Cải cách tư duy quản lý, mở rộng dư địa huy động vốn

“Được kỳ vọng sẽ tháo gỡ những “nút thắt” kéo dài trong triển khai các dự án ODA và vay ưu đãi, Nghị định số 119/2026/NĐ-CP của Chính phủ (Nghị định 119) có rất nhiều điểm mới đáng chú ý, tác động tích cực đến tiến độ triển khai cũng như định hướng huy động vốn trong giai đoạn đặc biệt quan trọng hiện nay”.

Ông Nguyễn Quốc Phương (ảnh bên), Cục trưởng Cục Quản lý nợ và Kinh tế đối ngoại (Bộ Tài chính)
Ông Nguyễn Quốc Phương (ảnh bên), Cục trưởng Cục Quản lý nợ và Kinh tế đối ngoại (Bộ Tài chính)

“Được kỳ vọng sẽ tháo gỡ những “nút thắt” kéo dài trong triển khai các dự án ODA và vay ưu đãi, Nghị định số 119/2026/NĐ-CP của Chính phủ (Nghị định 119) có rất nhiều điểm mới đáng chú ý, tác động tích cực đến tiến độ triển khai cũng như định hướng huy động vốn trong giai đoạn đặc biệt quan trọng hiện nay” - Trao đổi với Nhân Dân cuối tuần, ông Nguyễn Quốc Phương (ảnh bên), Cục trưởng Cục Quản lý nợ và Kinh tế đối ngoại (Bộ Tài chính) khẳng định.

Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền

- Trong bối cảnh Chính phủ tiếp tục hoàn thiện thể chế về quản lý nợ công và điều ước quốc tế, đâu là thay đổi cốt lõi, mang tính đột phá của Nghị định 119 trong việc tháo gỡ những “nút thắt” kéo dài khi triển khai các dự án dùng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vay ưu đãi, thưa ông?

- Là một bước đi tiếp theo nhằm thể hiện quan điểm quyết liệt của Đảng và Chính phủ về đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và cải cách thủ tục hành chính, Nghị định 119, sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 242/2025/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý và sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài, có ba thay đổi cốt lõi, mang tính đột phá, gồm:

Thứ nhất, cải cách căn bản quy trình chuẩn bị khoản vay. Bộ Tài chính đã kiến nghị Chính phủ thay thế “Đề xuất dự án” phức tạp bằng “Đề xuất khoản vay” tập trung đánh giá điều kiện của khoản vay, xác định nguồn vốn nước ngoài cho dự án, thay vì đi sâu vào đánh giá dự án như trước. Quy định này giúp tách biệt rõ ràng giữa quy trình huy động vốn và quy trình thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư, tránh chồng chéo.

Thứ hai, đổi mới quy trình đàm phán, ký kết điều ước quốc tế: Nghị định 119 bổ sung quy định về trình tự, thủ tục, hồ sơ đàm phán, ký kết, phê chuẩn, sửa đổi điều ước quốc tế về vay ODA, vay ưu đãi, nhằm hướng dẫn chi tiết Luật Quản lý nợ công thay vì thực hiện theo Luật Điều ước quốc tế vốn phù hợp hơn với các loại hình điều ước quốc tế phức tạp. Sửa đổi này giúp rút ngắn thời gian đàm phán, ký kết, hạn chế rủi ro biến động thị trường tài chính, chậm huy động nguồn lực cho đầu tư. Cụ thể, đối với điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước (thường ký với các tổ chức tài chính quốc tế đa phương như: WB, ADB, IFAD...) phân cấp từ Chính phủ xuống Thủ tướng Chính phủ nhằm cắt giảm khâu lấy ý kiến thành viên Chính phủ trước khi trình Chủ tịch nước phê duyệt đàm phán, ký kết. Đối với thỏa thuận vay nhân danh Chính phủ, bước trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chủ trương đàm phán được bãi bỏ, giao Bộ Tài chính chủ động đàm phán và chỉ báo cáo Thủ tướng Chính phủ khi xin chủ trương ký kết. Đặc biệt, Bộ Tài chính được trao quyền tự quyết định các sửa đổi thỏa thuận không làm tăng nghĩa vụ nợ, giúp đẩy nhanh tối đa tiến độ huy động vốn và tăng tính chủ động trong điều hành.

Thứ ba, đẩy mạnh phân cấp tài chính và điều chỉnh cơ chế hỗ trợ vốn đầu tư, Nghị định bổ sung cơ chế cấp phát và điều chỉnh tỷ lệ cho vay lại đối với địa phương và đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng: Giảm tỷ lệ cho vay lại, tăng tỷ lệ cấp phát cho các địa phương còn khó khăn hoặc đơn vị sự nghiệp công lập chưa tự chủ chi đầu tư, nhằm hỗ trợ, khuyến khích các địa phương, đơn vị sự nghiệp công lập triển khai các dự án đầu tư công có quy mô lớn, tính lan tỏa cao, đặc biệt khuyến khích các dự án trong các lĩnh vực ưu tiên như khoa học công nghệ, y tế, giáo dục.

tr54-7847.jpg
Một hội thảo chuyên đề đưa Nghị định số 119/2026/NÐ-CP của Chính phủ sớm đi vào cuộc sống do Cục Quản lý nợ và Kinh tế đối ngoại (Bộ Tài chính) tổ chức.

- Với những thay đổi về quy trình như vậy, thời gian chuẩn bị và triển khai một dự án ODA đã được cải thiện cụ thể ra sao, thưa ông?

- Việc cắt giảm các thủ tục trung gian và đẩy mạnh phân cấp giúp mang lại kết quả định lượng rõ rệt về cắt giảm thời gian chuẩn bị và triển khai dự án sử dụng vốn ODA, vay ưu đãi.

Không chỉ vậy, sự chuyển đổi phân cấp, phân quyền của Luật Đầu tư công đã được thể hiện từ Nghị định số 242/2025/NĐ-CP sang Nghị định số 119/2026/NĐ-CP, theo đó thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư đối với các dự án nhóm A, B, C đã được chuyển từ Thủ tướng Chính phủ về cho cơ quan chủ quản, từ đó giúp các đơn vị này hoàn toàn chủ động trong toàn bộ thủ tục thẩm định và phê duyệt đầu tư.

Như vậy, với sự cải cách mạnh mẽ về thủ tục, thời gian chuẩn bị dự án cho tới khi ký vay vốn có thể giảm 12 tháng so quy trình trước đây.

Tạo sự chủ động và liên thông trong quản lý đầu tư

- Trong các nội dung sửa đổi, theo đánh giá của ông, đâu là điểm mang lại tác động thực chất nhất đối với tiến độ chuẩn bị dự án?

- Điểm mang lại tác động thực chất nhất chính là việc thay thế thủ tục “Đề xuất dự án” bằng phê duyệt “Đề xuất khoản vay”. Đây được xem là cải cách mang tính cốt lõi, thay đổi tư duy quản lý vốn ODA và vay ưu đãi từ kiểm soát quy trình sang kiểm soát mục tiêu tài chính.

Việc thay thế này mang lại tác động thực chất trên ba phương diện: Thứ nhất, đơn giản hóa trọng tâm thẩm định. Nội dung thẩm định chủ yếu tập trung các nội dung như: tính phù hợp của khoản vay với định hướng phát triển, hạn mức nợ công, khả năng trả nợ và các điều kiện tài chính của nhà tài trợ, giúp các cơ quan quản lý nhà nước tập trung vào đúng chức năng quản lý tài chính công.

Thứ hai, loại bỏ sự trùng lặp và rút ngắn thời gian chuẩn bị. Bằng cách phê duyệt “Đề xuất khoản vay”, Chính phủ, Bộ Tài chính xác lập khung điều kiện vay vốn ngay từ đầu, tạo cơ sở pháp lý nhanh chóng để chủ đầu tư tiến hành các bước tiếp theo mà không phải chờ đợi qua nhiều tầng nấc trung gian, giúp giảm thời gian phê duyệt từ 12 tháng xuống chỉ còn tối đa hai tháng.

Thứ ba, tạo sự chủ động và liên thông trong quản lý đầu tư. Cơ chế mới giúp tách bạch rõ ràng giữa “thủ tục đối ngoại” (cam kết vay vốn với nhà tài trợ) và “thủ tục đối nội” (phê duyệt dự án đầu tư theo pháp luật trong nước). Khi Đề xuất khoản vay được phê duyệt, cơ quan chủ quản có căn cứ vững chắc để chủ động phối hợp nhà tài trợ trong việc thiết kế dự án, đồng thời bảo đảm dự án đó hoàn toàn tương thích với các quy định về đầu tư công, từ đó mở rộng dư địa huy động vốn, khơi thông dòng vốn và đẩy nhanh tiến độ giải ngân ngay từ giai đoạn chuẩn bị.

img-20260511-213811.jpg
Nghị định số 119/2026/NĐ-CP đã đổi mới cơ bản quy trình đàm phán, ký kết điều ước quốc tế, ký kết, phê chuẩn, sửa đổi điều ước quốc tế về vay ODA, vay ưu đãi.

Minh bạch - điều kiện tiên quyết nâng hạng tín nhiệm quốc gia

- Trong bối cảnh điều kiện vay vốn quốc tế đang dần kém ưu đãi hơn, định hướng thu hút và sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi của Việt Nam sẽ được điều chỉnh như thế nào, thưa ông?

- Trong giai đoạn 2026-2030, khi Việt Nam đã trở thành quốc gia thu nhập trung bình, nguồn vốn ODA sẽ dịch chuyển theo hướng tập trung vào cả chất lượng lẫn số lượng. Việt Nam dự kiến huy động khoảng 38,2 tỷ USD vốn vay ODA và vay ưu đãi nước ngoài cho giai đoạn 2026-2030. Do đó sẽ tập trung vào các dự án hạ tầng chiến lược quy mô lớn, các lĩnh vực phát triển bền vững như biến đổi khí hậu, năng lượng sạch, chuyển đổi số và các ngành công nghệ cao. Đồng thời, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, chú trọng tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và khả năng lan tỏa hiệu quả phát triển của dự án; chỉ vay cho những chương trình, dự án thật sự cần thiết, có khả năng cân đối vốn và bảo đảm an toàn nợ công.

- Có ý kiến cho rằng, để hiện thực hóa mục tiêu chiến lược giai đoạn 2026-2030 theo đúng mục tiêu đã đề ra tại Kết luận số 18-KL/TW của Hội nghị lần thứ II Ban Chấp hành Trung ương Ðảng Khóa XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026-2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “2 con số”, quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào?

- Trên thực tế, thông tin về nợ công của Việt Nam đã được công khai với các đối tác phát triển và các cơ quan xếp hạng tín nhiệm trong nhiều năm nay. Tuy nhiên, Bộ Tài chính xác định: Việc nâng cao chất lượng và thời lượng công bố, cung cấp thông tin về nợ công là điều kiện tiên quyết để nâng hạng tín nhiệm quốc gia và thực hiện thắng lợi Kết luận số 18-KL/TW. Các giải pháp cụ thể bao gồm:

Về hoàn thiện thể chế đồng bộ, việc ban hành Luật số 141/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý nợ công và các nghị định hướng dẫn Luật số 141/2025/QH15. Trong đó, Nghị định số 119/2026/NĐ-CP chính là sự cụ thể hóa quyết tâm cải cách, tạo hành lang pháp lý minh bạch, mở rộng đối tượng công bố và công khai thông tin về nợ công và phù hợp các chuẩn mực quốc tế về quản lý nợ. Hiện Cục Quản lý Nợ và Kinh tế Đối ngoại đang báo cáo lãnh đạo Bộ Tài chính để triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm kiểm soát chặt chẽ an toàn nợ công theo hướng chủ động kiểm soát trần nợ công, xây dựng kế hoạch vay trả nợ trung hạn và hằng năm một cách khoa học.

Quyết tâm nhất quán của Bộ Tài chính là xây dựng một nền tài chính công minh bạch, bền vững, biến nguồn vốn quốc tế thành động lực thực chất cho sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới.

- Trân trọng cảm ơn ông!

Thủ tục rút gọn ở khâu “Đề xuất khoản vay” giảm đáng kể thời gian xử lý từ sáu tháng đến 12 tháng, thậm chí là 24 tháng của quy trình “Đề xuất dự án” trước đây xuống còn một đến hai tháng. Bên cạnh đó, thông qua việc phân cấp ở khâu trung gian và cắt giảm thủ tục xin ý kiến các cơ quan, thời gian lộ trình đàm phán, ký kết có thể giảm từ 12 tháng xuống còn sáu tháng.

Có thể bạn quan tâm

Nhiều chương trình kết nối của CSIP đã hỗ trợ cộng đồng làm thiện nguyện chia sẻ bài học kinh nghiệm. (Nguồn: CSIP)

Chuyển dịch từ tự phát sang chú trọng bền vững

Nhìn một cách tổng thể, hoạt động thiện nguyện tại Việt Nam đang đứng trước một bước ngoặt quan trọng, từ những hành động mang tính tự phát, đang dần trở thành một nguồn lực xã hội có khả năng đóng góp vào các mục tiêu phát triển dài hạn.

Sự sụt giảm nguồn tài trợ đang mang đến những hệ lụy to lớn cho hệ thống cứu trợ nhân đạo toàn cầu.

Cân bằng phương trình bất khả thi

Chưa bao giờ, thế giới đối diện nhu cầu cứu trợ nhân đạo lớn như hiện tại. Nhưng có lẽ cũng chưa bao giờ, nguồn tài trợ dành cho những hoạt động nhân đạo lại “eo hẹp” như lúc này.

Góc tập huấn sơ cứu - Góc “đắt hàng” nhất trong khuôn khổ Lễ phát động Tháng Nhân đạo năm 2026 cấp quốc gia tại Cung Thể thao Quần Ngựa (Hà Nội).

80 năm - Hành trình Nhân ái vì cộng đồng

Tháng Nhân đạo 2026 gắn với dấu mốc kỷ niệm 80 năm thành lập Hội Chữ thập đỏ Việt Nam và 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người sáng lập và là Chủ tịch danh dự đầu tiên của Hội.

Cán bộ kỹ thuật lấy mẫu cho quá trình nghiên cứu chiết tách. (Nguồn: Viện Công nghệ xạ hiếm)

Nền tảng của công nghiệp xanh

Trong bối cảnh toàn cầu hóa cũng như cam kết lịch sử đưa mức phát thải ròng về “0”, đất hiếm nổi lên như một nhóm vật liệu chiến lược mang tính quyết định, không thể thay thế.

Ông Trần Bình Trọng, Cục trưởng Địa chất và Khoáng sản Việt Nam - Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Chế biến sâu và nâng tầm công nghệ

Chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần, ông Trần Bình Trọng, Cục trưởng Địa chất và Khoáng sản Việt Nam - Bộ Nông nghiệp và Môi trường, chia sẻ: Trong quá trình cấp phép đầu tư, khai thác đất hiếm phải bảo đảm không chỉ dừng ở khai thác thô mà luôn gắn với chế biến sâu và chuyển giao, nâng tầm công nghệ.

Nếu không được kiểm soát, gánh nặng môi trường do khai thác khoáng sản có thể đè nặng lên vai của cộng đồng dân cư. (Ảnh Hoàng Tuân)

Gia cố “màng lọc” bảo vệ môi trường

Việc tồn tại nhiều điểm khai thác khoáng sản thiếu bền vững, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi sinh đòi hỏi công tác quản lý phải xem xét nghiêm túc, từ đó tìm ra giải pháp phù hợp trong khai thác, tách chế đất hiếm.

Ông Phạm Hùng Cát (trái) chia sẻ nỗi lo lắng khi môi trường bị đe dọa. (Ảnh NAM NGUYỄN)

Bài toán lãng phí kép từ một vụ vi phạm

Từng là một công trường khai thác sôi động, nhưng hiện giờ, khu mỏ đất hiếm thuộc thôn Yên Sơn, xã Xuân Ái (tỉnh Lào Cai) trở nên im lìm. Nhà xưởng bị bỏ hoang, máy móc hoen gỉ, tồn tại nguy cơ đe dọa môi trường nước trong khu vực.

Một dự án khai thác đất hiếm tại bang Alaska (Mỹ).

Điều quan trọng nhất không phải là trữ lượng

Sở hữu tiềm năng đất hiếm đứng thứ hai thế giới, Việt Nam đang nắm trong tay một lợi thế địa kinh tế quan trọng. Tuy nhiên, khoảng cách từ trữ lượng dưới lòng đất đến một ngành công nghiệp mang lại giá trị thực tiễn là một chặng đường dài.

LS Eco Energy (Hàn Quốc) công bố kế hoạch đầu tư hạ tầng tinh luyện đất hiếm tại Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 12/2025. Nguồn LS Eco Energy

Tận dụng lợi thế chuỗi cung ứng

Với tiềm năng sẵn có, Việt Nam không chỉ cần khai thác đất hiếm một cách thông minh, mà còn cần xây dựng chuỗi cung ứng minh bạch, tận dụng được các lợi thế về tài nguyên.

Mô hình dự án đường sắt tốc độ cao Hà Nội- Quảng Ninh, với tổng mức đầu tư hơn 5,6 tỷ USD vừa chính thức khởi công tại Quảng Ninh. Ảnh có sử dụng đồ họa AI

ĐỘT PHÁ VỀ KẾT NỐI HẠ TẦNG CHIẾN LƯỢC

Trong bối cảnh thế giới đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông bền vững và hiện đại, đường sắt tốc độ cao không chỉ là biểu tượng của năng lực công nghệ, khả năng tổ chức mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược quốc gia.

Trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, nhiều nghệ sĩ trẻ cùng ekip đã chủ động có các đàm phán đa tầng trong chuyển quyền sử dụng có điều kiện, nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi của mình. Ảnh minh họa: KHIẾU MINH

Lấp đầy những khoảng trống ý thức

Bên cạnh Luật Sở hữu trí tuệ, được ban hành lần đầu vào cuối năm 2005, có hiệu lực từ ngày 1/7/2006 và đến nay, đã qua nhiều lần sửa đổi để phù hợp với diễn tiến của xã hội, Việt Nam hiện có một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật khá đầy đủ liên quan việc bảo vệ quyền tác giả và các quyền liên quan quyền tác giả.

Khoảng cách công nghệ giữa đường sắt hiện hữu và đường sắt tốc độ cao là rất lớn, vì vậy Việt Nam cần chuẩn bị tốt việc đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu tiến tới làm chủ công nghệ. Nguồn VNR

Định hình mạng lưới vận tải quốc gia

Trong bối cảnh thế giới đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông bền vững và hiện đại, đường sắt tốc độ cao không chỉ là biểu tượng của năng lực công nghệ, khả năng tổ chức và tầm nhìn chiến lược quốc gia.

Lớp học nâng cao trình độ về đường sắt tốc độ cao ngành Thi công và Bảo dưỡng công trình.

Mở rộng hợp tác trong đào tạo nguồn nhân lực mới

Một nhiệm vụ mang tính chiến lược, đóng vai trò then chốt trong xây dựng và vận hành đường sắt tốc độ cao, là phải đi trước một bước để đào tạo nguồn nhân lực có đủ năng lực, trình độ tiếp nhận, vận hành, khai thác, bảo trì và từng bước làm chủ các công nghệ tiên tiến, hiện đại đang được áp dụng với đường sắt tốc độ cao.

Ông Nguyễn Quốc Vượng, Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Đường sắt Việt Nam (VNR).

Bài toán về tầm nhìn và khả năng làm chủ công nghệ

Được xác định là lĩnh vực ưu tiên chiến lược, hợp tác phát triển đường sắt, nhất là đường sắt tốc độ cao, của Việt Nam không chỉ là câu chuyện của một công trình hạ tầng, mà là bài toán lớn đặt ra yêu cầu làm chủ công nghệ, đào tạo nhân lực và năng lực nội sinh.

Hành khách xếp hàng lên chuyến tàu G8389 tại nhà ga ở thành phố Nam Kinh (Trung Quốc). (Ảnh Tân Hoa xã)

Kinh nghiệm của Trung Quốc - Quốc gia “đi sau, về trước”

Không chỉ hiện thực hóa được mục tiêu “đi sau, về trước”, nhờ có sự đầu tư bài bản, mà hiện Trung Quốc còn đang “dẫn đầu thế giới” trong phát triển hệ thống đường sắt tốc độ cao. Đây là thành công góp phần quan trọng vào những kỳ tích tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội ở quốc gia này.

Khi Luật Sở hữu trí tuệ và quyền hình ảnh của người sáng tạo được thực thi đầy đủ, các tác giả làm việc trong nhiều lĩnh vực nghệ thuật mới ở Việt Nam sẽ tích cực chủ động tham gia đăng ký bản quyền tác giả hơn nữa. (Trong ảnh: Vở múa đương đại Nón của biên đạo Vũ Ngọc Khải. Ảnh Đại Ngô)

Chuyển dịch tư duy về sở hữu trí tuệ

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam (Nghị quyết 80) đặt mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp 7% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) vào năm 2030 và trở thành trụ cột kinh tế với 9% GDP vào năm 2045.

Bà Phạm Thị Kim Oanh.

Đồng hành để hỗ trợ giới sáng tạo một cách tốt nhất

Nhân Dân cuối tuần có cuộc trao đổi với bà Phạm Thị Kim Oanh, Phó Cục trưởng Bản quyền tác giả, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, về những nỗ lực của cơ quan quản lý nhà nước trong việc đồng hành, khuyến khích các tổ chức, cá nhân chủ động nâng cao hơn nữa ý thức về bảo vệ quyền tác giả và các quyền liên quan quyền tác giả.

Đồi chè Mộc Châu. (Ảnh Huỳnh Văn Truyền)

Chủ động mở những lối đi

Nhiếp ảnh là một trong những lĩnh vực sáng tác mà việc vi phạm bản quyền xảy ra khá thường xuyên, ở nhiều phương thức, cấp độ khác nhau.

Ngành công nghệ cần đặt an toàn của trẻ em vào khâu thiết kế sản phẩm, thay vì coi đó là phần việc xử lý sau cùng. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Đồng hành để bảo vệ

Internet từ lâu đã trở thành một phần tất yếu của cuộc sống, kể cả với trẻ em. Tuy nhiên, mức độ hiện diện cao ấy không đồng nghĩa với việc thế hệ trẻ có đủ năng lực để tự bảo vệ mình.

Trung ương Đoàn luôn chủ động tạo ra các không gian cởi mở để kịp thời lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của trẻ em.

Lắng nghe đúng, hành động trúng

Trong thời đại kỷ nguyên số, không gian mạng không còn là một công cụ hỗ trợ, mà đã trở thành một môi trường sống song hành với đời sống của trẻ em.