Ngành gỗ và nội thất tìm kiếm mô hình đổi mới

Việt Nam hiện giữ vị trí xuất khẩu nội thất hàng đầu Đông Nam Á và đứng thứ hai thế giới. Sau nhiều năm gia công với vai trò là nhà sản xuất thiết bị gốc (OEM) cho đối tác nước ngoài, ngành gỗ và nội thất Việt Nam đứng trước bài toán tối ưu hóa lợi nhuận.

Nhiều doanh nghiệp ngành gỗ và mỹ nghệ đã mạnh dạn đầu tư lớn cho công nghệ và máy móc phụ trợ. Ảnh: NAM ANH
Nhiều doanh nghiệp ngành gỗ và mỹ nghệ đã mạnh dạn đầu tư lớn cho công nghệ và máy móc phụ trợ. Ảnh: NAM ANH

Theo số liệu của Cục Hải quan (Bộ Tài chính), năm 2025 là năm đầu tiên xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam vượt mốc 17 tỷ USD. Năm 2026, ngành gỗ và nội thất đặt mục tiêu xuất khẩu đạt 18,5 tỷ USD theo kế hoạch của Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường). Đây là con số đầy thách thức trong bối cảnh ngành đang đứng trước yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng.

Khi OEM chạm ngưỡng bão hòa

Theo kiến trúc sư Nguyễn Chánh Phương, Tổng Thư ký Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ Thành phố Hồ Chí Minh (HAWA), các doanh nghiệp (DN) gỗ và mỹ nghệ Việt Nam đã có nhiều năm liền đóng vai trò làm nhà sản xuất thiết bị gốc cho đối tác và đây từng là công thức thành công khi có thể tối ưu chi phí, sản lượng và tốc độ giao hàng. “Nhưng hiện nay, quản trị chuỗi cung ứng đã chuyển từ tối ưu chi phí sang quản trị rủi ro. DN và nhà bán lẻ quốc tế ưu tiên sự ổn định, khả năng truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn môi trường, trách nhiệm xã hội và an toàn chuỗi cung ứng nên mô hình OEM đã không còn phù hợp”, kiến trúc sư Nguyễn Chánh Phương nhận định.

Biên lợi nhuận của nhà sản xuất vì thế ngày càng mỏng. Trong khi rủi ro lại gia tăng đến từ yếu tố bên ngoài như biến động địa chính trị, chính sách bảo hộ, yêu cầu truy xuất nguồn gốc, tiêu chí môi trường… Các yếu tố bên trong chưa có sự ổn định thật sự như thay đổi luật môi trường, phòng cháy-chữa cháy… “Tất cả đã đẩy chi phí leo thang. Nhà máy trở thành mắt xích chịu nhiều áp lực nhất, nhận rủi ro lớn nhưng giá trị lại phân bổ ít. Lúc này, mở rộng sản lượng không còn bảo đảm tăng trưởng bền vững”, ông Phương nhận định.

Song song với sự bão hòa của OEM, làn sóng dịch chuyển sản xuất đang diễn ra mạnh mẽ. Các chuyên gia đều khẳng định những xu hướng này đang tạo áp lực trực tiếp với ngành gỗ Việt Nam. Khi chênh lệch chi phí không còn quá lớn, khoảng cách địa lý, thời gian giao hàng và khả năng quản trị rủi ro trở thành yếu tố quyết định. Cạnh tranh vì thế không còn thuần túy là cạnh tranh về giá, mà cần nắm được tâm lý khách hàng.

Làn sóng trí tuệ nhân tạo (AI), tự động hóa, thương mại điện tử và kinh tế dữ liệu đang tái định hình toàn bộ chuỗi giá trị ngành nội thất. Ngành gỗ Việt Nam đang đứng trước lựa chọn mang tính bước ngoặt. Trong bối cảnh đó, nhiều DN ngành gỗ và mỹ nghệ đã mạnh dạn đầu tư lớn cho công nghệ và máy móc phụ trợ.

Tuy nhiên, dù đầu tư lớn cho robot, dây chuyền tự động, nhưng hiệu quả khai thác vẫn thấp. “Chúng tôi vừa đầu tư 2 triệu USD vào dây chuyền cắt ghép gỗ công nghiệp và robot nhưng vẫn phải chạy theo kiểu cũ vì sản phẩm không được thiết kế để máy chạy hiệu quả. Mỗi đơn hàng khác nhau đòi hỏi lập trình lại máy, làm giảm 40% công suất thực tế”, đại diện một công ty nội thất chia sẻ.

Hiện nay, đơn hàng truyền thống suy giảm và kênh bán hàng trực tuyến ngày càng chiếm ưu thế. Sau khi đầu tư dây chuyền hiện đại, công việc sản xuất nhanh hơn, chính xác hơn, nhưng bán hàng lại chậm hơn. Chưa kể, thị trường xuất khẩu liên tục có những thay đổi về mặt chính sách nhập khẩu, thuế… khiến hàng tồn kho tăng, chi phí khấu hao lớn, biên lợi nhuận bị bào mòn. “Vấn đề không nằm ở việc đầu tư công nghệ là sai. Nếu sản phẩm và tư duy nghiên cứu phát triển chưa theo kịp sự thay đổi của thị trường sẽ tạo nên điểm nghẽn khiến hiệu quả đầu tư không cao”, ông Trần Khánh Phương nhận xét.

Với gần 30 năm kinh nghiệm trong ngành thầu thi công và sản xuất đồ gỗ nội thất, kiến trúc sư Trần Khánh Phương cho rằng, tư duy đầu tư công nghệ cần được thay đổi từ việc chỉ tập trung vào các thiết bị đơn thuần sang một tầm nhìn rộng lớn hơn. Ông cho rằng: “DN cần sử dụng các công nghệ thông tin như internets vạn vật (IoT) và tự động hóa để kết hợp nhiều thiết bị lại với nhau. Nhờ sự chuyển đổi này, giá trị đóng góp của công nghệ sẽ đạt được tầm vóc lớn hơn và lớn hơn rất nhiều so với trước đây”.

Năm 2023, Việt Nam mới chỉ xếp hạng 6 trong số các nước đứng đầu về sản xuất gỗ nội thất. 5 nước sản xuất đồ nội thất lớn nhất lần lượt là Trung Quốc, Mỹ, Italy, Đức và Ấn Độ.

Từ OEM đến ODM

Không nằm ngoài quy luật chung, người tiêu dùng trong ngành nội thất đang thay đổi căn bản cách tiếp cận việc mua sắm. Theo một báo cáo nghiên cứu hành vi người tiêu dùng năm 2025, 58% người tiêu dùng toàn cầu đã sử dụng các công cụ AI như ChatGPT thay cho công cụ truyền thống khi tìm kiếm và nhận gợi ý về sản phẩm. Cách thức mua hàng của người tiêu dùng khi mua sản phẩm nội thất đã thay đổi từ việc lên web lựa chọn sản phẩm một cách thụ động, sang chủ động tìm kiếm mẫu mã phù hợp với không gian sống, diện tích, phong cách của mình.

Đứng trước “làn sóng” không thể đảo ngược này, nhiều DN ngành gỗ và nội thất đã tìm cách đổi mới tư duy và chiến lược kinh doanh. Ông Phạm Ngọc Phước, Giám đốc Điều hành (CEO) Công ty Nội thất Brothers chia sẻ kinh nghiệm chuyển đổi từ vận hành theo mô hình gia công sang bán trực tiếp tới khách hàng: “Từ sản xuất theo bản vẽ sang thấu hiểu người dùng là cả chặng đường dài tìm hiểu tâm lý khách hàng. Chẳng hạn, với các căn hộ đô thị thường chỉ rộng từ 60-70m2, chúng tôi nhận ra rằng những mẫu tủ cồng kềnh, khó vận chuyển là rào cản thật sự và đã tái thiết kế sản phẩm có thể tháo lắp dễ dàng, đóng gói gọn gàng theo nguyên lý modul. Giải pháp này không chỉ tối ưu trải nghiệm vận chuyển mà còn mở rộng đáng kể khả năng tiếp cận phân khúc khách hàng đô thị và khách nước ngoài”.

Theo ông Phùng Quốc Mẫn, Chủ tịch HAWA, thời gian qua, ngành gỗ đã chứng kiến sự chuyển đổi rõ nét trong tư duy kinh doanh. Từ gia công truyền thống, DN đang chuyển dịch mạnh sang sản xuất theo thiết kế riêng (ODM). Hầu hết các nhà máy hiện nay đã chú trọng đầu tư bộ phận thiết kế thay vì chỉ sản xuất theo đơn đặt hàng có sẵn như trước đây. Một số DN lớn trong ngành đã xây dựng kênh bán hàng trực tuyến, tiếp cận trực tiếp khách hàng quốc tế.

Còn theo CEO Phạm Ngọc Phước, trên hành trình tái định vị, không phải quy mô mà sự linh hoạt mới là năng lực cốt lõi để tồn tại và phát triển bền vững. “Khách hàng quốc tế không mua vì giá rẻ mà họ mua vì giá trị tổng thể mà sản phẩm mang lại. Nếu DN mãi dừng lại ở mô hình OEM, biên lợi nhuận sẽ luôn ở mức tối thiểu. Chúng tôi đầu tư cho bộ phận thiết kế và nâng cao chất lượng nhân lực cốt lõi. Thực tế cho thấy một thiết kế tốt có thể cắt giảm đến 10% chi phí sản xuất. Con số này hiệu quả vượt trội hơn hẳn chiến lược ép giá nguyên vật liệu đầu vào”.

Khi vận hành theo mô hình ODM, dữ liệu phản hồi từ khách hàng trực tiếp cho phép DN cải tiến sản phẩm theo thời gian thật, linh hoạt và chính xác hơn. Ông Phước cho biết thêm: “Về phía DN, tôi cho rằng năng lực cạnh tranh và khả năng quản trị nguồn gốc gỗ là hai nền tảng cốt lõi giúp DN gỗ đứng vững. Chúng tôi cũng mong muốn sớm có hành lang pháp lý rõ ràng và ổn định về thuế ở cấp quốc gia cũng như thông tin cập nhật từ tình hình quốc tế. Thực tế cho thấy, mỗi khi xuất hiện thông tin liên quan đến thuế, các đơn vị mua hàng thường tạm dừng giao dịch để theo dõi diễn biến. Sự chần chừ của thị trường chủ yếu xuất phát từ việc thiếu thông tin rõ ràng. Khi có kết quả sớm, DN mới mạnh dạn đầu tư hoặc tái cấu trúc được”.

Có thể bạn quan tâm

Nhiều ngân hàng dành lượng vốn lớn cho lĩnh vực bất động sản. Ảnh: NAM ANH

Trái phiếu ngân hàng và dòng vốn bất động sản

Ngân hàng tiếp tục phát hành trái phiếu để bổ sung nguồn vốn, trong khi tín dụng kinh doanh bất động sản tăng nhanh và nhiều khoản vay có giá trị hàng nghìn tỷ đồng. Sự dịch chuyển đồng thời ở hai phía huy động và cho vay khiến cơ cấu sử dụng vốn của các ngân hàng trở thành vấn đề cần được làm rõ.

Các doanh nghiệp đang đối diện với việc không thể tiếp cận nguồn vốn tín dụng vì hàng loạt rào cản. Ảnh: NAM ANH

Để dòng vốn đồng hành cùng doanh nghiệp

Bài toán tiếp cận nguồn vốn tín dụng vẫn đặt ra nhiều thách thức đối với cộng đồng doanh nghiệp. Việc tháo gỡ điểm nghẽn tín dụng đòi hỏi sự chủ động chuẩn hóa từ phía doanh nghiệp, đồng thời yêu cầu những cơ chế đánh giá linh hoạt, thực tế hơn từ hệ thống ngân hàng.

Nhiều ngân hàng thương mại đã công bố các chương trình tín dụng ưu đãi. Ảnh: NAM ANH

Giảm lãi suất, thúc đẩy kinh tế

Hàng loạt ngân hàng công bố giảm lãi suất cho vay. Chi phí vốn hạ được kỳ vọng giúp doanh nghiệp bớt áp lực. Tuy nhiên, như vậy đã đủ để doanh nghiệp mạnh dạn vay thêm và mở rộng kinh doanh?

Từ đầu tháng 10, các phiên giảm điểm chiếm ưu thế áp đảo.

VN-Index lùi về vùng chọn lọc

Thị trường chứng khoán liên tục chịu nhiều sức ép khiến chỉ số VN-Index liên tục giảm điểm. Dù vậy, mức định giá của thị trường đã lùi về vùng hấp dẫn, mở ra cơ hội chọn lọc dài hạn cho nhà đầu tư.

Kết thúc phiên 14/10, VN-Index giảm 14,55 điểm, xuống 1.704,87 điểm. Ảnh: NAM ANH

Lãi suất níu chân dòng tiền chứng khoán

Thị trường chứng khoán tiếp tục giảm sau khi Việt Nam chính thức được FTSE Russell nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp. Trong khi dòng vốn từ nâng hạng cần thời gian để giải ngân, lãi suất tiền gửi hấp dẫn và chi phí vay cao đang tác động trực tiếp đến quyết định đầu tư.

Những doanh nghiệp vay ngoại tệ sẽ chịu áp lực trả nợ một khi tỷ giá tăng. Ảnh: NAM ANH

Doanh nghiệp ứng phó với tỷ giá

Dù đối diện với những biến động phức tạp của kinh tế thế giới cùng xu hướng siết chặt chính sách tiền tệ tại nhiều quốc gia, tỷ giá USD/VND trong nước vẫn giữ vững đà ổn định nhờ sự điều hành chủ động, linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Niềm tin của nhà đầu tư được củng cố bằng chuyển biến thực tế, thay vì chỉ dựa vào vài phiên thanh khoản tăng mạnh. Ảnh: NAM ANH

Phía sau dòng tiền “giải cứu” giá cổ phiếu

Những pha “giải cứu” giá cổ phiếu sau chuỗi ngày giảm mạnh có thể mở lối ra cho người bán và tạo kỳ vọng cho người mua. Nhưng để cổ phiếu phục hồi bền vững, doanh nghiệp còn phải giải quyết những vấn đề về dòng tiền, lợi nhuận và niềm tin thị trường.

Nhiều ngân hàng thông qua chủ trương thành lập ngân hàng con 100% vốn tại VIFC. Ảnh: NAM ANH

Cuộc đua mới tại Trung tâm Tài chính quốc tế

Kế hoạch thành lập ngân hàng con tại Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam của MSB và nhiều ngân hàng khác đang mở ra khả năng xuất hiện thêm các ngân hàng mới. Xu hướng này đi đến đâu còn phụ thuộc điều kiện cấp phép, năng lực tài chính và khả năng thu hút khách hàng của từng ngân hàng.

Giá trị trái phiếu phát hành của ngành bất động sản tăng đáng kể trong quý II. Ảnh: NAM ANH

Mở rộng dư địa vốn từ trái phiếu doanh nghiệp

Thị trường trái phiếu doanh nghiệp là kênh huy động vốn quan trọng của nền kinh tế. Bước vào chu kỳ phát triển mới, thị trường cần tăng minh bạch, nâng chất lượng xếp hạng tín nhiệm, mở rộng nhà đầu tư và kiểm soát rủi ro để phát triển bền vững.

Lãi suất ưu đãi vay mua nhà tại 17 ngân hàng hiện dao động từ 7-13,2%/năm. Ảnh: NAM HẢI

Ngân hàng cũng “mắc kẹt” với lãi vay

Lãi cho vay tăng chưa đồng nghĩa ngân hàng hưởng chênh lệch lớn hơn. Lợi nhuận cao cũng chưa đủ để kết luận còn nhiều dư địa giảm lãi suất. Khả năng chia sẻ chi phí với người vay phụ thuộc vào giá vốn huy động, cơ cấu nguồn thu và rủi ro tín dụng của từng ngân hàng.

Nhà đầu tư nên đa dạng hóa danh mục, ưu tiên doanh nghiệp có triển vọng tăng trưởng bền vững. Ảnh: NAM ANH

Nâng hạng chứng khoán và bài toán mua theo kỳ vọng

Nâng hạng thị trường chứng khoán mở thêm cơ hội thu hút vốn quốc tế, nhưng không bảo đảm lợi nhuận cho từng khoản đầu tư. Với nhà đầu tư cá nhân, điều cần làm rõ không chỉ là quỹ nước ngoài mua cổ phiếu nào, mà còn là giá mua và cơ sở để tiếp tục nắm giữ.

Robot hàn chíp điện tử được các doanh nghiệp quan tâm. Ảnh: NAM ANH

Bài toán vốn của doanh nghiệp điện tử

Muốn có đơn hàng thì phải đầu tư dây chuyền. Muốn đầu tư dây chuyền lại phải có đơn hàng. Vòng luẩn quẩn ấy đang giữ nhiều doanh nghiệp điện tử Việt đứng ngoài chuỗi cung ứng, trong khi cuộc đua bán dẫn đòi hỏi nguồn vốn ngày càng lớn.

Chi phí vốn hạ nhiệt sẽ tạo dư địa để ngân hàng giảm lãi suất cho vay. Ảnh: NGUYỆT ANH

Dư địa giảm lãi suất cuối năm

Lợi nhuận ngân hàng tiếp tục tăng, biên lãi thuần cải thiện nhưng nợ xấu vẫn nhích lên và bộ đệm dự phòng thu hẹp. Nhiều chuyên gia cho rằng, các ngân hàng đang có thêm dư địa giảm lãi suất cho vay vào cuối năm 2026, dù mức giảm sẽ khó diễn ra trên diện rộng.

Theo Thông tư 49, Nhà nước chia sẻ rủi ro, đồng thời huy động nguồn lực xã hội cho nghiên cứu khoa học. Ảnh: NAM ANH

Cơ chế tài chính mới mở đường cho công nghệ chiến lược

Thông tư 49/2026/TT-BKHCN mở ra cách tiếp cận mới trong cơ chế tài chính cho khoa học, chuyển từ quản lý đầu vào sang quản lý theo kết quả. Cơ chế này tăng quyền tự chủ, giảm gánh nặng thủ tục và tạo dư địa đầu tư cho các công nghệ chiến lược có độ rủi ro cao.

Đối với người dân, giá cả tăng làm giảm sức mua thực tế và buộc nhiều hộ gia đình phải thắt chặt chi tiêu. Ảnh: NGUYỆT ANH

Áp lực giữ lạm phát trong giới hạn mục tiêu

Chỉ còn cách mục tiêu kiểm soát lạm phát 0,05 điểm phần trăm, Việt Nam bước vào chặng cuối năm với áp lực cân bằng giữa kiềm chế giá cả và duy trì đà tăng trưởng. Đây sẽ là phép thử đối với hiệu quả phối hợp giữa chính sách tiền tệ và tài khóa.

Ở nhiều vùng sâu, vùng xa, người dân vẫn quen với các giao dịch bằng tiền mặt.

Ngoại lệ của tiền mặt

Cho phép doanh nghiệp trả lương bằng tiền mặt tại vùng khó khăn là một sự điều chỉnh cần thiết khi hạ tầng ngân hàng chưa theo kịp đời sống. Tuy nhiên, ngoại lệ này chỉ thật sự hợp lý nếu vừa bảo vệ được quyền lợi của người lao động, vừa giúp doanh nghiệp chứng minh chi phí hợp pháp, đồng thời không tạo thêm khoảng trống để kê khống, trốn thuế.

Cá ngừ đóng hộp và các sản phẩm đông lạnh tiêu chuẩn chịu nhiều áp lực cạnh tranh. Ảnh: NAM ANH

Xuất khẩu chật vật giữ đơn hàng

Xuất khẩu tiếp tục lập kỷ lục, nhưng doanh nghiệp đang đứng trước sức ép ngày càng lớn từ chính sách thuế mới của Mỹ. Bài toán giữ đơn hàng và duy trì sức cạnh tranh ngày càng khó khăn.

Câu chuyện nâng hạng thị trường tiếp tục là chất xúc tác trung hạn quan trọng. Ảnh: NGUYỆT ANH

Thị trường giằng co, cơ hội vẫn hiện diện

Thị trường chứng khoán đang bước vào giai đoạn giằng co khi thanh khoản suy yếu và chi phí vốn tiếp tục gây sức ép. Dù vậy, định giá hấp dẫn, tăng trưởng lợi nhuận doanh nghiệp và câu chuyện nâng hạng vẫn được xem là những động lực đáng chú ý cho giai đoạn tới.

Thị trường vàng cần tiến thêm một bước từ truy vết giao dịch sang truy xuất sản phẩm.

Thị trường vàng cần sự cân bằng bền vững

Sau nhiều năm, khoảng cách giá vàng trong nước và thế giới đã thu hẹp về mức dưới 5 triệu đồng/lượng. Tuy nhiên, chưa thể chỉ dựa vào mức chênh lệch thu hẹp để kết luận thị trường đã hoàn toàn lành mạnh. Một trạng thái thị trường cân bằng bền vững còn là vận hành sát hơn với giá trị thật và giảm bớt tác động lên các cân đối lớn của nền kinh tế.

Trong giai đoạn tuần đầu tháng 8, tỷ giá có xu hướng giảm. Ảnh: NAM ANH

Tỷ giá hạ nhiệt, áp lực USD giảm

Sau giai đoạn chịu nhiều sức ép, tỷ giá USD/VND đang hạ nhiệt nhờ nguồn cung ngoại tệ cải thiện, chênh lệch lãi suất và dư địa điều hành chính sách. Các yếu tố này được kỳ vọng tiếp tục hỗ trợ tỷ giá trong những tháng cuối năm.

HDBank gia nhập nhóm ngân hàng quy mô tài sản hơn 1 triệu tỷ đồng

HDBank gia nhập nhóm ngân hàng quy mô tài sản hơn 1 triệu tỷ đồng

Vượt mốc 1 triệu tỷ đồng tổng tài sản, duy trì hiệu quả sinh lời thuộc nhóm dẫn đầu và liên tiếp được các tổ chức tài chính quốc tế ghi nhận, HDBank đang cho thấy bước chuyển rõ nét về chất lượng tăng trưởng. Mới đây, ngân hàng được Vietnam Report xếp hạng dẫn đầu Top 50 công ty đại chúng uy tín và hiệu quả năm 2026 (VIX50).

Thị trường cổ phiếu giúp doanh nghiệp gia tăng đệm vốn tự có và nâng cao khả năng chống chịu trước các biến động tài chính. Ảnh: NAM ANH

Giảm áp lực tín dụng ngân hàng

Tốc độ tăng trưởng tín dụng vượt xa huy động tiền gửi đang tạo ra áp lực thanh khoản lớn cho hệ thống ngân hàng. Thực tế này buộc nền kinh tế phải chuyển dịch sang cấu trúc tài chính đa tầng, phát triển thị trường trái phiếu, cổ phiếu và các kênh đầu tư xanh nhằm giảm tải cho tín dụng ngắn hạn và khơi thông nguồn vốn dài hạn bền vững.

Việc nâng hạng lên thị trường chứng khoán mới nổi là môi trường thuận lợi cho cả đầu tư dài hạn lẫn giao dịch ngắn hạn. Ảnh: NAM ANH

Chứng khoán đem cơ hội cho tích lũy

Diễn biến thận trọng cùng sự phân hóa sâu sắc của VN-Index thời gian qua đang phản ánh rõ tâm lý phòng thủ của giới đầu tư. Các chuyên gia nhận định thị trường chứng khoán hiện tại đã lùi về vùng định giá hấp dẫn, mở ra cơ hội đầu tư trong dài hạn.

Khả năng tiếp cận nguồn vốn mới của nhóm doanh nghiệp bất động sản sẽ tiếp tục gặp nhiều thách thức. Ảnh: NGUYỆT ANH

Bài kiểm tra của doanh nghiệp bất động sản

Khi nguồn vốn không còn rẻ, doanh nghiệp buộc phải chấp nhận chi phí tài chính cao hơn để đổi lấy khả năng huy động vốn. Điều đó cũng đồng nghĩa chỉ doanh nghiệp có dòng tiền đủ mạnh và dự án hiệu quả mới có thể “sống khỏe”.

Người dân lựa chọn gửi tiền tiết kiệm để bảo toàn vốn khi các kênh đầu tư khác còn nhiều biến động. Ảnh: NAM ANH

Tiền gửi lập kỷ lục, lãi suất leo cao

Nghịch lý này cho thấy hệ thống đang chịu áp lực tìm kiếm nguồn vốn đúng kỳ hạn, đủ ổn định và phân bổ đúng nơi để theo kịp tốc độ tăng trưởng tín dụng.