơ Việt Nam. Vì thế, bài toán không còn là “có nên cho trẻ dùng mạng xã hội hay không”, mà là làm sao để trẻ em Việt Nam được lớn lên trong một môi trường số an toàn hơn, lành mạnh hơn và công bằng hơn.

Lần đầu tiên trong lịch sử quy hoạch đô thị Việt Nam, Thủ đô Hà Nội được Trung ương giao quyền lập đồ án Quy hoạch, phù hợp việc tổ chức lại địa giới hành chính, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp. Ảnh Thành Đạt

Thách thức trong bước chuyển tư duy

Lời tòa soạn - Theo Quy hoạch Tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm, thành phố sẽ phát triển với cấu trúc đô thị “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm”, điểm nhấn xuyên suốt là văn hiến, văn minh, hiện đại, hạnh phúc, trong đó yếu tố “hạnh phúc” được đặt ở vị trí trung tâm.

Hà Nội định hình cấu trúc đô thị theo không gian phát triển mở “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm”. (Ảnh KHIẾU MINH)

Không để quy hoạch chỉ dừng ở bản vẽ

Quy hoạch Tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm (Quy hoạch) đã được Hội đồng nhân dân thành phố thông qua. Quy hoạch cho thấy tầm chiến lược, có các phân kỳ, giai đoạn thực hiện, nhưng cũng cần giải quyết những khó khăn, thách thức để đi vào đời sống.

Ông Trịnh Quang Dũng, Trưởng phòng Quản lý hoạt động quy hoạch, kiến trúc đô thị, Sở Quy hoạch-Kiến trúc Hà Nội.

Đúc rút bài học thực tiễn, kiến tạo phát triển bền vững

Ông Trịnh Quang Dũng, Trưởng phòng Quản lý hoạt động quy hoạch, kiến trúc đô thị, Sở Quy hoạch-Kiến trúc Hà Nội chia sẻ: Để kiến tạo một Thủ đô phát triển bền vững xuyên thế kỷ, cơ quan chuyên môn không né tránh mà đi sâu nghiên cứu, bắt đúng bệnh...