Nâng cao năng lực số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong khu vực công

Chiều 18/3, tại Hà Nội, Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam và Viện Nghiên cứu Chính sách và Phát triển truyền thông (IPS) tổ chức Tọa đàm chuyên đề “Đánh giá toàn cảnh trí tuệ nhân tạo trong khu vực công tại Việt Nam”.
Các đại biểu tham gia tại Tọa đàm chuyên đề đánh giá toàn cảnh trí tuệ nhân tạo trong khu vực công tại Việt Nam.
Các đại biểu tham gia tại Tọa đàm chuyên đề đánh giá toàn cảnh trí tuệ nhân tạo trong khu vực công tại Việt Nam.

Sự kiện nhằm đánh giá một cách sâu sắc về bối cảnh phát triển trí tuệ nhân tạo (AI) hiện tại, định hướng chiến lược và thực trạng ứng dụng AI trong khu vực công, từ đó đưa ra các khuyến nghị chính sách nhằm phát huy tối đa tiềm năng của AI.

Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trí tuệ nhân tạo (AI) đã nổi lên như một động lực chính của sự đổi mới, tiến bộ nhanh chóng và phát triển bền vững trên toàn thế giới. Đặc biệt, khu vực công đóng vai trò quan trọng trong việc định hình và dẫn dắt sự phát triển của AI tại Việt Nam bằng cách thúc đẩy hệ sinh thái AI trong nước, tích hợp AI vào quản trị và vận hành, cung cấp dịch vụ công cho người dân.

Nhận thức được tầm quan trọng này, Viện Nghiên cứu Chính sách và Phát triển truyền thông phối hợp Chương trình Phát triển Liên hợp quốc thực hiện nghiên cứu chuyên sâu đánh giá toàn cảnh trí tuệ nhân tạo (AILA) trong khu vực công tại Việt Nam, nhằm cung cấp một cái nhìn về bối cảnh AI hiện tại trên nhiều khía cạnh và lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là khung pháp lý AI.

Báo cáo nghiên cứu chỉ ra những lỗ hổng và điểm nghẽn cần được chú ý và đề xuất các khuyến nghị cụ thể để Việt Nam tận dụng AI một cách hiệu quả, có trách nhiệm và bền vững trong khu vực công.

Nghiên cứu cho thấy, trong thời gian gần đây, một số cơ quan Nhà nước Trung ương và địa phương tại Việt Nam đã bước đầu ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) vào hoạt động quản lý hành chính và cung cấp dịch vụ công.

Một số ví dụ điển hình bao gồm trợ lý ảo trong quản lý hành chính công, phần mềm nhận dạng khuôn mặt trong an ninh trật tự, hay hệ thống giám sát giao thông thông minh. Tuy nhiên, việc ứng dụng này vẫn còn tồn tại nhiều khoảng trống cần được điều chỉnh để bảo đảm sự phát triển AI bền vững và hiệu quả trong khu vực công.

Phó Trưởng đại diện UNDP tại Việt Nam, ông Patrick Haverman phát biểu tại tọa đàm.

Phó Trưởng đại diện UNDP tại Việt Nam, ông Patrick Haverman phát biểu tại tọa đàm.

Phát biểu ý kiến tại tọa đàm, Phó Trưởng đại diện UNDP tại Việt Nam, ông Patrick Haverman cho biết: “Trí tuệ nhân tạo (AI) đang tạo nên những thay đổi trong cách chúng ta sống, làm việc và quản trị. AI cung cấp những cơ hội lớn nếu chúng ta ứng dụng một cách có trách nhiệm. Đánh giá toàn cảnh về AI (AILA) nhấn mạnh Việt Nam đang ở thời điểm then chốt. Với chiến lược đúng đắn, đầu tư hợp lý và bảo đảm về đạo đức, AI có thể trở thành một động lực mạnh mẽ thúc đẩy phát triển quốc gia và tiến bộ con người”.

Thảo luận tại tọa đàm, các chuyên gia nhấn mạnh vai trò quan trọng của dữ liệu và cơ sở hạ tầng trong việc ứng dụng hiệu quả AI. Thực tế hiện nay là, các cơ quan Nhà nước đang sở hữu lượng dữ liệu lớn nhưng phân tán và thiếu liên kết. Hạn chế này đã và đang gây nhiều trở ngại cho việc triển khai các giải pháp AI trên diện rộng.

Với thực tế đó, nhu cầu đặt ra là cần phải có chính sách thúc đẩy dữ liệu mở, đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến dữ liệu và đầu tư vào hạ tầng tính toán, trung tâm dữ liệu phục vụ AI.

Bên cạnh đó, những hạn chế về nguồn nhân lực và năng lực công nghệ cũng là một thách thức lớn. Số lượng chuyên gia về AI trong khu vực công có rất ít, dẫn tới sự phụ thuộc nặng nề lên khu vực tư nhân. Để ứng dụng AI hiệu quả, các cơ quan Nhà nước cần nâng cao năng lực của cán bộ công chức, tận dụng nguồn lực chuyên gia từ khu vực tư nhân và khuyến khích hợp tác giữa các bên liên quan trong phát triển AI.

Ngoài ra, khung chính sách và cơ chế chưa rõ ràng cũng là trở ngại lớn. Mặc dù đã có chiến lược phát triển AI, nhưng Việt Nam vẫn chưa có hệ thống pháp lý và quy chuẩn kỹ thuật hoàn thiện, đặc biệt trong quản lý dữ liệu và đạo đức AI.

Các chuyên gia cũng chỉ ra, thách thức về mặt tài chính cũng là vấn đề đáng quan tâm khi việc triển khai AI đòi hỏi nguồn lực lớn, trong khi ngân sách nhà nước còn hạn chế, cơ chế tài chính có những điểm chưa phù hợp, khiến cho việc đầu tư vào ứng dụng AI còn nhiều khó khăn.

Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách và Phát triển truyền thông (IPS), ông Nguyễn Quang Đồng khẳng định: Việc ứng dụng AI trong khu vực công ở Việt Nam có tiềm năng to lớn, đặc biệt ở các khía cạnh về hỗ trợ năng lực ra quyết định chính sách, nâng cao hiệu suất công việc và cải tiến cung ứng dịch vụ công.

“Vì vậy, mỗi cơ quan cần khai mở tiềm năng này bằng việc xác định rõ “bài toán" riêng của mình nhằm lựa chọn công nghệ AI phù hợp, đồng thời đánh giá mức độ sẵn sàng của nội bộ tổ chức để xây dựng lộ trình triển khai một cách có hiệu quả” - ông Nguyễn Quang Đồng nhấn mạnh.

Nghiên cứu cũng chỉ ra, Việt Nam cần ứng dụng AI một cách có chọn lọc, thiết thực và phù hợp với điều kiện thực tế cũng như nhu cầu cụ thể trong khu vực công, tránh chạy theo trào lưu công nghệ, để bảo đảm hiệu quả thực sự và lợi ích công cộng.

Đồng thời, đưa ra một số khuyến nghị, như: Nâng cao năng lực công nghệ số trong các cơ quan Chính phủ bằng cách đầu tư vào dữ liệu, cơ sở hạ tầng dữ liệu và hệ thống điện toán hiệu suất cao cho AI; đồng thời tăng cường đào tạo nguồn nhân lực cho vận hành và phát triển AI.

Thiết lập khuôn khổ pháp lý và cơ chế rõ ràng, bao gồm các quy định về trách nhiệm giải trình, chuẩn mực đạo đức, quản trị rủi ro và bảo vệ quyền riêng tư dữ liệu. Thúc đẩy quan hệ công-tư để khuyến khích các công ty công nghệ và viện nghiên cứu phát triển các sản phẩm và giải pháp AI cho khu vực công. Thúc đẩy dữ liệu mở và quản trị dữ liệu, tạo ra một hệ thống kết nối cao giữa cơ quan Chính phủ và đối tác. Tập trung vào đạo đức AI và quản lý rủi ro thông qua các hệ thống giám sát, đánh giá tác động, bảo đảm tính minh bạch, công bằng và bảo vệ quyền riêng tư...

Có thể bạn quan tâm

Các đại biểu tham dự hội thảo quốc tế do Trường đại học Intracom phối hợp các đơn vị tổ chức. (Ảnh: NHẬT MINH)

Ứng dụng khoa học và công nghệ vào cuộc sống - Từ lý luận đến thực tiễn

Ngày 28/1, tại Hà Nội, Trường đại học Intracom phối hợp Tạp chí Pháp luật và Phát triển, Viện khoa học và Bổ trợ Tư pháp (Liên hiệp Hội Người khuyết tật Việt Nam), Tạp chí Vận động, Nghiên cứu và Giáo dục (JARE)… tổ chức hội thảo quốc tế “Thúc đẩy ứng dụng khoa học và công nghệ vào cuộc sống - Từ lý luận đến thực tiễn”.

Người dân đến giải quyết thủ tục hành chính tại Trung tâm Phục vụ Hành chính công-Chi nhánh số 3-phường Đống Đa, Hà Nội. (Ảnh: nhandan.vn)

Khai thác hiệu quả cơ sở dữ liệu quốc gia

Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức có vai trò thống nhất và chuẩn hóa thông tin nhân sự trong toàn bộ hệ thống cơ quan nhà nước, từ đó có cái nhìn toàn diện về số lượng, chất lượng, cơ cấu đội ngũ nhằm đưa ra các quyết định quản lý và sử dụng nhân sự một cách khoa học, hợp lý.

Sinh viên Trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh thực hành nghiên cứu khoa học.

Đổi mới nghiên cứu liên ngành trong lĩnh vực khoa học xã hội

Trong thời đại ngày nay, nhiều vấn đề không chỉ là sự quan tâm của một quốc gia đơn lẻ, mà trở thành vấn đề chung của cả khu vực và thế giới. Theo đó, thúc đẩy nghiên cứu đa ngành là con đường tất yếu để giải quyết các vấn đề thực tiễn một cách toàn diện và hiệu quả.

100% cử tri có mặt tại Hội nghị nhất trí giới thiệu đồng chí Vũ Hải Quân, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Thường trực Bộ Khoa học và Công nghệ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI.

Bộ Khoa học và Công nghệ giới thiệu Thứ trưởng Thường trực Vũ Hải Quân ứng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI

150/150 cử tri có mặt tại hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác đối với người được dự kiến giới thiệu ứng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI của Bộ Khoa học và Công nghệ đã nhất trí giới thiệu Thứ trưởng Thường trực Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân ứng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI.

Đông đảo người dân tham dự triển lãm.

Đẩy mạnh ứng dụng khoa học tiên tiến để bảo tồn và phát triển dược liệu

Sáng 23/1, Viện Dược liệu phối hợp UBND phường Cửa Nam (Hà Nội) tổ chức Triển lãm Sách và Dược liệu Việt Nam với chủ đề “Kết nối tri thức vì sức khỏe cộng đồng” tại Phố Sách Hà Nội. Triển lãm nhằm chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng và 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam.

Người dân cần kiểm tra kỹ thông tin trước khi nộp tiền phạt qua mã QR để tránh bị lừa.

Nhận diện chiêu thức lừa đảo nộp phạt “nguội” qua Zalo

Lợi dụng việc mã QR được sử dụng rộng rãi trong các thủ tục hành chính, nhiều đối tượng xấu đã giả mạo thông báo “phạt nguội”, yêu cầu người dân chuyển tiền qua mã QR trên Zalo. Người dân cần nhận diện rõ quy trình nộp phạt hợp pháp và nâng cao cảnh giác để tránh bị lừa.

Cán bộ Sở Khoa học và Công nghệ Thái Nguyên khảo sát để cấp chỉ dẫn địa lý cho gạo nếp Khẩu Nua Lếch. (Ảnh: THU HIỀN)

Đổi mới sáng tạo ở Thái Nguyên

Tỉnh Thái Nguyên đã và đang khẳng định quyết tâm biến khoa học, công nghệ trở thành khâu đột phá để thúc đẩy kinh tế-xã hội. Với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, Thái Nguyên từng bước đẩy nhanh phát triển kinh tế số, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước tham quan các khu vực bên lề lễ khởi công nhà máy chế tạo chip bán dẫn Hòa Lạc.

Việt Nam sẽ bước vào nhóm số ít quốc gia sở hữu năng lực chế tạo chip bán dẫn

Chip bán dẫn hiện là “đòn bẩy” của những nước chi phối công nghệ sản xuất, sử dụng như công cụ chính trị để kiểm soát, kìm hãm kinh tế, công nghiệp an ninh quốc phòng. Việt Nam xác định bán dẫn là một trong những công nghệ chiến lược cần làm chủ, với mắt xích then chốt vừa được công bố: nhà máy sản xuất chip tại Hòa Lạc.

Ứng dụng khoa học, công nghệ là giải pháp hiệu quả để quản lý, bảo vệ tài nguyên biển.

Ứng dụng công nghệ trong quản lý các khu bảo tồn biển

Đến năm 2030, Việt Nam có 27 khu bảo tồn biển, trong đó có 16 khu bảo tồn biển cấp quốc gia, 11 cấp tỉnh với khoảng 20 hệ sinh thái, 11.000 loại thủy sản, khoảng 3.000 đảo. Đây là địa điểm lý tưởng để thực hiện nhiệm vụ lưu giữ, bảo tồn giống, nguồn gen, đa dạng sinh học; phát triển kinh tế, du lịch; phục vụ nghiên cứu khoa học…