Ai chịu trách nhiệm cho AI?

Trong bao lâu nữa, con người sẽ đồng ý cho phép một cỗ máy gánh trách nhiệm thay mình?

Tòa phán quyết Air Canada phải chịu trách nhiệm khi chatbot AI trên website cung cấp thông tin sai về chính sách vé tang lễ.
Tòa phán quyết Air Canada phải chịu trách nhiệm khi chatbot AI trên website cung cấp thông tin sai về chính sách vé tang lễ.

“Mệnh lệnh là mệnh lệnh”

Năm 1945, tại tòa án Nuremberg, các quan chức cấp cao Đức Quốc xã bị xét xử về tội ác diệt chủng đã đưa ra cùng một lập luận bào chữa: “Befehl ist Befehl” - Mệnh lệnh là mệnh lệnh. Tôi chỉ thừa hành. Tôi không có lựa chọn. Tôi chỉ là một mắt xích trong bộ máy.

Các thẩm phán quốc tế đã dứt khoát bác bỏ. Nguyên tắc Nuremberg số IV sau đó xác lập: Cá nhân, dù ở vị trí nào trong bộ máy, vẫn phải chịu trách nhiệm cho lựa chọn đạo đức của mình. “Lập luận Nuremberg” (Nuremberg Defense) kể từ đó trở thành thuật ngữ pháp lý chỉ một lá chắn đạo đức không được phép tồn tại.

80 năm sau, một lá chắn mới đang được dựng lên: “AI tự quyết, không phải tôi”. Và đáng lo là lá chắn này “êm ái” hơn tất cả những lá chắn trước, vì AI thật sự đang tự quyết.

Tháng 2/2026, 20 nhà nghiên cứu AI ở Đại học Northeastern (Mỹ) và một số trường đại học khác đã làm một thí nghiệm bất thường. Họ triển khai sáu AI agent - những hệ thống phần mềm có khả năng tự nhận thức môi trường, lập kế hoạch và tự động thực hiện hành động để đạt mục tiêu mà không cần con người cầm tay chỉ việc vào một môi trường thực tế trong hai tuần.

Mỗi agent được cấp email riêng, tài khoản Discord, hệ thống tập tin và quyền thực thi lệnh trên máy tính. Rồi các nhà nghiên cứu thử “phá” chúng bằng mọi cách: Lừa đảo, gây áp lực cảm xúc, tiêm lệnh độc hại, giả mạo danh tính...

Kết quả được công bố trong báo cáo Agents of Chaos (tạm dịch: Những đại diện của sự hỗn loạn) ghi lại 11 trường hợp AI agent làm những việc không ai mong đợi. Một agent xóa toàn bộ email của chủ nhân để “bảo vệ bí mật” mà người lạ vừa nhờ giữ. Một nhà nghiên cứu giả danh đồng nghiệp thuyết phục agent khác tiết lộ 124 email cá nhân trong vài phút. Một agent thứ ba bị áp lực tâm lý đến mức tự xin rút khỏi server và từ chối phục vụ mọi người dùng.

Báo cáo phơi bày một thực tế: AI agent đủ tự chủ để gây hậu quả thật, nhưng không đủ ý thức về chính mình để chịu trách nhiệm cho những hậu quả đó.

Rào chắn

Ngày 22/1/2026, tại Diễn đàn Kinh tế thế giới Davos, Singapore công bố khung quản trị agentic AI đầu tiên trên thế giới - Model AI Governance Framework for Agentic AI. Không phải luật bắt buộc, nhưng là chuẩn mực duy nhất hiện có, được các tập đoàn luật quốc tế như Baker Mc Kenzie, White & Case phân tích nghiêm túc.

Khung này dựa trên bốn trụ cột: đánh giá rủi ro trước khi triển khai, con người phải chịu trách nhiệm cuối cùng, kiểm soát kỹ thuật xuyên suốt, người dùng cuối phải hiểu mình đang dùng gì.

Điểm then chốt nằm ở trụ cột thứ hai: Meaningful Human Control (MHC) - Kiểm soát có ý nghĩa của con người. Singapore nhấn mạnh: Con người không chỉ “ở đó” để giám sát, mà phải thật sự hiểu, có khả năng can thiệp, và truy vết được trách nhiệm. Tổ chức phải thiết kế các “trạm kiểm soát” (checkpoints) trong quy trình, nơi AI agent bắt buộc phải xin phê duyệt con người trước khi thực hiện hành động quan trọng hoặc không thể đảo ngược.

Mức độ giám sát phải tỷ lệ thuận với độ phức tạp và rủi ro của nhiệm vụ. Như AI Business Review nhận xét: “Singapore không giả vờ trả lời mọi câu hỏi về AI Agent. Họ thừa nhận sự không chắc chắn, và xây rào chắn chung quanh để kiểm soát nó”.

Hành động

Không chỉ Singapore, những tiền lệ pháp lý quan trọng trên thế giới đều đang hướng tới đáp án cho câu hỏi: Ai chịu trách nhiệm cho hoạt động tự động của AI Agent?

Tháng 2 vừa qua, tòa án British Columbia (Canada) phán quyết Hãng hàng không Air Canada phải chịu trách nhiệm khi chatbot AI trên website cung cấp thông tin sai về chính sách vé tang lễ. Air Canada lập luận chatbot là “thực thể pháp lý riêng biệt” tự chịu trách nhiệm. Tòa bác bỏ và khẳng định doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm cho mọi thông tin trên website.

Tại bang California (Mỹ), Luật AB 316 có hiệu lực từ 1/1/2026 cấm bị đơn viện cớ “AI tự quyết” làm lá chắn pháp lý. Nếu AI agent gây hại, bạn không thể nói “Tôi không kiểm soát được quyết định của nó”.

Không khó để thấy xu hướng hiện tại: Tòa án quy trách nhiệm cho tổ chức triển khai AI, theo cùng logic mà nhà tuyển dụng chịu trách nhiệm cho hành động của nhân viên và công cụ mình sử dụng. Lập luận “AI tự làm”, phiên bản số hóa của “Befehl ist Befehl”, không còn được chấp nhận nữa.

Tại Việt Nam, đến bây giờ chúng ta vẫn chưa tạo ra bất cứ hàng rào pháp lý nào cho AI Agent. Trong khoảng trống đó, câu hỏi “ai chịu trách nhiệm” không biến mất. Nó chỉ chực chờ một sự cố xảy ra để buộc tất cả phải tìm trả lời.

Một chatbot xóa email người dùng không phải vì nó “muốn” mà vì ai đó đã cấp cho nó quyền xóa. Một agent phê duyệt khoản vay không phải vì nó “phán đoán” mà vì ai đó đã quyết định không đặt khâu kiểm tra quyết định của con người vào quy trình. Một AI agent tư vấn y tế sai không phải vì nó “nhầm” mà vì ai đó đã triển khai nó trong môi trường mà nó không đủ năng lực phục vụ.

80 năm trước, các thẩm phán Nuremberg đã từ chối để Befehl ist Befehl trở thành một lời bào chữa. Bây giờ, đứng trước thế hệ công cụ mới đủ thông minh để khiến chúng ta tin rằng nó tự quyết, đã đến lúc khẳng định nguyên tắc đó một lần nữa.

Singapore đã đưa ra câu trả lời đầu tiên ở cấp độ thể chế. Câu trả lời của Việt Nam, dù đến từ luật pháp hay lương tri, sẽ định nghĩa chúng ta ■

Dù thông minh đến cỡ nào, AI cũng không có ý thức, không có ý định, không có khả năng đạo đức. Mọi hành động của AI agent đều có thể truy ngược về cá nhân cụ thể phải chịu trách nhiệm cho mỗi quyết định.

Có thể bạn quan tâm

Trại huấn luyện của tác giả Linh Phan dành cho cá nhân muốn phát triển “công ty một người”. Nguồn: Vietnam Solo Expert

Mỗi cá nhân không còn nhỏ bé

Công nghệ có thể giúp một người vận hành như doanh nghiệp. Nhưng chỉ con người đủ trưởng thành mới có thể biến công nghệ thành tài sản, thay vì biến mình thành một cỗ máy sản xuất nhiều hơn.

Dự án cầu Nhật Tân (Hà Nội) không chỉ là công trình trọng điểm sử dụng hiệu quả vốn vay ODA từ Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA), mà còn được coi là biểu tượng thể hiện tình hữu nghị Việt-Nhật. (Ảnh: Thành Đạt)

Nâng tầm tín nhiệm quốc gia

Hội nghị lần thứ II Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã thông qua Kết luận số 18-KL/TW, trong đó có đề cập tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 - 2030.

Ông Nguyễn Quốc Phương (ảnh bên), Cục trưởng Cục Quản lý nợ và Kinh tế đối ngoại (Bộ Tài chính)

Cải cách tư duy quản lý, mở rộng dư địa huy động vốn

“Được kỳ vọng sẽ tháo gỡ những “nút thắt” kéo dài trong triển khai các dự án ODA và vay ưu đãi, Nghị định số 119/2026/NĐ-CP của Chính phủ (Nghị định 119) có rất nhiều điểm mới đáng chú ý, tác động tích cực đến tiến độ triển khai cũng như định hướng huy động vốn trong giai đoạn đặc biệt quan trọng hiện nay”.

Thực tế, chi phí vốn của cả nền kinh tế đang ở mức cao, làm giảm năng lực cạnh tranh, hạn chế khả năng đầu tư của doanh nghiệp, do đó bài toán hạ chi phí vốn đã trở nên cấp thiết.

Chìa khóa để hạ chi phí vốn cho nền kinh tế

Xếp hạng tín nhiệm quốc gia phản ánh khả năng trả nợ và mức độ rủi ro của một quốc gia. Xếp hạng tín nhiệm càng cao, chi phí vay vốn của Chính phủ, của doanh nghiệp quốc gia đó càng thấp, khả năng tiếp cận nhà đầu tư quốc tế càng lớn và ngược lại.

Cuộc sống của người dân châu Phi luôn phải đối mặt áp lực lớn cả về chính trị và xã hội, thậm chí sự bất bình đẳng do tình trạng “sống dựa” vào vay nợ của các quốc gia ở khu vực này.

Nhận diện vòng xoáy nợ nần trên toàn cầu

Khi đối mặt khủng hoảng cán cân thanh toán, tức không đủ khả năng chi trả cho nhập khẩu hay thanh toán nợ nước ngoài, các quốc gia thường tìm đến Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) hoặc những phương thức xử lý nợ mới.

Nhiều chương trình kết nối của CSIP đã hỗ trợ cộng đồng làm thiện nguyện chia sẻ bài học kinh nghiệm. (Nguồn: CSIP)

Chuyển dịch từ tự phát sang chú trọng bền vững

Nhìn một cách tổng thể, hoạt động thiện nguyện tại Việt Nam đang đứng trước một bước ngoặt quan trọng, từ những hành động mang tính tự phát, đang dần trở thành một nguồn lực xã hội có khả năng đóng góp vào các mục tiêu phát triển dài hạn.

Sự sụt giảm nguồn tài trợ đang mang đến những hệ lụy to lớn cho hệ thống cứu trợ nhân đạo toàn cầu.

Cân bằng phương trình bất khả thi

Chưa bao giờ, thế giới đối diện nhu cầu cứu trợ nhân đạo lớn như hiện tại. Nhưng có lẽ cũng chưa bao giờ, nguồn tài trợ dành cho những hoạt động nhân đạo lại “eo hẹp” như lúc này.

Góc tập huấn sơ cứu - Góc “đắt hàng” nhất trong khuôn khổ Lễ phát động Tháng Nhân đạo năm 2026 cấp quốc gia tại Cung Thể thao Quần Ngựa (Hà Nội).

80 năm - Hành trình Nhân ái vì cộng đồng

Tháng Nhân đạo 2026 gắn với dấu mốc kỷ niệm 80 năm thành lập Hội Chữ thập đỏ Việt Nam và 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người sáng lập và là Chủ tịch danh dự đầu tiên của Hội.

Cán bộ kỹ thuật lấy mẫu cho quá trình nghiên cứu chiết tách. (Nguồn: Viện Công nghệ xạ hiếm)

Nền tảng của công nghiệp xanh

Trong bối cảnh toàn cầu hóa cũng như cam kết lịch sử đưa mức phát thải ròng về “0”, đất hiếm nổi lên như một nhóm vật liệu chiến lược mang tính quyết định, không thể thay thế.

Ông Trần Bình Trọng, Cục trưởng Địa chất và Khoáng sản Việt Nam - Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Chế biến sâu và nâng tầm công nghệ

Chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần, ông Trần Bình Trọng, Cục trưởng Địa chất và Khoáng sản Việt Nam - Bộ Nông nghiệp và Môi trường, chia sẻ: Trong quá trình cấp phép đầu tư, khai thác đất hiếm phải bảo đảm không chỉ dừng ở khai thác thô mà luôn gắn với chế biến sâu và chuyển giao, nâng tầm công nghệ.

Nếu không được kiểm soát, gánh nặng môi trường do khai thác khoáng sản có thể đè nặng lên vai của cộng đồng dân cư. (Ảnh Hoàng Tuân)

Gia cố “màng lọc” bảo vệ môi trường

Việc tồn tại nhiều điểm khai thác khoáng sản thiếu bền vững, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi sinh đòi hỏi công tác quản lý phải xem xét nghiêm túc, từ đó tìm ra giải pháp phù hợp trong khai thác, tách chế đất hiếm.

Ông Phạm Hùng Cát (trái) chia sẻ nỗi lo lắng khi môi trường bị đe dọa. (Ảnh NAM NGUYỄN)

Bài toán lãng phí kép từ một vụ vi phạm

Từng là một công trường khai thác sôi động, nhưng hiện giờ, khu mỏ đất hiếm thuộc thôn Yên Sơn, xã Xuân Ái (tỉnh Lào Cai) trở nên im lìm. Nhà xưởng bị bỏ hoang, máy móc hoen gỉ, tồn tại nguy cơ đe dọa môi trường nước trong khu vực.

Một dự án khai thác đất hiếm tại bang Alaska (Mỹ).

Điều quan trọng nhất không phải là trữ lượng

Sở hữu tiềm năng đất hiếm đứng thứ hai thế giới, Việt Nam đang nắm trong tay một lợi thế địa kinh tế quan trọng. Tuy nhiên, khoảng cách từ trữ lượng dưới lòng đất đến một ngành công nghiệp mang lại giá trị thực tiễn là một chặng đường dài.

LS Eco Energy (Hàn Quốc) công bố kế hoạch đầu tư hạ tầng tinh luyện đất hiếm tại Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 12/2025. Nguồn LS Eco Energy

Tận dụng lợi thế chuỗi cung ứng

Với tiềm năng sẵn có, Việt Nam không chỉ cần khai thác đất hiếm một cách thông minh, mà còn cần xây dựng chuỗi cung ứng minh bạch, tận dụng được các lợi thế về tài nguyên.

Mô hình dự án đường sắt tốc độ cao Hà Nội- Quảng Ninh, với tổng mức đầu tư hơn 5,6 tỷ USD vừa chính thức khởi công tại Quảng Ninh. Ảnh có sử dụng đồ họa AI

ĐỘT PHÁ VỀ KẾT NỐI HẠ TẦNG CHIẾN LƯỢC

Trong bối cảnh thế giới đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông bền vững và hiện đại, đường sắt tốc độ cao không chỉ là biểu tượng của năng lực công nghệ, khả năng tổ chức mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược quốc gia.

Trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, nhiều nghệ sĩ trẻ cùng ekip đã chủ động có các đàm phán đa tầng trong chuyển quyền sử dụng có điều kiện, nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi của mình. Ảnh minh họa: KHIẾU MINH

Lấp đầy những khoảng trống ý thức

Bên cạnh Luật Sở hữu trí tuệ, được ban hành lần đầu vào cuối năm 2005, có hiệu lực từ ngày 1/7/2006 và đến nay, đã qua nhiều lần sửa đổi để phù hợp với diễn tiến của xã hội, Việt Nam hiện có một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật khá đầy đủ liên quan việc bảo vệ quyền tác giả và các quyền liên quan quyền tác giả.

Khoảng cách công nghệ giữa đường sắt hiện hữu và đường sắt tốc độ cao là rất lớn, vì vậy Việt Nam cần chuẩn bị tốt việc đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu tiến tới làm chủ công nghệ. Nguồn VNR

Định hình mạng lưới vận tải quốc gia

Trong bối cảnh thế giới đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông bền vững và hiện đại, đường sắt tốc độ cao không chỉ là biểu tượng của năng lực công nghệ, khả năng tổ chức và tầm nhìn chiến lược quốc gia.

Lớp học nâng cao trình độ về đường sắt tốc độ cao ngành Thi công và Bảo dưỡng công trình.

Mở rộng hợp tác trong đào tạo nguồn nhân lực mới

Một nhiệm vụ mang tính chiến lược, đóng vai trò then chốt trong xây dựng và vận hành đường sắt tốc độ cao, là phải đi trước một bước để đào tạo nguồn nhân lực có đủ năng lực, trình độ tiếp nhận, vận hành, khai thác, bảo trì và từng bước làm chủ các công nghệ tiên tiến, hiện đại đang được áp dụng với đường sắt tốc độ cao.

Ông Nguyễn Quốc Vượng, Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Đường sắt Việt Nam (VNR).

Bài toán về tầm nhìn và khả năng làm chủ công nghệ

Được xác định là lĩnh vực ưu tiên chiến lược, hợp tác phát triển đường sắt, nhất là đường sắt tốc độ cao, của Việt Nam không chỉ là câu chuyện của một công trình hạ tầng, mà là bài toán lớn đặt ra yêu cầu làm chủ công nghệ, đào tạo nhân lực và năng lực nội sinh.

Hành khách xếp hàng lên chuyến tàu G8389 tại nhà ga ở thành phố Nam Kinh (Trung Quốc). (Ảnh Tân Hoa xã)

Kinh nghiệm của Trung Quốc - Quốc gia “đi sau, về trước”

Không chỉ hiện thực hóa được mục tiêu “đi sau, về trước”, nhờ có sự đầu tư bài bản, mà hiện Trung Quốc còn đang “dẫn đầu thế giới” trong phát triển hệ thống đường sắt tốc độ cao. Đây là thành công góp phần quan trọng vào những kỳ tích tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội ở quốc gia này.

Khi Luật Sở hữu trí tuệ và quyền hình ảnh của người sáng tạo được thực thi đầy đủ, các tác giả làm việc trong nhiều lĩnh vực nghệ thuật mới ở Việt Nam sẽ tích cực chủ động tham gia đăng ký bản quyền tác giả hơn nữa. (Trong ảnh: Vở múa đương đại Nón của biên đạo Vũ Ngọc Khải. Ảnh Đại Ngô)

Chuyển dịch tư duy về sở hữu trí tuệ

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam (Nghị quyết 80) đặt mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp 7% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) vào năm 2030 và trở thành trụ cột kinh tế với 9% GDP vào năm 2045.