Chuyển biến từ thực tiễn
Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW về phát triển khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, nhiều bộ, ngành, địa phương, tổ chức, cá nhân đã chủ động lựa chọn các sản phẩm trọng tâm dựa trên lợi thế đặc thù của từng ngành, địa phương, khu vực. Thay vì chỉ tập trung vào nghiên cứu, nhiều mô hình đã hướng tới mục tiêu đưa thành quả khoa học đến thị trường tiêu thụ.
Đến trang trại An Lạc Farm của Hợp tác xã Hà Nội Xanh (xã Liên Minh, Hà Nội), những cánh đồng hoa hồng, sói, nhài, cúc... không chỉ cung cấp nguyên liệu thô mà còn trở thành đầu vào cho các sản phẩm tinh dầu, trà thảo mộc, mỹ phẩm thiên nhiên. Việc đầu tư công nghệ sấy, chiết xuất và đóng gói theo quy trình khép kín đã giúp nhiều loại nông sản của hợp tác xã được nâng tầm giá trị. Giám đốc Hợp tác xã Hà Nội Xanh Bá Thị Nguyệt Thu cho biết, hợp tác xã đã tổ chức lại toàn bộ quy trình sản xuất từ giống, canh tác, thu hoạch đến chế biến, tiêu thụ trên nền tảng ứng dụng khoa học-công nghệ giúp kéo dài thời gian bảo quản, các sản phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn OCOP, hữu cơ, ISO, Halal… mở ra cơ hội tiếp cận các thị trường có yêu cầu cao.
Theo Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã Liên Minh Nguyễn Tiến Toàn, hiện địa phương hướng phát triển theo mô hình đô thị xanh, văn minh, hạnh phúc. Vì vậy, ngoài đầu tư vào sản xuất đơn thuần, xã khuyến khích ứng dụng công nghệ số thông qua quảng bá nông sản trên nền tảng trực tuyến, thay đổi tư duy sản xuất của nông dân theo hướng ứng dụng khoa học-công nghệ, chủ động tiếp cận thị trường.
Nhiều địa phương đã lựa chọn những sản phẩm đặc trưng để xây dựng hệ sinh thái số. Tỉnh Thái Nguyên có 22.200ha chè, với diện tích cho sản phẩm khoảng 21.500ha. Phát huy đặc điểm thế mạnh, tỉnh đã triển khai nền tảng “Tea Trace Thái Nguyên” với sản phẩm bao phủ trọn vẹn bốn hợp phần của chuỗi cung ứng, từ hệ thống truy xuất nguồn gốc bằng tem QR, bản đồ số vùng nguyên liệu ứng dụng IoT, hồ sơ chất lượng số, cho đến phân hệ kết nối thương mại điện tử gắn với thương hiệu “Chè Thái Nguyên”. Chuỗi này được liên kết chặt chẽ theo mô hình “3 nhà” với sự tham gia của Đại học Thái Nguyên và các hợp tác xã (Tân Cương, La Bằng). Năm 2025, giá trị sản phẩm chè của Thái Nguyên đạt hơn 13.800 tỷ đồng.
Trong khi đó, tỉnh Lai Châu xác định phát triển sâm Lai Châu dựa trên khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, chuyển hóa tiềm năng tài nguyên bản địa thành động lực tăng trưởng mới. Tỉnh xác định sáu nhiệm vụ khoa học nghiên cứu về sâm Lai Châu, từng bước ứng dụng công nghệ cao trong quản lý vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, quảng bá sản phẩm và kết nối thị trường. Đến nay, tỉnh có 24,9ha trồng và ươm giống được thực hiện trong nhà màng nhà lưới, trong đó có 4,28ha áp dụng công nghệ tưới tiết kiệm; có 13,9ha được chứng nhận GACP-WHO; hơn 120 cơ sở được cấp mã cơ sở trồng sâm…
Tạo sự bền vững
Mặc dù khoa học-công nghệ và chuyển đổi số đang tạo nhiều chuyển biến tích cực, song thực tiễn triển khai vẫn bộc lộ không ít hạn chế khi nhiều kết quả nghiên cứu, đổi mới sáng tạo sau khi hoàn thành chưa được khai thác hiệu quả do nông dân và doanh nghiệp thiếu kỹ năng định giá, góp vốn hoặc đưa lên các sàn giao dịch công nghệ để tạo giá trị kinh tế.
Cùng với đó, liên kết giữa Nhà nước, nhà nghiên cứu, doanh nghiệp và nông dân vẫn chưa thật sự chặt chẽ. Sự tham gia của doanh nghiệp vào chuỗi giá trị sản xuất nông nghiệp từ những khâu đầu tiên là chưa nhiều. Bên cạnh đó, yêu cầu của thị trường về minh bạch nguồn gốc, an toàn thực phẩm và tiêu chuẩn chất lượng ngày càng cao. Dữ liệu của ngành hàng từ vùng nguyên liệu đến quy trình canh tác, thu hái, chế biến thô, chế biến sâu và phân phối chưa được số hóa và chuẩn hóa, nên công tác quản trị vùng nguyên liệu, quản lý chất lượng, dự báo thị trường và bảo hộ thương hiệu gặp nhiều khó khăn...
Tiến sĩ Đặng Văn Cường, Phó Giám đốc Trung tâm Tư vấn và Phát triển OCOP cho rằng, chuyển đổi số trong nông nghiệp không phải chỉ là “dán mã QR”, mà là năng lực chứng minh nguồn gốc, quản lý chất lượng và tiếp cận thị trường. Do đó, cần thúc đẩy tổ chức lại sản xuất theo hệ sinh thái sản phẩm chuẩn hóa và chứng minh chất lượng, bám theo nhu cầu thị trường; gắn với quản trị thương hiệu và truy xuất nguồn gốc, bán hàng đa kênh, dữ liệu số. Một số chuyên gia cho rằng, các bộ, ngành cần phối hợp chặt chẽ địa phương để xác định đúng lợi thế của từng vùng, tránh đầu tư dàn trải hoặc áp đặt các mô hình công nghệ không phù hợp điều kiện thực tiễn…
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, ngành đang xây dựng chiến lược tổng thể phát triển, cụ thể hóa mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp về nông nghiệp chính xác, nông nghiệp tuần hoàn gắn với chuyển đổi số; hoàn thiện chính sách thúc đẩy phát triển, ứng dụng AI trong ngành nông nghiệp và môi trường. Bộ đã ký nhiều chương trình hợp tác với các doanh nghiệp tiên phong trong lĩnh vực giống cây trồng, vật nuôi, vaccine thú y, công nghệ số và nông nghiệp thông minh nhằm từng bước hình thành các hệ sinh thái số theo chuỗi ngành hàng; hình thành các mô hình vùng sản xuất trọng điểm số hóa toàn diện, làm hình mẫu để nhân rộng trên phạm vi cả nước, tạo nền tảng để chuyển đổi số trở thành động lực nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thị trường.