Quản lý di tích và lễ hội đền Đô (*)

LTS - Việc quản lý và tổ chức lễ hội làm sao để phát huy tốt các giá trị di sản, đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của người dân, phù hợp chuẩn mực văn hóa trong bối cảnh đương đại là những vấn đề đang được dư luận và cơ quan quản lý đặc biệt quan tâm. Xin trích giới thiệu tham luận của tiến sĩ chuyên ngành quản lý văn hóa Nguyễn Thị Thu Hường tại Hội thảo khoa học quốc tế “Nghệ thuật và văn hóa thời Lý ở Việt Nam” (tháng 2-2017).

Màn trống khai hội đền Đô (huyện Từ Sơn, Bắc Ninh) năm 2016.
Màn trống khai hội đền Đô (huyện Từ Sơn, Bắc Ninh) năm 2016.

Đền Đô, còn gọi là Cổ Pháp điện hay đền Lý Bát Đế, nguyên là Thái miếu nhà Lý do Lý Thái Tổ khởi dựng vào thế kỷ 11 trên một khu đất cao, rộng, bề thế ở phía đông nam hương Cổ Pháp, nay là làng Đình Bảng (năm 2008 đã chuyển thành phường Đình Bảng thuộc thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh).

Di tích đền Đô đã bị phá hủy hoàn toàn trong kháng chiến chống thực dân Pháp (năm 1952) đến năm 1989, người dân Đình Bảng đã phục dựng trên nền đền cũ, để đáp ứng nhu cầu thờ cúng của người dân với các vị vua nhà Lý. Việc phục dựng các di tích như đền Đô được người dân tiến hành trên cơ sở cố gắng phục dựng như cũ, dựa theo những dấu tích kiến trúc còn lại như nền móng, tấm bia cổ, các bản vẽ, ảnh chụp và ký ức của người dân. Đương nhiên, việc phục dựng này sẽ vi phạm về tính chân thực của di sản. Ở đền Đô, người ta còn xây dựng nhà truyền thống để trưng bày các bức ảnh, sách vở, tài liệu về đền Đô, nhằm giới thiệu cho du khách đến tham quan, điều mà trước đây chưa có.

Đền Đô từ khi được xây dựng lại, đã thu hút ngày càng đông đảo người dân sở tại và quanh vùng đến tham gia lễ hội, cúng lễ, tham quan hằng ngày. Rõ ràng là, nếu theo các quan điểm truyền thống cho rằng độ chân thực là cốt lõi của di sản thì ở đây không phải như vậy. Nhưng nếu theo quan điểm quản lý di sản, không quá đề cao vai trò của tính chân thực và nhận diện từ những gì đã và đang diễn ra đối với thực tế ở đền Đô, có thể xác nhận: Chân thực hay không, không phải là giá trị khách quan mà nó được đo bằng trải nghiệm của cá nhân và cộng đồng, được các cá nhân và cộng đồng đồng thuận, tin theo. Và như thế di sản là quá trình sáng tạo văn hóa trong những môi trường vận động xã hội thực tại. Theo quan điểm quản lý di sản mới thì các hạng mục phụ trợ như nhà khách, nhà trưng bày hiện vật, hoặc tôn cao nền... cũng nên cho phép cộng đồng được tu sửa, miễn sao vẫn theo kiến trúc truyền thống về kiểu dáng, chất liệu xây dựng và phù hợp với cảnh quan chung của di tích. Mặt khác, việc xây dựng những hạng mục phụ trợ nêu trên vừa bảo đảm cho nhu cầu hiện tại, vừa là cách ghi dấu lại một thời đại cho các thế hệ tương lai.

Gắn với di tích vật thể bề thế trang nghiêm ấy là một lễ hội mang tầm vóc liên làng, được ra đời từ lâu, để tưởng niệm ngày Lý Thái Tổ đăng quang lên ngôi Hoàng đế. Thời gian tổ chức lễ hội xưa được tổ chức trong bốn ngày từ 14 đến 17 tháng 3 Âm lịch hằng năm. Tuy nhiên, lễ hội đền Đô hiện nay đã có một số điểm thay đổi so với truyền thống: thời gian mở hội nay chỉ còn ba ngày từ 14 đến 16 tháng 3 Âm lịch, chính hội là ngày 15; không còn tục thui trâu, không rước đủ tám kiệu như xưa, việc bầu chọn quan đám (chủ tế) xưa do các giáp trưởng cân nhắc nay do nhân dân trong phường bầu chọn; xưa giáp trưởng phải lo việc cho giáp, cho thôn trong khi làng mở hội thì nay do người đứng đầu tổ chức MTTQ và Hội Người cao tuổi phụ trách. Xưa, chi phí cho tổ chức lễ hội dựa vào một phần hoa lợi thu từ ruộng được chia cho các giáp, cấy lúa; nay mọi chi phí để tổ chức lễ hội do người dân đóng góp. Phần hội ngoài các sinh hoạt và trò chơi truyền thống còn có các trò chơi hiện đại như: cầu lông, thể dục dưỡng sinh. Công tác tổ chức lễ hội hiện nay cũng được tổ chức ngắn gọn, không quá tốn kém nhưng vẫn giữ được các nghi lễ truyền thống.

Hiện, ban tổ chức lễ hội được thành lập với số thành viên khoảng 50 người. Việc bầu ban tổ chức lễ hội do phường, thị xã hoặc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh phụ trách tùy vào tính chất lễ hội các năm. Thông thường, Chủ tịch UBND phường sẽ là Trưởng ban tổ chức lễ hội. Ban tổ chức phối hợp ban quản lý di tích để tổ chức lễ hội. Hoạt động quan trọng nhất trong lễ hội là rước kiệu. Việc tổ chức các đoàn rước do ban tổ chức lễ hội phân về cho các khu phố, dưới sự tư vấn của ban quản lý di tích. Hiện, phường Đình Bảng có 16 khu phố, các khu phố lớn thì mỗi khu phố phụ trách một kiệu, khu phố nhỏ thì ghép hai khu lo một kiệu. Công việc tổ chức lễ hội đã được các khu phố đảm nhiệm nhiều năm, có kinh nghiệm cho nên ban tổ chức lễ hội chỉ phân công xuống cho trưởng các khu phố, trưởng khu phố sẽ phụ trách chọn người, luyện tập. Gần đến ngày hội, các khu phố tập hợp lại và duyệt thử một lần sau đó bước vào hội rước chính thức. Các trưởng khu phố được yêu cầu đi cùng đoàn rước để lãnh đạo đoàn rước của khu phố mình hiệu quả.

Lễ hội đền Đô có thể được coi như một bảo tàng sống về đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân Đình Bảng - nơi tích tụ nhiều phong tục tín ngưỡng văn hóa nghệ thuật và sự kiện lịch sử quan trọng của dân tộc. Dưới góc độ quan điểm quản lý di sản, mọi sự tồn tại của di sản văn hóa cùng quá trình quản lý phải có mục đích, tạo ra những đóng góp tích cực cho sự phát triển xã hội và văn hóa nói chung. Quan điểm này khi soi chiếu vào lễ hội đền Đô cho thấy, mặc dù lễ hội đã có một số thay đổi như đã phân tích ở trên, nhưng suy cho cùng thì nó vẫn đáp ứng các nhu cầu tâm linh, tham quan, du lịch, giải trí và quan trọng là nhận được sự đồng thuận, tham gia tích cực của người dân Đình Bảng. Vì thế, sự kết hợp một cách tự nhiên, hài hòa giữa di sản văn hóa phi vật thể với di sản văn hóa vật thể, thông qua thực hành văn hóa và vai trò của cộng đồng, đã tạo ra “sức sống” cho di tích và lễ hội đền Đô trong xã hội đương đại.

Từ những trình bày nêu trên, chúng tôi cho rằng, việc quản lý, bảo vệ di tích lịch sử văn hóa và lễ hội đền Đô đã đi theo hướng của quan điểm quản lý di sản - nghĩa là đã làm cho di sản sống và phát huy được các giá trị của nó trong đời sống văn hóa - xã hội đương đại, phù hợp đời sống hiện tại, đồng thời cho thấy quá trình quản lý di sản văn hóa ở đền Đô luôn là quá trình tham gia văn hóa và xã hội, quá trình sáng tạo văn hóa của cộng đồng dân cư phường Đình Bảng - chủ thể của di sản văn hóa đền Đô hôm nay.

(*) Đầu đề là của Báo Nhân Dân.

Có thể bạn quan tâm

Thôn bản dân tộc Chứt ở xã Kim Điền, tỉnh Quảng Trị.

Hành trình tìm lại ký ức văn hóa

Dân tộc Chứt là một trong những cộng đồng có dân số rất ít ở Việt Nam, sống tập trung chủ yếu ở Quảng Trị, Hà Tĩnh. Trải qua những biến động lịch sử cùng quá trình giao lưu văn hóa kéo dài, nhiều giá trị truyền thống của người Chứt đã dần mai một, trong đó có trang phục.

Đồi mâm xôi (Lào Cai) thu hút đông đảo du khách vào mùa lúa chín.

Từ bản sắc vùng miền đến sinh kế cộng đồng

Thời gian qua, nhiều cộng đồng vùng cao lựa chọn khai thác những yếu tố cảnh quan thiên nhiên, nghề truyền thống, tập quán sinh hoạt... để xây dựng các sản phẩm du lịch và kể câu chuyện văn hóa của địa phương. 

Nghệ sĩ Nhân dân Trà Giang (bên trái) nhận sách "Những gì tôi thấy ở Việt Nam" từ Viện trưởng Viện Phim Việt Nam Lê Thị Hà và Ngài Đại sứ Azerbaijan tại Việt Nam.

Nghệ sĩ Nhân dân Trà Giang và những trang sách ký ức của người thầy

Hơn 60 năm trước, theo lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cố nhà văn, đạo diễn Ajdar Ibrahimov người Azerbaijan đã sang Việt Nam để gieo những hạt giống đầu tiên cho nền điện ảnh cách mạng. Mùa hạ năm nay, ông đã trở lại đất nước Việt Nam hằng yêu mến qua cuốn sách của mình cùng cuộc hội ngộ thiêng liêng tình thầy trò.

Triển lãm thu hút đông đảo công chúng thưởng lãm các tác phẩm hội họa. (Ảnh: Ban tổ chức)

Kết nối mỹ thuật Việt Nam-Trung Quốc qua triển lãm "Đồng nguồn sơn thủy-Cộng sinh văn minh”

Chiều 28/6, tại Trung tâm Triển lãm Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam (số 2 Hoa Lư, phường Hai Bà Trưng, Hà Nội), Hội Mỹ thuật Việt Nam phối hợp Học viện Nghệ thuật Quảng Tây (Trung Quốc) và Hội Xúc tiến Trường phái hội họa Ly Giang Quảng Tây khai mạc triển lãm “Đồng nguồn sơn thủy-Cộng sinh văn minh".

Hội thảo thu hút sự quan tâm của đông đảo giới chuyên gia nghiên cứu. (Ảnh: MINH DUY)

Đền Cơ Xá trong mạch nguồn văn hóa Thăng Long

Sáng 28/6, Trung tâm nghiên cứu và bảo tồn văn hóa tín ngưỡng Việt Nam đã phối hợp cùng Tiểu ban quản lý di tích đền Cơ Xá tổ chức hội thảo khoa học “Đền Cơ Xá và việc phụng thờ Thái úy Lý Thường Kiệt trong không gian văn hóa Thăng Long-Hà Nội xưa và nay”.

Nhà làm phim Bill Mechanic tại họp báo Liên hoan phim. (Ảnh: ANH VŨ)

Những vị khách đặc biệt của Liên hoan phim châu Á-Đà Nẵng

Liên hoan phim châu Á-Đà Nẵng (DANAFF) năm nay ghi dấu ấn sự hiện diện của nhiều khách mời là những ngôi sao điện ảnh, nhà làm phim, nhà sản xuất nổi tiếng thế giới, từ Hàn Quốc đến Hollywood, và cả những nghệ sĩ đại diện cho các thời kỳ điện ảnh Việt Nam.

Buổi họp báo thu hút đông đảo báo giới, nghệ sĩ, nhà làm phim. (Ảnh: ANH ĐÀO)

Vinh danh điện ảnh châu Á và Việt Nam

Liên hoan phim châu Á-Đà Nẵng là dịp vinh danh những tác phẩm điện ảnh châu Á và Việt Nam, đồng thời cũng tạo những cơ hội kết nối điện ảnh Việt Nam ra thế giới. Liên hoan phim chính thức khai mạc ngày 28/6 với rất nhiều hoạt động sôi nổi dành cho khán giả và giới chuyên môn. 

Lễ trao giải quy tụ sự tham gia của hàng trăm kiến trúc sư, nhà thiết kế, doanh nghiệp khách sạn-du lịch... đến từ gần 20 quốc gia, vùng lãnh thổ châu Á. (Ảnh: BAN TỔ CHỨC)

Tổ chức Giải thưởng châu Á vinh danh các dự án kiến trúc, du lịch xuất sắc

Tối 26/6, Lễ trao Giải thưởng Kiến trúc châu Á (Asia Architecture Design Awards - AADA) và Giải thưởng Du lịch, Lữ hành châu Á (Asia Hospitality Awards - AHA) 2026 diễn ra tại hang Ngọc Rồng, Quảng Ninh. Với nhiều đại diện được xướng tên, Việt Nam tiếp tục khẳng định dấu ấn của kiến trúc và du lịch trên bản đồ châu Á.

Đại tướng Nguyễn Trọng Nghĩa chụp ảnh lưu niệm cùng các nghệ sĩ.

Đại tướng Nguyễn Trọng Nghĩa chủ trì gặp mặt đại biểu văn nghệ sĩ khu vực phía nam

Chiều 26/6, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Tổng cục Chính trị tổ chức Chương trình Gặp mặt đại biểu văn nghệ sĩ khu vực phía nam năm 2026. Đại tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị chủ trì buổi gặp mặt.

Nghệ nhân Ưu tú Ngô Trí Minh truyền dạy dân ca ví, giặm cho các em nhỏ.

Gìn giữ, trao truyền tình yêu với âm nhạc dân tộc

Giữa dòng chảy của đời sống hiện đại khi người trẻ có nhiều lựa chọn về hình thức giải trí, việc gìn giữ và trao truyền giá trị của các loại hình âm nhạc truyền thống ngày càng trở thành một vấn đề cấp thiết. Từ đó, nhiều mô hình được triển khai để người trẻ tiếp cận và nuôi dưỡng tình yêu với thanh âm truyền thống.

Quang cảnh lễ khai mạc Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm lần thứ VI năm 2026 tổ chức tại tỉnh Khánh Hòa. (Ảnh: NGUYỄN TRUNG)

Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân dự khai mạc Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm lần thứ VI năm 2026 tại Khánh Hòa

Tối 26/6, tại sân khấu ở Quảng trường 16 tháng 4 (phường Đông Hải), Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm lần thứ VI năm 2026 do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa tổ chức, đã chính thức khai mạc. Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân dự và phát biểu chỉ đạo.